Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
Cảnh đổ nát của Gate of All Nations Đầu cột tạc hình song ngưu
1. The Apadana, nơi triều đình họp 2. Bức thềm dẫn tới cung điện Apadana Palace, Persepolis
khoảng thế kỷ thứ 500 trước công nguyên
Caviars của Ba Tư
249
Đông gặp Tây
Ẩm thực: Tôi còn nhớ khi các chuyến bay Air France vừa đáp xuống phi trường Teheran tôi
liền bước thật lẹ tới cửa hàng bán thức ăn để mua caviar miễn thuế. Nhiều lúc phi hành
đoàn của Air France mua hết caviar trong tiệm trước khi khách đến kịp để mua. Xứ nầy còn
có những đặc sản được ưa chuộng trên thế giới nữa như hột hồ trăn, hạnh nhân, hồ đào,
khương hoàn, bạc hà, cam, và trái thạch lựu (pistachios, almonds, walnuts, saffron, mint,
oranges, and pomegranates).
Phải thú nhận tôi được làm quen với nhiểu món ăn rất đặc sắc của dân tộc nầy. Điều khiến
tôi ngạc nhiên là những hàng rong có mặt ở khắp nơi trong thành phố. Họ bán xà lách rưới
nước xốt pha giấm như thức ăn chơi. Tôi nghĩ dân tộc có nền văn hóa cao nầy quả thật nắm
vững được nguyên tắc ẩm thực có lợi cho sức khỏe. Nghệ thuật nấu nướng của Ba Tư và
Thổ Nhĩ Kỳ ảnh hưởng với nhau vì là hai quốc gia láng giềng và hai dân tộc nầy cũng giữ
mối liên lạc mật thiết với nhau.
Kabab nướng ăn với cơm pilaf của Ba Tư
1. Tô xúp nấu với hột trái lựu 2. Món cơm đơn giản Baghdadi Polo nấu với khương hoàng(saffron),
rau thìa là xanh, và đậu fava 3. Jeweled Rice (cơm trộn hạt và trái cây khô)
Dái trừu nướng Person Dolma (Lá nho gói thịt nhồi)
250
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
Thức uống cổ truyền nơi đây là sữa chua (yogurt) pha với nước hoặc có hơi ga, muối và rau
húng. Bữa ăn trưa hay tối thường có thêm một dĩa rau tươi gồm: rau quế, ngò, mùi,
fenugreek, hành, bạc hà, củ ra đi, tarragon thơm, và cải xoong Ba Tư. (basil, cilantro,
coriander, fenugreek, green onion, mint, radish, savory tarragon, and Persian watercress)
Họ còn ăn thêm loại bánh mì dẹp, phó mát tươi màu trắng, hồ đào, khoanh dưa leo gọt vỏ,
khoanh cà chua, sữa chua và nước chanh. Khi dùng điểm tâm họ uống trà. Món ăn được
nhiều người ưa thích là cơm rưới với thịt hầm.
ẤN ĐỘ
Bombay: Cửa ngõ của Ấn Độ
Trong chuyến bay Air India từ Cairo
tới Bombay tôi trải qua một kinh
nghiêm khá vui. Tôi nói chuyện với
viên phi công chính về việc tôi tốt
nghiệp MIT với bằng mechanical
engineer nên ưa để ý tới máy bay
phản lực. Có lẽ nhờ thấy chiếc nhẫn
ra trường MIT tôi đeo trên ngón tay
nên ông tin lời tôi. Ông ta rất dễ
thương và đưa tôi vào phòng lái để
chỉ cho coi một vài điểm đặc biệt
của chiếc máy bay Viscount bay
bằng động cơ turbin-cánh quạt
(turbo-prop). Chắc việc nầy không
thể nào xảy ra được vào thời buổi
có khủng bố Hồi Giáo như ngày
nay! Vào năm 1958 các hành khách
đi máy bay được trọng vọng hơn
bây giờ.
1. Màu sắc đường phố của Bombay 2. Khách sạn Taj cũ 3. Khách sạn Taj-Mahal-palace-hotel mới
251
Đông gặp Tây
1. Chợ Crawford Market cũ ở Bombay 2. Tháp đồng hồ 3. Nhà thờ Mount Mary
Cũng như người Pháp ở Việt Nam, dân Anh xây cất nhiều đền đài đồ sộ, nguy nga trong Đế
Quốc của họ nhằm mục đích phô trương. Một khi ra khỏi các trung tâm đền đài và đi vào
những khu dân cư thì mọi sự lại khác hẳn. Khắp nơi trong thành phố, tôi nhận ra nguy cơ
do các bầy khỉ gây ra. Chúng phá hoại cây cối, đâm vào xe cộ gây nhiều thiệt hại cho người
và tài sản. Bombay có tới 30.000 con khỉ bất trị. Chúng ăn cắp đồ, tấn công người ta nhiều
khi gây ra tử vong. Tôi thật bị cú sốc trước những cảnh chưa hề chứng kiến lần nào trong
đời mình. Bò và khỉ là hai con vật được coi là linh thiêng đưa tới hậu quả tệ hại ngoài sức
tưởng tượng của tôi. Do vậy, có một số người nghĩ ra nghề mới cho thuê loại khỉ langurs để
đối phó với vấn nạn đó. Langur là loại khỉ rất hung dữ. Chúng gây kinh hoàng cho 30.000
con khỉ mặt đỏ nhỏ con hơn mỗi khi chúng gằn giọng, nhe răng để lộ những chiếc răng
nanh dài tới gần 8 cm sáng chói. Nhờ vậy người dân đỡ bị quấy phá nhiều. Trong thế kỷ 21
nầy, chính phủ Ấn Độ vẫn trả tiền cho chủ nhân những con langurs để bảo vệ nhân viên,
hồ sơ và thức ăn trong các công sở khỏi bị các con khỉ mặt đỏ quấy rầy.
1. Con langur ngồi trên xe vận tải của thành phố New Delhi trên đường tới sân vận động để săn
đuổi những con khỉ mặt đỏ đang quấy phá nơi đó. 2. Con Langur bị cột dây xích đứng gần chủ nó
trước tòa nhà Commonwealth. 3. Langur đi theo người giữ nó nơi sân trước của dinh tổng thống Ấn
Độ Rashtrapati Bhavan ở New Delhi
252
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
1. Một công nhân mặc áo gỉả dạng làm khỉ đột để đuổi khỉ trước toà nhà Quốc hội.
2. Khỉ đang băng qua đường trước dinh Tổng Thống. 3. Khỉ đùa giỡn trên xa lộ
Năm 2007, phó tỉnh trưởng của New Delhi là ông Surinder Singh Bajwa té từ sân thượng
nhà ông xuống đất và qua đời vì bị mấy con khỉ tấn công. Trong năm 2015, tôi có xem trên
truyền hình cảnh bầy khỉ chiếm cứ phòng máy computer của Bộ Quốc Phòng ở New Delhi
khiến chánh phủ phải trả tiền cho người ta đưa mấy con langurs đến đuổi chúng đi. Tình
trạng tôi thấy trong năm 1958 gây ra bởi tôn giáo vẫn còn tồn tại y nguyên như vậy cho tới
năm 2016. Những con bò cũng gây ra khó khăn tương tự cho nước Ấn Độ hiện đại. Sát hại
hay buôn lậu một con bò cũng mắc tội như hãm hiếp một bé gái người Hindu.
Một phụ nữ Ấn bôi bột sữa chua lên trán con bò trong buổi lễ Ấn Độ Giáo để ban phước cho con vật
Trung tâm thành phố: những con bò thưòng hay gây cảnh nghẽn đường
Người làm bếp của gia đình tôi là “Thiếm Tư” trước đó có làm cho một người Ấn giàu có
trong tỉnh. Nhờ vậy, lúc nhỏ, tôi được thưởng thức nhiều món cà ri ngon. Khi đặt chân tới
Bombay tôi nghĩ đây là đúng lúc để tôi nếm thử cà ri Ấn thứ thiệt. Nhận xét đầu tiên của
253
Đông gặp Tây
tôi là lương nhân công ở đất nước nầy thật rẻ. Tại nhà hàng loại trung bình tôi tới ăn có đến
11 nhân viên mặc đồng phục, phục vụ cho tôi. Đương nhiên là tôi kêu món cà ri thật cay
của người bản xứ. Tôi lại bị cú sốc. Ngay cả với khẩu vị của người Ấn, nhà hàng cũng đem
ra một chén nước rất đắng để uống kèm đặng tránh cho khỏi bị cháy miệng khi ăn!
1. Dĩa cà ri dê vindaloo, cơm basmati và nước xốt kem 2. Gà Tandoori
Lò nướng bằng đất kiểu Tandoory Cà ri tôm kiểu Calcutta
Cà ri trừu kiểu Calcutta Cà ri dê thơm ngo
254
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
New Delhi
Chặng kế của tôi là dừng chân ở New Delhi. Tại đây, tôi may mắn gặp một vài học sinh
người Ấn trẻ tuổi tinh nguyện làm hướng dẫn viên cho tôi.
Thành lính màu đỏ/ Red Fort
Năm 1638, Shahjahan dời đô từ Agra tới Delhi và đặt nền móng để xây Shahjahanabad,
thành phố thứ bảy ở Delhi được bao bọc xung quanh bằng bức tường gạch vụn có pháo
đài, cổng ra vào, và cửa nhỏ đặt theo khoảng cách đều đặn. Thành Lính Màu Đỏ/ Red Fort
là nơi cư ngụ của Hoàng Đế Mughal của Ấn Độ trong gần 200 năm, cho tới năm 1857. Ngày
nay, nó nằm ngay tại trung tâm của Delhi và là địa điểm tập trung một số viện bảo tàng.
1. Tháp chiến thắng cao năm từng Qutub Minar, 1369, còn vươn cao với thời gian
2. Cột đèn trước kia nằm trên đỉnh tháp nay được đặt trong ngôi vườn
3. Iron Pillar với 1.600 tuổi đời ở Delhi
255
Đông gặp Tây
India Gate là
tượng đài được
xây dựng để
tưởng nhớ
những chiến sĩ
Ấn đã hy sinh
trong thời Đệ
Nhất Thế Chiến.
India Gate: Khải Hoàn Môn 1920
Ngôi mộ của
Hoàng Đế Mughal
tên là Humayun ở
Delhi 1569, do
một kiến trúc sư
người Ba Tư vẽ
kiểu còn gọi là
“Đền Taj Mahal
thứ hai» đáng
đến viếng thăm.
Jantar Mantar – Được Maharaja Jai Singh II của Jaipur cho xây vào năm 1724, khu Jantar
Mantar bao gồm 13 cấu trúc về thiên văn học. Ngày nay, khu nầy là một trong những địa
điểm du lịch được viếng thăm nhiều nhứt ở Delhi vì loại kiến trúc độc đáo và ý nghĩa lịch
sử.
Kỳ công về khoa học Jantar Mantar
256
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
Jama Masjid ở Delhi là một trong những đền thờ Hồi Giáo đồ sộ nhứt của Ấn Độ, 1656
Chandni Chowk, khu bán thức ăn vừa ngon vừa rẻ
257
Đông gặp Tây
Nấu naan trong lò nướng loại tandoori.
Cảnh phố đông người ở New Delhi Naan là bánh mì dẹp được nướng trong lò
kiểu tandoori xây bằng đất. Tuy nơi đó dơ
bẩn nhưng thức ăn quả thật là ngon miệng
và giá rẻ.
Tôi gặp nhiều kẻ ăn xin trong thành phố vì người dân phải đối diện với cảnh nghèo khó triền
miên. Tôi không thể dằn lòng không đưa tiền giúp một em bé cụt chân ngồi bên rãnh nước.
Phần đông du khách đến thăm New Delhi đều lấy chuyến xe lửa mất 3 tiếng đồng hồ để
đến Agra thăm ngôi đền lừng danh và tuyệt đẹp: Taj Mahal.
Taj Mahal.
258
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
Đền Taj Mahal là lăng tẩm nằm ở Agra, được hoàng đế Mughal là Shah Jahan xây để tưởng
niệm bà vợ ông ái mộ nhất tên là Mumtaz Mahal vào năm 1632. Đây là đỉnh cao của nghệ
thuật kiến trúc Hồi Giáo ở Ấn Độ đồng thời cũng là một trong những di tích thế giới của
UNESCO được người ta chiêm ngưỡng nhất.
Vẻ đẹp tuyệt diệu phần bên trong của Taj Mahal
Calcutta
Trước khi đến Calcutta, tôi được bạn bè cảnh cáo đây là một trong những thành phố lớn
nghèo nàn nhất của Ấn Độ. Đúng vậy, lần đầu tiên trong đời, tôi chứng kiến cảnh bốn người
đang nằm thoi thóp chờ chết bên lề đường vì đói. Có quá nhiều điều khiến người ta phải
trăn trở khi sống ở đất nước nầy. Tôi xin các bạn sửa soạn tinh thần để tôi kể một truyện
hãi hùng và khó tưởng tượng nổi đối với người du khách: tôi thấy tận mắt một phụ nữ còn
trẻ bị hỏa thiêu. Sau đó mấy con chó lục lọi trong đống tro tàn rồi chạy đi trong mõm còn
gặm một vài miếng thịt người.
Thực tế nghèo đói, bất công phũ phàng của xứ sở nầy cộng với lòng cuồng tín về tôn giáo
đã tạo ra trạng thái đời sống kinh hoàng hàng ngày. Tôi có được gặp những nhà tu hành/
sadhus – những người đã từ bỏ cuộc sống trần tục, dốc mình vào việc khổ tu. Tôi còn được
259
Đông gặp Tây
thấy những ngôi nhà lỗ chỗ vết đạn do lính thuộc địa Anh bắn khi thảm sát người Sikhs. Du
khách tới đây sẽ bị choáng ngợp bới rác rến, những dòng sông hôi hám vì nước cống và
bầu không khí bị nhuộm vàng vì bụi bặm. Tuy ở Calcutta có một trung tâm thương mại,
nhưng cũng còn đầy dẫy những khu ổ chuột.
Những khu ổ chuột
Công nhân nằm ngủ trưa bên lề đường Đường sá bị ô nhiễm
Sông ngòi bị ô nhiễm Các nhà máy ở Calcutta bị khốn đốn
260 vì nạn cúp điện và bầy khỉ
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
Tôi không sao tin nổi khi nghe nói tại Calcutta có một ngôi đền thờ cúng loài chuột. Thoạt
đầu tôi chỉ nghĩ có khỉ và bò mới được thờ thôì.
Đền thờ nơi giống chuột được đối đãi tử tế và được cho uống một chén sữa mỗi ngày
Một cửa ra vào được chạm trổ hỉnh chuột
Đền thờ Shri Karni Mata không giống bất cứ đền thờ Ấn Độ Giáo nào trên hoàn cầu cả. Đây
là nơi ngự trị của loài chuột.
Đài kỷ niệm Victoria Memorial Đền thờ Dakshineswar Kali 1847
Thư viện quốc gia Writer's Building
261
Đông gặp Tây
Mặt tiền của tòa thượng thẩm Calcutta Tòa Thị Chánh
Người Anh đã để lại tại nhiều thành phố các công trình xây cất nguy nga để nói lên uy quyền
của Đế Quốc Anh. Người Pháp cũng làm như vậy tại ba xứ Đông Dương.
Trong số 24 quốc gia mà tôi đã thăm viếng trong chuyến du hành, nước Ấn Độ với những
thành phố như Bombay, Calcutta, và New Delhi, đã để lại trong tôi nhiều ngỡ ngàng nhất.
Dưới mắt tôi, tình trạng đời sống ở Calcutta thật đáng ghê sợ, sự giàu sang cực kỳ ở bên
cạnh sự bần cùng cũng cực kỳ. Thành phố có một giai cấp chuyên gia thành đạt, giàu có
trong khi cả triệu dân chúng sống trong cảnh nghèo khó tột cùng.
Nhiều khó khăn ở Ấn Độ nẩy sinh từ dân số khổng lồ của đất nước nầy: 433.000.000 trong
năm 1958 tăng tới 1.330.000.000 trong năm 2016. Khi nói tới nước Ấn Độ hiện đại, không
thể nào không đề cập tới yếu tố tôn giáo và tệ nạn kỳ thị giai cấp. Trong quá khứ, ta có thể
nghĩ rằng vấn đề ô nhiễm không được đặt ra vì rác rến gồm những đồ vật như vỏ chuối,
thân mía ép, gỗ bào, hay rau cỏ dư thừa,... Những đồ vật đó thường được ném ra ngoài
đường, phần lớn được các con bò thiêng ăn (đây cũng là lý do chính chúng được cho tự do
đi lại trên đường phố). Phần rác còn lại được giai cấp tiện dân/untouchable nhặt lên xe kéo
đem đổ xuống sông, ao hay suối lạch gần nhất. Thói quen nầy gần như không thay đổi mấy
ngoại trừ sự việc là ngày nay đồ rác rến có nhiều thứ làm bằng nhựa plastic.
Dù sao đi nữa, nếu bàn tới triển vọng Ấn Độ trở thành một quốc gia kỹ nghệ hoá tân tiến
như Hoa Kỳ hay Âu Châu, tôi có thể khẳng định là không thể có việc đó. Những trở ngại
nước nầy gặp phải trên đà phát triển quá to tát và phức tạp khó vượt qua. Bất cứ du khách
nào ngồi bên bờ sông Ganges đủ lâu sẽ thấy cảnh dân địa phương dùng dòng sông để tắm
và làm vệ sinh. Ngoài ra, còn có cả xác người thiêu không hết và xác súc vật chương phình
nổi lều bều lũ lượt trôi theo dòng nước bị vẩn đục vì bùn. Nạn nghèo ở Ấn Độ xuất hiện
dưới nhiều hình thức: nghèo về năng lượng, nghèo về môi trường, nghèo về kiến thức, và
trên hết đối với một nước dân chủ: nghèo về chính trị.
262
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
RANGOON, MIẾN ĐIỆN
Xứ của nhiều đỉnh chùa vàng
Từ Ấn Độ tôi bay qua Rangoon, Miến Điện. Sau nầy, vào năm 1989, nhà cầm quyền quân
phiệt đổi tên kinh đô thành Yangon và tên nước thành Myanmar. Dưới thời bị người Anh cai
trị, kinh thành Rangoon có phần giống như Sài Gòn. Khách sạn tôi trú ngụ bên đó tương tự
như khách sạn Majestic ở Sài Gòn: những quạt trần có bốn cánh to được dùng như là “máy
điều hòa không khí kiểu cổ.”
Hầu như bất cứ đứng đâu trong Rangoon tôi vẫn thấy được ngôi chùa Shwedagon vừa cao
vừa uy nghi được xây cách đây 2.500 năm. Đối với người Miến Điện, đây là ngôi chùa Phật
Giáo linh thiêng và vĩ đại nhứt của họ. Tại đó có giữ mớ tóc của Đức Phật và các thánh vật.
263
Đông gặp Tây
Khu phố cổ ở Rangoon
Một con đường ở Rangoon Nhà sư sống trong thành phố
Những chú tiểu đi khất thực trong thành phố vào mỗi buổi sáng.
Ty bưu điện tại trung tâm thành phố
264
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
Điều làm tôi ngạc nhiên nhiều là cảnh phụ nữ và thanh thiếu niên Miến hút xi gà nội địa và
con cái lấy theo họ mẹ theo chế độ mẫu hệ. Tại những buổi hội họp hay tiệc tùng các phụ
nữ Miến tụ tập thành từng nhóm nhỏ ở cùng một phía trong phòng để các ông tự do lập
nhóm riêng của họ. Trên đường phố, thường thì các ông đi trước còn các bà xách đồ theo
sau vài bước. Đó là chuyện của năm 1958. Tất nhiên trong năm 2016 nầy, nhiều điều đã
đổi thay nhờ vào bà Aung San Suu Kyi. Bà
là một chánh trị gia Miến và làm chủ tịch
đảng National League for Democracy
(NLD). Đảng nầy đã thắng lớn trong cuộc
bầu cử mới đây bên Miến Điện.
Trong thập niên 1950, người ta biết đến
đất nước nầy nhờ có ông U Thant làm đại
sứ Miến Điện tại Liên Hiệp Quốc. Sau đó,
ông trở thành Tổng Thư Ký thứ ba của tổ
chức nầy.
U Thant, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc
Về ẩm thực, tôi đi từ ngạc nhiên này tới bỡ ngỡ khác vì nhiều món ăn ở đây gần như giống
hệt bên Thái Lan hay Trung Hoa.
Cà ri cua Cá mú đỏ hấp Tôm chiên tỏi
Điểm tâm với Điểm Sấm Chợ bán rau cải
265
Đông gặp Tây
BANGKOK, THÁI LAN
Cung Điện Ananta Samakhom Throne Hall được vua Chulalongkorn cho xây
theo cảm hứng của ông sau chuyến viếng thăm Âu Châu
Grand Palace
266
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
Pan Am đã giữ cho tôi
một phòng nhìn xuống
dòng sông Chao Phraya
tại khách sạn Oriental
Hotel. Trước đây Jim
Thompson, người Mỹ
sáng lập viên của Thai
Silk nổi tiếng về buôn
bán lụa Thái, là một
trong những chủ nhân
và khách hàng sống
trong khách sạn nầy.
Khách sạn Oriental
Căn nhà của Jim Thompson Lụa Thái lừng danh thế giới
Bangkok 1958
267
Đông gặp Tây
Món ngon của Thái - cánh gà chiên dòn Cà ri gà loại đỏ Tôm cuộn bacon chiên dòn
Phố Tàu ở Bangkok là nơi lý tưởng để nếm thử các món ăn hàng rong và còn có thể là trung
tâm bán các món hàng rong của Bangkok nữa.
Giò và chân heo hầm Nước trái cây và smoothies tươi
Chợ nổi
Thành phố Bangkok phát triển mạnh từ thập niên 1950 tới thập niên 1980. Ngày nay, nó
đã trở thành thủ đô chính trị, kinh tế, giáo dục, thông tin và xã hội của một nước Thái Lan
tân tiến.
268
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
PHNOM PENH, CAMBODIA
Chặng dừng kế tiếp và cuối cùng của
tôi trước khi về tới Sài Gòn là Nam
Vang. Thay vì ở đây lâu hơn để đi thăm
đền Angkor Wat nổi tiếng thế giới, tôi
quyết định bay thẳng về nhà vì nóng
lòng muốn gặp lại ba má và anh chị
tôi… Dù sao Cao Miên cũng chỉ cách Sài
Gòn một tiếng đồng hồ đường bay và
chắc tôi sẽ có dịp đi thăm xứ nầy trong
tương lai gần thôi. Thực tế cho thấy tôi
không còn dịp nào để thăm Angkor
Wat nữa vì chiến tranh Đông
Dương kéo dài không ngưng cho tới
ngày 30 tháng 4, 1975! Trong lúc chờ
Angkor Wat tiếp tế xăng ở phi trường quốc tế
Pochentong, lần đầu tiên trong đời, tôi
được dịp thấy chiếc máy bay thương mại Tupolev của Nga do Air Cambodia làm chủ. Nhìn
theo con mắt của một kỹ sư mechanical engineer, tôi thấy nó cục mịch với những đặc tính
của một máy bay chở hàng chớ không phải để chở hành khách.
Sau khi chiếc DC-4 của tôi cất cánh
trực chỉ Sài Gòn, tôi tò mò theo dõi
mỗi chặng đường đưa tôi trở về
nơi chôn nhau cắt rún của mình
sau bảy năm trời xa cách.
Hồ Tonle Sap khổng lồ để lại trong
tôi một ấn tượng sâu đậm. Người
Việt Nam còn gọi Tonle Sap là
“Biển Hồ”, một cái tên rất hợp với
sự kiện nó là hồ nước ngọt lớn
nhứt Đông Nam Á. Hồ nầy là
nguồn cung cấp quan trọng thức
ăn cho Cao Miên và Việt Nam. Khu Biển Hồ/Tonle Sap lake
rừng nằm giữa Nam Vang và Sài
Gòn rậm đến đỗi tôi chỉ thấy được một màu xanh đậm của một khu rừng miền nhiệt đới.
Chỉ nửa tiếng sau, chiếc máy bay khởi sự đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Cảm tạ
Thượng Đế đã ban cho tôi một cuộc tái ngộ với gia đình vui tươi và cảm động tôi từng mơ
ước bấy lâu nay.
269
Đông gặp Tây
Kết Luận
Cảm tạ Thượng Đế đã cho tôi có may mắn được viếng thăm khoảng hơn hai mươi quốc gia
trong chuyến du lịch vòng quanh thế giới trong vòng 90 ngày ở vào tuổi 27. Tôi đã khám
phá học hỏi được nhiều điều từ văn hóa đến chánh trị, từ cách ăn uống đến cách ứng xử
khi đi cắm trại hay du hành bằng đường bộ qua 15.000 cây số bên Tây Âu cũng như cuộc
du lịch dài 15.000 cây số bằng máy bay PAN AM từ Ba Lê về Sài Gòn đúng như câu tục ngữ:
“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.”
Trong những nước tôi đi qua, Ấn Độ là nơi tôi gặp nhiều tệ nạn, nghèo đói và phân cấp xã
hội cùng cực nhứt. Trong sự phân chia các khối kinh tế, Ấn Độ nằm trong nhóm các quốc
gia đang phát triển BRICS (Brazil, Russia, India, China, South Africa) Ở thế kỷ 21, dư luận
thế giới cho rằng Trung Quốc và Ấn Độ sẽ trổi dậy để trở thành hai siêu cường. Trung Quốc
có thể được còn trường hợp của Ấn Độ tôi nhận thấy có nhiều điều cần phải xét lại. Nếu ai
nói với tôi rằng Ấn Độ sẽ trở thành một nước tân tiến, kỹ nghệ hoá như Hoa Kỳ hay Âu
Châu, tôi sẽ trả lời ngay là không thể nào được, không bao giờ xảy ra cả. Những thử thách,
trở ngại xứ nầy phải đương đầu quả là lớn lao. Không những chỉ trên phương diện kinh tế
thôi đâu. Tôi có thăm xứ nầy vào năm 1958 và tôi nghĩ, từ đó đến nay, trong lãnh vực tôn
giáo không có gì thay đổi nhiều… Nhìn qua lăng kính của du khách bình thường đi nữa, điều
dễ thấy và căn bản hơn cả là sự nghèo khó tột cùng của đời sống người dân. Dù muốn tiểu
thuyết hóa sự nghèo khó đó đi chăng nữa, cũng không thể chối bỏ sự thật phũ phàng mà
người dân bắt buộc phải đương đầu một cách tuyệt vọng. Đất nưóc Ấn Độ bị phân hóa về
mọi khía cạnh: chủng tộc, tôn giáo, triết lý, ngôn ngữ, văn hóa, chính trị, kinh kế-xã hội,
giai cấp và hằng hà sa số các tác động giữa các yếu tố đó với nhau.
Điều làm tôi ngỡ ngàng là tính chất đa dạng và phức tạp của các vấn đề nan giải xứ nầy
đang gặp phải. Chính đây cũng là nguyên nhân đưa tới sự suy thoái trên mặt xã hội và môi
sinh. Người ăn xin có mặt mọi nơi kể cả tại những thành phố được coi là phồn thịnh. Phần
đông người ăn xin lại là những trẻ em đói rách hay người lớn tuổi bị phong cùi. Dân chúng
Ấn Độ sống trong cảnh hỗn độn. Họ chen chúc trên đường phố. Nhạc phát ra inh ỏi từ các
đền thờ, cửa tiệm. Áp phích và bảng hiệu mọc ra khắp nơi. Rác rến và mùi hôi hám lan mọi
hướng. Xe cộ lưu thông bạt mạng. Một người đàn ông ăn mặc rách rưới ngồi giữa bụi bặm
chìa một bàn tay cụt ngón ra xin tiền bố thí, một người phụ nữ còn trẻ thoi thóp thở nằm
giữa đường đi trong khi đứa con nhỏ ngồi bên nhìn người mẹ với cặp mắt sưng húp, những
xe tải hiệu Tata phóng nhanh qua chỉ cách những người đó chừng vài phân tây… là những
cảnh động lòng nhưng lại gặp thường ngày.
Với kinh nghiệm cắm trại trên 30 năm tại các tiểu bang miền Tây Hoa Kỳ sau nầy, tôi nhận
thấy có nhiều khác biệt với bên Âu Châu. Trong chuyến đi cắm trại dài 15.000 cây số, tôi ít
gặp người đi cắm trại thuộc giới trung lưu và xe campers có đầy đủ tiện nghi như người Bắc
Mỹ. Điều nầy làm tôi ngạc nhiên nhưng có lẽ vào năm 1958 lợi tức gia đình bên Châu Âu
thấp hơn bên Hoa Kỳ chăng? Chánh phủ liên bang hay địa phương Mỹ lập ra các đất cắm
trại không nhằm mục đích kiếm lời. Đa số những nơi nầy chia ra thành những khu cắm trại
270
Ch.9 - Nữu Ước-Sài Gòn Trong 90 Ngày Với Pan Am
cá nhân có hàng cây bao quanh để bảo vệ sự riêng tư của người sử dụng. Nhiều đất cắm
trại có nước uống tinh khiết, nhà cầu có chỗ dội nước và nhà tắm có vòi sen nước nóng. Tại
Gia Nã Đại, nhiều khi nhân viên kiểm lâm còn cung cấp củi khô miễn phí cho người cắm
trại. Vào năm 1958, các siêu xa lộ ở miền Tây không trả lệ phí và giá xăng còn thấp. Tôi
gặp nhiều người về hưu lái những xe campers loại sang có TV, máy điều hòa không khí,
Jacuzzi, bar rượu, phòng ăn, nhà cầu có nơi dội nước và phòng tắm có vòi sen. Họ đi cắm
trại ngoài trời như vậy trong nhiều tháng mỗi năm.
Tại Châu Âu, tôi nhận xét thấy đa số các đất cắm trại nhỏ và ít tiện nghi hơn. Từ vùng
Scandinavia, tôi học hỏi được nhiều điều giúp tôi xây nhà của tôi ở Sài Gòn với những đường
nét hiện đại, tiện ích về kiến trúc, trang hoàng nhà cửa từ trong nhà đến cảnh quan ngoài
vườn. Tôi để ý thấy nhiều khác biệt giữa hai nhóm dân Anglo-Saxons-Scandinavia và người
gốc Latin bên Âu Châu (Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý). Nhà cửa ở miền bắc lục địa có
nhiều tiện nghi và sạch sẽ hơn. Hố xa cách giữa người giàu và nghèo bên Âu Châu tương
đối dễ chịu hơn là tình trạng nghèo khổ và đáng ghê sợ của một vài nơi trong miền Đông
Nam Á. Về phương diện kiến trúc, nhà được xây theo kiểu đơn giản và nhẹ nhàng. Do đó,
những toà đô chánh ở Oslo, Stockholm, và Helsinki tiêu biểu cho lối xây đơn giản khác với
kiểu cầu kỳ hơn của miền Nam Âu Châu. Ngược lại, tôi thấy nhiều điểm tương đồng lý thú
và bất ngờ giữa kiểu kiến trúc và thiết kế của người Nhựt và người Scandinavian.
Lối sống của dân Anglo-Saxon lạnh nhạt và trầm lặng hơn của những người Âu Châu khác.
Người Âu Châu gốc Latin sống năng động hơn, thức ăn của họ nhiều gia vị hơn và họ bỏ
nhiều thì giờ để ăn uống hơn. Khi ở gần họ, bạn sẽ thấy họ diễn tả bằng tay chân nhiều
hơn.
Cuộc hành trình từ Nữu Ước về quê hương đã diễn ra cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng tôi
vẫn thường nhớ tới. Trong bảy năm du học tại Mỹ tôi đã học hỏi được nhiều điều tốt đẹp
nhưng cuộc du ngoạn bên Tây Âu và chuyến bay vòng quanh thế giới đã thực sự mở rộng
tầm nhìn tôi hơn. Tôi đã học hỏi được thật nhiều nhờ những khám phá từ những vùng đất
nước xa lạ, làm quen đủ loại người với văn hóa, thức ăn, và cách sống khác nhau. Nhờ
những hiểu biết ấy, tôi đã thích nghi và hội nhập vào “hợp chủng quốc” Mỹ và nghiệm ra
rằng Đông và Tây khác nhau nhưng vẫn có nhiều điểm gặp nhau.
Phải nói rằng trong thập niên 1950 rất ít người Việt Nam 27 tuổi có cơ hội sống bảy năm
liền bên Mỹ rồi sau đó có cơ may đi du lịch Tây Âu và Châu Á trong cuộc hành trình 90 ngày
vòng quanh thế giới trước khi hồi hương. Cảm tạ Thượng Đế đã ban cho tôi cái diễm phúc
được tìm hiểu thế giới vào lúc mới bước vào cuộc đời sự nghiệp của mình và chính những
bài học tôi thâu nhận được lúc còn trẻ đã giúp đỡ tôi suốt hơn nửa thế kỷ về sau.
271
Đông gặp Tây
272
Chương 10
Hồi Hương
Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
1958-1975: Cuộc đời của tôi ở Sài Gòn
Nhịp sống ở Sài Gòn chậm rãi hơn ở Nữu Ước nhiều!
Con đường Sài Gòn có cây điệp bên lề Nữu Ước luôn luôn bận rộn
Sau bảy năm sống ở Hoa Kỳ, tôi vô cùng vui mừng sung sướng khi được đoàn tụ với gia
đình ở Sài Gòn. Phi trường Tân Sơn Nhứt không thay đổi nhiều trong suốt thời gian tôi xa
quê hương. Nhà ga sân bay nhỏ bé tới mức ngay sau khi bước ra khỏi máy bay tôi đã nhận
ra được thân nhân đại gia đình vẫy khăn tay chào đón tôi từ sân thượng của nhà ga.
Phi trường Tân Sơn Nhứt Trung tâm thành phố với Continental Hotel
Một nỗi hân hoan khó quên xâm chiếm tâm hồn khi tôi được gặp lại những người thân
thương. Trên đường về nhà ở Sài Gòn, tôi nhận thấy vẫn những xe thổ mộ cũ kỹ, hàng
đoàn xe gắn máy, xe taxi con cóc hiệu Renault 4-CV màu ngà và xanh lam di chuyển thong
thả trên các con đường với những hàng cây khoe màu sặc sỡ như thuở nào. (Xin xem hình).
Đông gặp Tây
Xe thồ mộ cùng với xe máy và taxi
Xe gắn máy - một phương tiện di chuyển phổ biến
Phương tiện chuyên chở đủ màu sắc đặc thù của Sài Gòn, hoàn toàn khác với Nữu Ước
274
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Toà nhà Quốc Hội nằm giữa tấm hình và hotel Caravelle Dọc theo những đường phố xe cộ
qua lại, tôi nhận thấy những cây
cổ thụ không có vẻ tươi tắn lắm
dưới bầu trời màu xanh lam vì ô
nhiễm. Khác hẳn với Nữu Ước,
Sài Gòn không có hệ thống
“subway” ngầm nên các cư dân ở
đây di chuyển chậm chạp hơn.
Không thấy cảnh cao điểm lưu
thông như ở Manhattan. Tuy
nhiên, người ta bóp còi quá nhiều
gây nên nạn ô nhiễm tiếng động.
Thêm cảnh xe thổ mộ chen vai sát cánh với xe buýt và taxi
Bữa tối ngày tôi về nước, ba tôi đưa tôi
đi dùng cơm thân mật tại nhà hàng
lừng danh trong khách sạn Continental
Hotel trên đường Tự Do. Với những
nhà hàng Pháp nổi tiếng nhứt Đông
Nam Á, Sài Gòn quả xứng đáng với
danh thơm là Hòn Ngọc Viễn Đông.
Sau một thời gian xa cách dài, tối đó
ba tôi và tôi đã cùng nhau dùng một
bữa ăn đặc biệt, cảm động và đáng ghi Nào là xe xích lô máy mui trần hay có mui, xe Jeep, và
xe taxi con cóc Renault 4-CV
nhớ. Để ăn mừng dịp đặc biệt này, ba
tôi đã đi từ Mỹ tho lên Sài Gòn cách đó
70 cây số. Tôi thật vui và cảm động được gặp lại người cha cởi mở của mình. Trong buổi
hội ngộ đáng ghi nhớ này, ba tôi đã tạo cho tôi một bất ngờ thú vị khi đưa tôi xem tờ nguyệt
san “Gia Đình” do cơ quan USIS (United States Information Service) phát hành ở Sài Gòn.
Tờ báo dành cả một trang đăng một bài có đầy đủ hình ảnh về những thành quả của tôi
như đứng đầu lớp khi ra trường về môn Mechanical Engineering ở Lafayette College trong
năm 1956. (Xin xem hình bên dưới). Bài báo như sau:
275
Đông gặp Tây
276
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Nhờ lòng tốt của anh Năm Khương Hữu Cân, cuộc sống ở Sài Gòn của tôi sau ngày về nước
được thực sự thoải mái. Anh Năm cho tôi cư ngụ tại “villa” xinh đẹp của anh số 83 đường
Ngô Thời Nhiệm trong khu cư xá yên tĩnh và đẹp đẽ của Quận Ba. Nơi đây, tôi sống hai năm
cùng anh họ Khương Hữu Hội, dược sĩ, để chờ xây xong nhà mới tại Gia Định. Cả hai chúng
tôi đều độc thân và cùng học với nhau ở Lycée Yersin Đà Lạt từ năm 1948 tới 1951. Anh
theo ban Triết còn tôi theo ban Toán.
Các gia đình trung lưu thời đó thường có mướn đầu bếp riêng. Chúng tôi may mắn tìm được
một ông bếp trước kia làm cho công ty hàng hải “Messageries Maritimes” có tàu chạy đường
Sài Gòn - Marseille. Nhờ có ông bếp, chúng tôi được thưởng thức các món ăn Pháp ngon
gần như mỗi ngày. Thật quả là cả một thay đổi lớn so với những bữa ăn khiêm tốn và vội
vàng tại trường đại học hay ở thành phố Nữu Ước trước đây.
Anh Năm tôi rất hài lòng và hãnh diện về thành quả học vấn của tôi ở MIT. Để tưởng thưởng,
anh cho tôi dùng chiếc xe Peugeot 403 mới của anh màu agave xanh lá cây mang bảng số
NBR-081. Sở dĩ tôi nhắc lại điều này vì người Việt thích chọn con số 9 (0+8+1) vì tin là con
số hên.
Tôi bắt đầu đi làm ở ESSO trên đại lộ Thống Nhứt cách nhà có năm phút. Một lần nữa tôi
lại thấy sự khác biệt rõ rệt giữa Đông và Tây. Lúc này, tôi chỉ mất vài phút tà tà từ nhà tới
bãi đậu xe của ESSO nằm ngay phía trước văn phòng của tôi. Khi còn sống tại Nữu Ước,
mỗi ngày, tôi phải đi xe điện ngầm ồn ào và chật chội từ trạm Uptown Columbia University
tới trạm Canal Street ở Lower Manhattan gần Wall Street.Tuy vậy, tôi vẫn nhớ cảnh đứng
giữa đám đông trong xe điện ngầm và cầm tờ New York Times trong một tay để đọc trong
lúc đi làm.
Ở tuổi 27, sự thách đố lớn nhứt của tôi là tìm ra cho mình một hướng đi đúng đắn trong
tương lai. Tôi mong muốn có một việc làm vững chắc, một căn nhà tiện nghi hợp với túi
tiền của mình và cuối cùng nhưng lại tối quan trọng là gặp được người bạn đời lý tưởng.
Tôi đã chọn Sài Gòn làm nơi lập nghiệp của mình. Khi còn sống bên Tây phương, tôi có một
cuộc sống thoải mái nhưng lại thiếu tình thương của ba má và họ hàng. Tôi không hề quên
mục đích quan trọng nhứt trong đời là được huấn luyện thành một kỹ sư giỏi để trở về phục
vụ một quê hương kém mở mang.
Như đã viết, tôi đã may mắn có được việc làm đầu tiên bên nhà sau khi rời Nữu Ước. Không
bao lâu, với số tiền tiết kiệm trong thời gian làm với ESSO, tôi mua được một căn nhà xinh
xắn gần “Hồ Tắm Chi Lăng” ở Gia Định vùng ngoại ô Sài Gòn. Ngôi nhà đầu tiên của tôi cần
sửa chữa nhiều. Tôi rất hãnh diện và vui thích với cái hồ nhỏ có hòn non bộ, thác nước… cá
vàng có đèn rọi sáng do thợ xây ngay nơi phòng ăn.
Là một chuyên viên, tôi nghĩ là tôi hội đủ hai điều kiện tiên quyết để nghĩ tới việc lập gia
đình: có công ăn việc làm và một căn nhà. Tuy nhiên, việc tìm cho được một người vợ tốt
thực sự khó khăn và phức tạp. Tôi không được ai hướng dẫn hay có kinh nghiệm trong lãnh
277
Đông gặp Tây
vực này mặc dù tôi đã được dạy về những giá trị đạo đức trong gia đình. Ba má tôi chung
sống với nhau trên 70 năm, đã nêu một gương sáng cho tôi về hôn nhân. Tôi cũng thừa
hiểu là sau một người đàn ông thành đạt luôn có bóng dáng của một người vợ đảm đang.
Làm sao tôi có thể vượt qua thử thách lớn lao nầy để có được một người bạn đời tốt vừa
với ước nguyện?
Tôi nhìn vào việc thành hôn của các chị, anh, và những người khác trong gia đình cũng như
bạn bè để rút tỉa kinh nghiệm. May mắn thay tôi là đứa con trẻ nhứt nên có thể học hỏi
được nhiều từ các anh chị. Họ đều theo truyền thống Nho giáo và kết hôn theo lề lối được
ba má đặt đâu thì ngồi đó.
Thường tình thì các dâu rể trong nhà đều được chọn theo tiêu chuẩn môn đăng hộ đối. Điều
đáng mừng là tất cả năm chị tôi đều tìm được hạnh phúc trong hôn nhân. Anh Năm tôi là
ngoại lệ vì anh đã phải ly hôn. Sau đó anh có tự chọn cho mình người vợ kế. Thêm nữa, cả
sáu ông chú bác của tôi chỉ kết hôn một lần một trong đời họ mà thôi.
Ai cũng biết sự nghiệp người đàn ông tùy thuộc rất nhiều vào nhân cách của người vợ mình.
Ngay từ thuở nhỏ, tôi chỉ ao ước có một cuộc sống bình dị và khiêm nhường cho tới cuối
đời mình. Tôi suy nghĩ nhiều về trường hợp cuộc hôn nhân của một người anh tôi do người
lớn xếp đặt. Anh đang học trung học ngoài Huế, trường của Đức cha Ngô Đình Thục thì
được gọi về điều hành nhà máy xay lúa gạo Khương Hữu của gia đình tại Tam Bình, Vĩnh
Long. Chẳng bao lâu sau, anh cưới cô vợ trẻ do ba má chọn lựa. Tuy phương thức này rất
tốt cho các chị của tôi nhưng đã thất bại thảm thương trong trường hợp của anh tôi. Tính
tình của cặp vợ chồng đối chọi nhau quá rõ rệt và cuộc hôn nhân trở thành vô phương cứu
vãn.
Phương châm ta có câu: “Dò sông dò biển dễ dò, nào ai có thước để đo lòng người.” Nhờ
vào câu nầy, tôi đã can đảm nói với ba má tôi là tôi sẽ tự chọn vợ cho mình. Đây là lối xử
trí gần với văn hóa phương Tây hơn là với phong tục Á Đông. Tôi sẵn lòng đi gặp những cô
gái do ba má tôi giới thiệu nhưng tôi sẽ là người quyết định chọn lựa. Tôi cảm thấy vui vẻ
và nhẹ nhàng khi ba má tôi chấp thuận ý kiến của tôi. Thực ra, ba má tôi cũng nhận rằng
chưa chắc ông bà sẽ chọn vợ đúng cho tôi vì tôi có ảnh hưởng lối sống ở ngoại quốc sau
bao năm độc lập và thành công bên Mỹ.
Tôi may mắn được có tiếng tốt nhờ tập san “Gia-Đình.” Vô tình hay hữu ý, bài báo trong
đó cho biết tôi vẫn còn độc thân và đang kiếm vợ. Tôi hy vọng thông tin này sẽ giúp tôi
được quen biết nhiều hơn, không kể bạn bè, gia đình ai cũng muốn giúp một tay kiếm vợ
cho tôi. Trong 18 tháng tôi làm việc tại Sài Gòn, má tôi giới thiệu cho tôi cô con gái của một
trong những người bạn thân của bà. Chính ba tôi muốn tôi gặp cô con gái của người bạn cố
tri và cũng là láng giềng của ông. Anh kỹ sư Hoàng Chấn, bạn đồng nghiệp ở Esso, lại xếp
đặt cho tôi với cô em họ của anh gặp nhau. Riêng tôi cũng có liên lạc với cô em gái Phụng
Tiên của bạn học cũ ở Yersin là Vĩnh Mậu. Còn bạn tôi, anh Phó Bá Long, lại cho tôi gặp cô
em gái của mình. Anh Long trước đây học tại Harvard khi tôi còn ở MIT. Tới lúc nầy tôi vẫn
278
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
chưa gặp được người vợ tương lai của mình. Bên nhà chúng ta thường nói “hôn nhân là như
xổ số” hay là do số phận. Riêng tôi thì nghĩ đó là do “ông tơ bà nguyệt” hay là may mắn mà
thành. Tôi còn nhớ lúc đó, tôi không mong gì hơn là việc lập gia đình có thể đơn giản như
là theo một bảng liệt kê các tiêu chuẩn đã được ghi sẵn mà thôi.
Một hôm, người chị họ của tôi, Khương Hữu Thị Hiệp, cho biết gia đình bên chồng của chị
là bác sĩ Hồ Trung Dung, giám đốc bệnh viện Từ Dũ có tổ chức một bữa giỗ. Theo thông lệ
sẽ có nhiều bà con tham dự, đó là dịp để các bà đầu bếp trong họ trổ tài nấu nướng. Chị
Hiệp mời tôi tới để chị giới thiệu người con gái của gia đình bên chồng của chị. Đương nhiên
là tôi biết ơn chị và vui vẻ nhận lời. Trong dịp này tôi được gặp Marie lần đầu tiên. Thoạt
nhìn tôi đã thấy Marie người chững chạc. Chị Hiệp đã quen biết với gia đình Marie nhiều
năm nên vấn đề tìm hiểu về gia thế không còn cần thiết.
Ông bà Ngoại Marie, “Bác vật” Lương Văn Mỹ đứng giữa các con và cháu. Thứ nhứt từ bên trái:
Má của Marie; thứ nhì từ bên mặt: Marie
279
Đông gặp Tây
Lúc đó, Marie mới 21 tuổi và còn đang theo học trường Dược ở Sài Gòn. Ba Marie là kỹ sư
Đinh Quang Chiêu tốt nghiệp từ đại học nổi tiếng École Centrale de Paris, loại trường “MIT”
của Pháp. Bác của Marie, thạc sĩ giải phẫu Trần Quang Đệ là viện trưởng của Đại học Sài
Gòn. Ngoại là ông kỹ sư Lương Văn Mỹ đã quá cố, có thời giữ chức Tổng trưởng Công Chánh
của Việt Nam. Tôi thấy mình may mắn có đủ tư cách để tiếp chuyện với họ hàng của
Marie. Tôi nhận thấy Marie có một sắc đẹp tự nhiên không phấn son hoặc nữ trang hào
nhoáng, không giày cao gót, không quần áo màu sắc loè loẹt. Con người của Marie phát ra
một nhân cách khiêm cung và kín đáo. Ngược lại tánh tôi lại năng động vì đã quen tranh
đấu trong những trạng huống khó khăn và đã sống nơi đất lạ quê người trong nhiều năm
qua. Tôi nghĩ tánh tình trầm lặng của Marie rất thích hợp với tôi, sẽ giúp tôi, một người
năng động, trở nên trầm tĩnh hơn và nhờ vậy tôi sẽ có được cuộc sống bớt căng thẳng. Tôi
nghĩ là tôi đã gặp được nguời bạn đời mà tôi đã tìm kiếm bấy lâu nay.
Marie với má Marie, sinh viên trường Dược
Nhờ có việc làm tốt ở Esso, tôi không phải lo về mặt tài chánh và Marie sẽ không cần mở
một nhà thuốc bán dược phẩm để kiếm thêm nguồn lợi tức cho gia đình. Phước lớn nữa cho
tôi là Marie sanh ra trong một gia đình liêm khiết. Tôi rất trọng đức tính này nhứt là trong
cuộc đời sự nghiệp sau này của tôi. Dưới mắt tôi, Marie là người lý tưởng nhứt trên mọi
phương diện như thể chất, đạo đức và tinh thần. Thượng Đế đã ban cho tôi một người bạn
đời “mười phân vẹn mười” - tuyệt vời về nội tâm cũng như ngoại hình.Tới lúc này, mọi việc
có vẻ diễn tiến suôn sẻ cho tới khi tôi gặp một trở ngại mới. Theo truyền thống, tôi sanh ra
trong gia đình Khổng và Phật giáo. Ngược lại, gia đình Marie đã theo đạo Công giáo ba đời
rồi. Giáo hội Công giáo ở bên nhà rất nghiêm nhặt trong vấn đề hôn nhân với người ngoại
đạo. Theo tôn chỉ Công giáo, tôi phải theo đạo và chấp thuận cho con cái theo đạo mới cử
hành hôn lễ trong nhà thờ được. Không có ngoại lệ gì khác nếu không Marie sẽ bị tuyệt
thông. Tôi thấy điều nầy thật độc đoán và hơi bất công nhưng thêm một lần nữa, Thượng
đế đã lại cứu thoát tôi. Khi còn là sinh viên năm thứ hai ở Mỹ, tôi có học một lớp về các tôn
giáo trên thế giới và vững tin rằng đa số các tôn giáo đều tốt cả.
280
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Ba của Marie đã du học nhiều năm bên Pháp nên đã quen thuộc với văn hóa Tây phương
và lối suy nghĩ cởi mở của họ. Tôi xin được gặp ông tại văn phòng làm việc để được trình
bày quan điểm của tôi về tôn giáo. Như tôi đã dự đoán, ông tỏ ra là người phóng khoáng.
Ông nghe tôi trình bày và trả lời với giọng nhẹ nhàng êm dịu. Vào đề tôi nói đạo Thiên chúa
(Công giáo và Tin lành), cùng với Phật giáo, Ấn Độ giáo, Do thái giáo, và nhiều tôn giáo
khác đều tốt cả. Và nếu chỉ để lấy được vợ tôi chìu theo và nói với vị linh mục rằng tôi đã
từ bỏ đạo Phật của tôi để được vị này chấp thuận làm lễ cưới rồi sau đó tôi vẫn là con người
cũ thì tất cả chỉ là việc hoàn toàn dối trá!
Tôi còn nêu thêm là khi chào đời, trẻ sơ sanh có biết gì về tôn giáo mà có thể chọn theo
Công giáo được? Tôi nghĩ khi lên 18 các con đã trưởng thành và có toàn quyền chọn theo
tôn giáo nào chúng muốn. Ông thân sinh của Marie tỏ vẻ đồng ý với lời giải thích của tôi
nhưng vị linh mục thì không. Tôi nghĩ giáo hội Công giáo quá hẹp hòi đến độ độc ác khi bắt
Marie bị tuyệt thông chỉ vì tôi muốn lập gia đình với nàng. Gặp ngõ bí nầy, tôi quyết định là
chúng tôi sẽ không làm lễ hôn phối ở nhà thờ mà chỉ tại tòa thị chánh nơi chúng tôi ở mà
thôi.
Rất may cho chúng tôi, vài năm sau đó, cộng đồng Công giáo Việt Nam cởi mở hơn nên vị
linh mục “Dòng Chúa Cứu Thế,” tại nhà thờ gần nhà tôi trên đường Kỳ Đồng đồng ý cử
hành lễ hôn phối cho chúng tôi nếu tôi chịu cho các con tôi theo đạo Công giáo. Tôi sẽ
không phải theo đạo - chỉ các con tôi thôi! Nhờ đó, Marie không bị tuyệt thông.
Theo phong tục Việt Nam, chúng tôi làm lễ đính hôn tại nhà của Marie. Bữa tiệc do một nhà
hàng nổi tiếng ở Sài Gòn lo liệu có đông đảo họ hàng trong đại gia đình tham dự.
Lễ đính hôn nơi vườn trước nhà của Marie
281
Đông gặp Tây
Marie và cháu tên Thu của tôi trong tiệc đính hôn, 1960
Khoảng sáu tháng sau, vào ngày 22 tháng 11
năm 1960, Marie và tôi chính thức tổ chức lễ cưới
tại văn phòng Quận trưởng, Phường ba gần nhà
chúng tôi. Tiệc cưới có gia đình hai bên dự được
tổ chức tại biệt thự số 83 Ngô Thời Nhiệm, Sài
Gòn.
Chúng tôi có đặt bữa tiệc ăn mừng tại nhà hàng
Ngọc Lân Đình trong Chợ lớn để thết đãi họ hàng
xa gần cũng như bạn bè. Có tất cả 20 bàn với 12
thực khách mỗi bàn. Theo phong tục, gần cuối
bữa tiệc, cô dâu chú rể cùng với cha mẹ hai bên
đi từng bàn để cám ơn khách và nhận những lời
chúc mừng và bao lì xì của họ.
Ngày cưới 22 tháng 11 năm 1960 Ba năm làm tại Esso đem lại cho tôi nhiều niềm
tại số nhà 83 Ngô Thời Nhiệm, Sài Gòn
282 vui. Đôi khi tôi được gởi đi tu nghiệp về quản trị
tại Hong Kong và Singapore. Tôi được giao phó
trách nhiệm kiểm soát tất cả các trạm xăng của
Esso ở miền Nam. Công ty dành cho tôi chiếc xe
Chevrolet bốn cửa màu đen bóng loáng để đi
thanh tra. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được
cơ hội đi thăm xứ sở từ mũi Cà mau miền cực
nam tới thành phố Quảng trị nơi cực bắc. Việt
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Nam có những bãi biển cát trắng
tuyệt đẹp như Vũng Tàu, Mũi Né,
Cam Ranh, Nha Trang, Đại Lãnh
(Cap Varella). Tuy nhiên, cảnh
đẹp tuyệt vời nhất là “depot” xăng
Esso do người bạn thân của tôi là
kỹ sư Huỳnh Ngọc Châu có vợ
Pháp từ Pháp về quản lý “depot”
Liên Chiểu, tại chưn đèo Hải Vân.
Tôi còn giữ được kỷ niệm thật
tuyệt vời về địa điểm đặc biệt nầy.
Nước biển nơi đây ấm và trong
vắt như pha lê. Ngư dân tại đó đã
bắt cho chúng tôi khá nhiều con
tôm hùm ăn thật ngon!
Cuộc sống của tôi với chức vụ
kiểm soát viên ở Esso khá dễ chịu
và tốt đẹp. Nhưng mục đích chính
của đời tôi là giúp phát triển nước
nhà chớ không phải làm giàu cho
một công ty ngoại quốc. Tôi đã Từ trái: Bác Năm, Bác Tư, Ba tôi trước bàn thờ tổ tiên
học hỏi trong suốt ba năm trời Khương Hữu Lân, Khương Hữu Long, Khương Hữu Phụng
những căn bản về quản trị xí
(Bảy)
nghiệp trong một công ty đa quốc
gia. Bây giờ là thời điểm tôi phải sửa soạn cất cánh tung bay. Năm 1961 chiến tranh Việt
Nam trở nên sôi động hơn và chánh phủ chỉ cho những thanh niên giữ chức quản lý tại các
công ty quốc doanh được hoãn dịch mà thôi.
Tôi thật may mắn là người hội đủ các điều kiện có mặt ở đúng chỗ và vào đúng lúc. Công
ty Đường Việt Nam lúc đó đang thực hiện chương trình hiện đại hóa đáng giá nhiều triệu
Mỹ kim tại Nhà Máy Đường Hiệp Hòa nằm gần biên giới với Cao miên. Tôi được công ty
nhận vào làm với chức vụ giám đốc kỹ thuật phụ trách chương trình nầy. Tôi không ngờ
Việt cộng đã xâm nhập vào vùng lân cận và có ý định phá hoại nhà máy để làm tê liệt nền
kinh tế trong nước. Tôi đã suýt chết hai lần trong khi làm việc tại đây. Chương 12 “Những
Nguy Nan Của Chương Trình Kỹ Nghệ Hoá Trong Thời Chiến” ở phần sau sẽ đi vào chi tiết
hơn.
Marie và tôi sống cuộc đời đạm bạc trong những năm đầu sau khi chúng tôi lập gia đình.
Năm 1962, với tiền tiết kiệm và sự giúp đỡ của ba tôi, chúng tôi dọn về villa có vườn phía
trước tại số 11 đường Kỳ Đồng ở Sài Gòn. Chiến tranh tiếp tục leo thang. Việc lái xe về thôn
quê vào cuối tuần để nghỉ ngơi không còn an toàn nữa. Tôi nghĩ tới việc lập một mảnh vườn
trước nhà và luôn trên mái nhà để vui hưởng thiên nhiên trong sự an toàn của thành phố.
283
Đông gặp Tây
Nhìn lên lầu 2 và 3 của mặt tiền, có hàng tre cao 5 thước trên sân thượng
tránh được các cửa sổ chung quanh nhà.
Lá xanh trước nhà tránh được ngoài đường nhìn vào nhà
Mảnh vườn trên nóc nhà lầu ba với cây ăn trái, rau cỏ, kiểng, quầy rượu và hồ nước.
284
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Có một mảnh vườn “đúng nghĩa” trên mái nhà là một khái niệm mới mẻ tại Sài Gòn vào
năm 1963. Khi nói tới mảnh vườn “đúng nghĩa” tôi nghĩ tới một mái nhà xi măng bằng phẳng
có cỏ mọc che phủ. Ở nơi đó cũng có một hồ nước nhỏ, vườn trồng rau cải, cây ăn trái, kiển
bonsai và cá vàng. Tại mỗi góc vườn, những chậu cao khoảng một thước được dùng để
trồng cây ăn trái như xu đủ, nhãn, mẳng cầu…
Tôi có trồng bí đao, hủ qua (khổ qua) với những trái bầu đẹp mắt treo lủng lẳng trên những
dàn gỗ nằm ngang. Đây là loại sân thượng lầu ba đầu tiên tại Sài Gòn năm 1962 với hồ
tấm, sân cỏ, vườn rau, vườn cây ăn trai, một quầy rượu đồng thời có nước nóng từ mặt
trời.
Ba tôi và người cháu họ nơi mảnh vườn trên mái nhà
Với ba tôi và Bác Năm trên sân thượng
285
Đông gặp Tây
Mướp Bầu Bí Hủ qua
Ba và em của Marie tên Mai trên sân thượng Hồ tắm trên nóc nhà
Đời sống trong thành phố đông người như Sài Gòn với khói, bụi và ô nhiễm tiếng động vẫn
khiến cho giá đất tăng cao. Tôi thấy việc xây một mảnh vườn trên mái nhà là một dự án
hợp lý, tốt cho sức khoẻ và đem lại nhiều niềm vui. Tuy nhiên nó đòi hỏi những kiến thức
cao về kỹ thuật để tránh việc bị rỉ nước và nứt rạn. Thực hiện được dự án này quả là một
thử thách thích thú cho công trình đào tạo về Engineering trước đây của tôi ở MIT.
Để thử xem mái nhà có bị rỉ nước không, tôi đổ nước đầy ngập mái nhà trông như một cái
hồ nhỏ rồi để y nguyên như vậy trong một tháng liền. Tôi sợ sau này bị bạn bè nhạo báng
là không xây nổi mái nhà cho chính mình! Tôi còn nhớ đã thuê thợ đổ 14 xe vận tải đất để
lập mảnh vườn. Không thấy có dấu vết nứt rạn nào!
Điều làm tôi thỏa lòng nhứt là có được an ninh và Thiên Nhiên thu nhỏ ngay tại nhà mình
giữa một đất nước đang ngụp lặn trong khói lửa. Nơi đây, trong an toàn, mỗi cuối tuần tôi
có thể hưởng thú đồng quê thay vì phải đi tới ngoại ô thành phố đang bị Việt cộng quấy
phá. Mỗi ngày sau giờ làm việc tại sở tôi cũng có thể tìm được một nơi cây cỏ xanh tươi để
thư dãn. Đôi khi tôi còn mời bạn bè tới quầy rượu làm bằng tre để cùng nhau thưởng thức
đôi ba ly rượu giữa bông hoa và cây kiểng của mảnh vườn xinh đẹp này. Tôi còn trồng
những cây tre và cây ăn trái cao để che đi những cảnh không mấy đẹp mắt của những nhà
chung quanh.
286
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Không khí trong lành và làn gió thoảng mát làm tăng vẻ hấp dẫn của nơi đây. Dầu vậy, vì
nhà tôi chỉ cách tư gia đại sứ Mỹ Cabot Lodge có một “bloc” đường ngắn nên trước đây Việt
cộng có nã một vài trái róc kết vào khu nầy. Vì lý do đó, tôi cho xây một hầm trú ẩn nơi
từng dưới được che bởi nhiều miếng thép dầy. Đối với những thành viên trong gia đình,
mảnh vườn nầy được xem như công trình đầu tiên tôi thực hiện được từ khi về nước. Hôm
nay, sau một nửa thế kỷ, vào năm 2016, tôi khám phá ra rằng Singapore là thành phố đầu
tiên trên thế giới có những nhà chọc trời với vườn tược ở mỗi tầng lầu.
Mỗi từng lầu ở Singapore đều có vườn
Một mái nhà và tường có vườn mới được xây ở Ba lê
Ngay trước nhà, tôi xây một vườn theo kiểu phương Đông có hồ hình bản đồ Việt Nam bị
chia đôi tại vĩ tuyến 17 nơi có cầu Bến Hải như đã ấn định trong Hiệp định Genève.
Để được may mắn ba tôi và tôi về Đồng Bằng sông Cửu Long tìm mua một cây “mai kiểng”
đẹp và hiếm để làm trung tâm điểm của mảnh vườn. Đặc điểm của loại cây mai nầy là nếu
trước Tết 15 ngày, tôi tước hết lá thì đúng mùng một Tết, cây sẽ trổ bông vàng thật lộng
lẫy. Tôi vẽ họa đồ cây đèn đá kiểu Nhựt cho một xưởng tại hầm đá Biên Hòa tạc cho tôi cây
đèn ở phía trái trong hình dưới đây.
287
Đông gặp Tây
Mảnh vườn trước nhà với cây mai ăn mừng ngày Tết và cây me kiểng
Phòng khách ở lầu hai
Phòng khách ở lầu một với bồn cá và cây bông giấy kiểng “bonsai”
288
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Mảnh vườn trên lầu ba là nơi lý tưởng để gia đình họp mặt. Theo thông lệ, ba tôi tụ họp
mọi người trong đại gia đình trên mái nhà để chụp hình lưu niệm vào ngày Tết.
Đại gia đình chụp hình trên mái nhà vào ngày Tết
Công việc nội trợ của Marie trở nên bề bộn hơn khi chúng tôi nuôi gia súc trong nhà. Chúng
tôi có tất cả hai con “bergers” Đức tên là Sony và Blacky, một con “fox terrier” tên Kiki, một
con chó Bắc kinh tên Cola, vài con chim yến, một con sáo biết nói, và chót hết là vài con cá
vùng nhiệt đới nuôi trong hồ cá. Cũng như đa số gia đình trung lưu, chúng tôi có một chị
bếp và người giúp việc. Họ sống trong phòng riêng phía sau nhà gần nhà bếp ngăn cách
với căn nhà chánh bởi một hành lang có mái che.
Marie với 5 con của chị Tư và hai bạn trai và gái
“Chị Năm Xẩm,” người vú gốc Hoa đáng tin cẩn và 5 trẻ em do chị chăm nom
289
Đông gặp Tây
Tấm lòng nhân ái và rộng lượng của Marie khiến Marie có thêm việc mới. Số là chị Tư
Khương Hữu Ngàn của tôi sống ở Vĩnh Long cách Sài Gòn 130 cây số. Chị rất bận rộn lo cho
nhà thuốc tây Cao Thái Hoành của chị. Vào thời đó trường học ở Sài Gòn tốt hơn ở các tỉnh
nên vì tình ruột thịt, Marie sẵn lòng nhận chăm sóc cho các con của chị Tư. Dần dần tất cả
năm con của chị đều nhờ vào sự chăm sóc của Marie. Em bé nhỏ nhất học lớp một. Tôi
thường đi xa nhà vì công việc sở rất bận. Marie là người phải đứng ra đảm nhiệm mọi việc
và đã chu toàn nhiệm vụ một cách tuyệt vời.
Riêng đối với tôi, cuộc sống ở Sài Gòn khác xa với Nữu Ước. Trước đó, tôi sống đơn độc
trong một siêu thành phố. Giờ đây, tôi luôn có bạn bè thân thuộc sống bên tôi ở một đô thị
nhỏ bé hơn. Vì vùng ngoại ô thủ đô không được an ninh, tôi bắt buộc phải xếp đặt nếp sống
và hoạt động hằng ngày cho thích hợp với tình hình lúc đó.
Mỗi khi có phái đoàn ngoại quốc tới Sài Gòn để làm việc trong các dự án, tôi thường khoản
đãi họ tại nhà riêng của tôi. Ngoài ra nhóm chuyên viên của tôi cộng tác rất mật thiết với
phái đoàn viện trợ kinh tế của USAID. Để giúp cải tiến điều kiện làm vìệc và mối giao hảo
giữa hai bên, tôi tổ chức những bữa ăn tối tại nhà để bàn luận về công việc trong bầu không
khí thân mật. Thường thì bữa tiệc bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ với rượu khai vị ở mảnh vườn
trên sân thượng do nhân viên của khách sạn nổi tiếng Caravelle đeo găng tay trắng phụ
trách. Sau đó, khách được mời đi xuống lầu nơi có bày sẵn 4 bàn tròn với 10 ghế ngồi mỗi
bàn để dùng cơm. Muốn biết chỗ ngồi ở bàn nào, khách chỉ nhìn vào bản sơ đồ đặt ở cuối
cầu thang. (Xin xem hình)
Khách đi xuống phòng ăn từ mảnh vườn trên lầu ba
290
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
Bữa tiệc buổi tối đãi nhóm chuyên viên của NHPTKNVN và USAID tại lầu một.
Bên trái của tôi là Mr. Von Spiegelfield (#3 USAID),người cho ý kiến tôi nên tìm
cách rời Sài Gòn gấp, gần đó là Mr. W. Bennett (#2 USAID.)
Trong khi phụ trách dự án hiện đại hoá tại nhà máy đường Hiệp Hòa, tôi cần sự giúp đỡ
của một chuyên viên về điện. Rất may, vào năm 1962, tôi gặp được ông Hồ Tấn Phát, Tổng
Giám Đốc Công ty Điện Lực Việt Nam. Từ đó chúng tôi trở thành đôi bạn thân. Biệt thự do
công ty cung cấp cho ông có sân quần vợt và hồ tắm và là nơi nhóm bạn hữu thu nhỏ của
chúng tôi thường lui tới. Vào mỗi cuối tuần và thứ tư trong giờ ăn trưa thường lệ (từ 12 giờ
tới 2 giờ chiều) nhóm chúng tôi gặp nhau tại nhà ông để đánh tennis cặp đôi. Những bạn
cùng chơi tennis chung là anh Nguyễn Văn Bông, Viện Trưởng Viện Quốc Gia Hành Chánh
và anh Trần Quí Thân, Tổng Giám Đốc Đông Phương Ngân hàng.
Năm 1964 đánh dấu một giai đoạn thật quan trọng trong đời tôi. Cám ơn Trời cho tôi may
mắn được một hôn nhân tốt đẹp, một ngôi nhà ấm cúng, một việc làm thích thú cũng như
một nhóm bạn thật tốt. Tôi cảm thấy hứng khởi và rất sẵn sàng làm việc và hy sinh để đối
phó với bất cứ thử thách nào trong nghề của tôi.
Lúc đó, hoàn toàn vì cơ may và tình cờ, ông Bửu Hoan, Giám đốc Trung Tâm Khuếch Trương
Kỹ Nghệ, một cơ quan của chính phủ đi nhận chức vụ đại diện cho Việt Nam tại Ngân Hàng
Quốc Tế ở Hoa Thịnh Đốn do ông Tổng Trưởng Âu Trường Thanh bổ nhiệm. Với sự hỗ trợ
của Bộ Kinh Tế, tôi được chỉ định thay thế ông Bửu Hoan vì tôi là người hội đủ điều kiện và
có mặt tại chỗ đúng lúc bấy giờ. Trong thời gian làm việc ba năm với hãng quốc tế Esso tôi
đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm về khoa học quản trị tân tiến. Ngoài ra, tôi đã làm Giám
đốc kỹ thuật ba năm cho một công ty kỹ nghệ lớn là Công ty Đường Việt Nam.
291
Đông gặp Tây
Liền sau đó, tôi nghĩ ngay tới việc đào tạo cấp tốc một nhóm chuyên viên giỏi từ quốc nội
và quốc ngoại để có đủ khả năng hội nhập vào công cuộc phát triển một quốc gia đang
phát triển và nhứt là trong thời chiến. Vì là kỹ sư Việt tốt nghiệp từ MIT đầu tiên về nước
sau một thời gian làm việc tại Nữu Ước, tôi cộng tác với Hội Cựu Sinh Viên Đại Học Mỹ/
American University Alumni Association (AUAA) để tuyển dụng nhân viên mới. Cùng lúc đó,
tôi bắt đầu các chương trình đầu tiên huấn luyện người chỉ huy nhằm nâng cao nhanh chóng
khả năng chuyên môn cho nhân viên Trung Tâm Khuếch Trương Kỹ Nghệ. Tôi liên lạc với
trường Kỹ Thuật Phú Thọ để thâu dụng những sinh viên xuất sắc tốt nghiệp từ nơi nầy. Để
tránh tệ đoan hối lộ và khuyến khích nhân viên, tôi không quên thuyết phục Hội Đồng Quản
Trị thông qua một bảng lương bổng đầu tiên phù hợp với khả năng và năng xuất của từng
người. Tôi cũng nghĩ tới việc xây cất cư xá cho nhân viên để ổn định vấn đề nhân sự cho
Trung tâm.
Mỗi sáng thứ ba, đúng 7 giờ 30, tất cả 40 nhân viên cấp điều hành tụ tập tại phòng họp
của Trung tâm. Những ai tới trễ sẽ không được vào vì cửa phòng đã bị khóa lại. Biện pháp
kỷ luật này tỏ ra rất hữu hiệu. Mỗi nhân viên được chỉ định một đề tài để nghiên cứu một
tháng trước ngày đứng ra thuyết trình. Đương nhiên để có thể trình bày một cách trôi chảy,
nhân viên cũng phải học kỹ-thuật “public speaking” ăn nói trước công chúng. Sau phần trình
bày, là phần trả lời câu hỏi của cử tọa. Gần giờ mãn họp, tôi đứng ra nhận xét ưu và khuyết
điểm của bài thuyết trình kể luôn khả năng trình bày của diễn giả. Nhiều năm sau nầy, trong
những buổi họp mặt tại San Francisco, mọi người đều thú nhận với tôi là mọi người như
ngồi trên đống lửa mỗi khi đến lượt mình phải thuyết trình vào những sáng thứ ba khó quên
đó. Điều đáng mừng là tất cả nhìn nhận rằng “public speaking training” nầy rất hữu ích cho
việc làm về sau tại ngoại quốc.
Điều ai cũng biết là việc bổ nhiệm những chức vụ đứng đầu các cơ quan tài chánh của chính
phủ đều dựa vào yếu tố chánh trị nên đó là những cơ hội ngàn vàng để các đảng phái gây
quỹ hoạt động. Vì thế mỗi lần có một chánh phủ mới tôi tránh hết sức phải dính líu đến
những việc như vậy. Nhưng đây đúng là trường hợp “nói dễ hơn làm.” Một trong những
thành quả trong cuộc đời sự nghiệp của tôi là đã giữ được một việc làm tôi ưa chuộng trong
suốt thời gian từ năm 1964 tới ngày mất Sài Gòn năm 1975. Làm sao tôi vượt khỏi những
cơn sóng gió chánh trị trong 11 năm liền như vậy được? Tôi cầu xin Thượng Đế ban cho
mình sự sáng suốt và can đảm để bày tỏ một cách trong sáng và trung thực những điều tai
nghe mắt thấy khi còn ở bên nhà. Tôi đã dựa vào những suy xét thường tình và sự tự kềm
chế để khuất phục được các cám dỗ. Chỗ nào trên thế giới nầy cũng có tệ đoan tham nhũng.
Tại những nước kém mở mang nó lộ diện dưới hình thức tiền mặt hay vàng. Tại Hoa Kỳ, đó
là những tập đoàn hàng ngàn luật sư làm nghề vận động hành lang/lobby ở Hoa Thịnh Đốn.
Để tránh nạn tham nhũng, tôi bảo đảm cho nhân viên một mức lương xứng đáng đủ sống
và xây cất thêm cư xá. Ngược lại, mọi nguời phải làm việc hết sức mình và sẵn sàng đối
phó với sự cạnh tranh luôn rình rập ở bên ngoài. Hàng năm, cơ quan USAID tham dự vào
việc “audit” kiểm soát sổ sách của Ngân hàng thật kỹ lưỡng. Nhưng vẫn còn một kẽ hở nữa
trong guồng máy quản trị. Điều gì sẽ xảy đến nếu tôi hoàn toàn trong sạch trong khi vợ tôi
292
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
lại nhận của đút lót một cách kín đáo và khôn khéo của giới kinh doanh? Với đại đa số
những việc làm rất phổ biến như vậy ở phương Đông thì chỉ Ông Trời biết được mà thôi.
Trong suốt thập niên làm việc trong lãnh vực tài chánh, tôi luôn phải đương đầu và cố gắng
chế ngự sự cám dỗ của tham nhũng, hối lộ. Không thiếu gì lúc bạn bè hay thân nhân của
các giới chức cao cấp trong chính phủ liên lạc với tôi để vay tiền ngân hàng. Tôi chỉ đơn
giản trả lời rằng nếu dự án của họ hội đủ tiêu chuẩn của ngân hàng thì sẽ được hoàn tất
trong thời gian rất ngắn. Bữa nọ, vị phu nhân của thủ tướng chánh phủ điện thoại cho tôi
về hồ sơ của một hãng dệt và tôi cũng trả lời như vậy mà thôi. Bữa khác tôi rất ngạc nhiên
khi nhận ra tướng Loan, cựu chỉ huy trưởng Cảnh sát quốc gia, chống gậy vào phòng làm
việc của tôi. Sau một cuộc đàm thoại ngắn, ông nói ông cần vay số tiền để mở một tiệm
kim hoàn. Tôi lễ phép trả lời ông là ngân hàng không thể cho vay được vì đó không phải là
một dự án kỹ nghệ. Và mọi sự kết thúc êm đẹp. Lần khác, tướng TT Đính làm dự án vay
tiền lập công ty ấn loát dưới một tên khác. Hồ sơ được chấp thuận vì hội đủ điều kiện của
Ngân hàng. Ít lâu sau việc trả nợ không được đúng thời hạn và tôi bắt đầu gặp khó khăn từ
phía ông. Tôi sẽ áp dụng biện pháp có sẵn theo luật pháp ngân hàng. Nhưng ngày 30 tháng
tư 1975 đã kết thúc mọi việc!
Trong một dịp Tết Trung Thu, nhà tôi điện thoại cho tôi khi tôi đang ở văn phòng. Nhà tôi
cho biết có người mang lại nhà để tặng bánh trung thu nhưng ở dưới hộp đựng bánh là đầy
tiền giấy 500 và vàng lá. Nhà tôi đã tức khắc trả lại cho họ và điện thoại báo cho tôi biết.
Marie có nói thêm là quà biếu tại nhà thường kèm theo nhiều lý do khác nhau. Một cá nhân
giải thích là nhờ vay được của Ngân hàng ông ta xây cất xưởng và đã trở nên giàu có và
muốn trả ơn tôi. Ông ta cố gắng biện luận là việc ông làm không phải là hối lộ mà là ơn
nghĩa. Mỗi khi những việc như vậy xảy đến, Marie liền báo cho tôi biết để có thể ngăn chặn
kịp thời.
Còn một việc khác khá thú vị nữa tôi muốn kể ở đây. Vì chúng tôi không có con nên một số
người nói nếu được ai đó tặng vàng hay cẩm thạch quý thì chúng tôi sẽ có con trai! Nhưng
tôi tin là món quà quý nhứt Thượng Đế ban cho tôi là có người vợ liêm khiết. Nhờ vậy sau
hơn nửa thế kỷ chung sống với nhau tôi nghĩ ra lý do Thượng Đế đã giúp tôi thành công
trên đường sự nghiệp. Ngoài việc giữ được sự liêm khiết, tôi còn phải hết lòng cộng tác với
nhóm “gà nòi” trẻ tuổi, năng động và cứng tay nghề của tôi để chúng tôi cùng nhau làm
việc có thành quả.
Tôi nhận thấy muốn người vay không trốn nợ thì họ cần có những nhân viên điều hành giỏi
để hãng xưởng của họ có năng suất cao. Năm 1964, tôi thành lập Hội Quản Trị Xí Nghiệp
Việt Nam để thường xuyên tổ chức những khoá hội thảo bổ ích đào tạo thêm quản trị gia.
Victor Hugo có nói “Sống là Tranh Đấu.’’ Tôi đã tranh đấu và tránh được sự ganh đua, tranh
giành chức vụ của những người có thế lực vì họ biết tôi sẵn sàng tranh đấu cho niềm tin
vào chánh nghĩa của tôi. Tôi xin được phép dùng thí dụ như “đánh box” trên võ đài để nói
rõ hơn về ý nghĩ nầy. Nếu tôi đấu giỏi thì những người có thế lực khó mà hạ nổi tôi. Hơn
nữa, những kẻ nào khôn sẽ kiếm đối thủ vừa hoặc dưới sức mình để đọ sức. Tội gì phải
293
Đông gặp Tây
chọn sự bất trắc và có thể phải đấu hết 15 vòng đầy máu me, thương tích mà không nắm
chắc được phần thắng. Nhờ ơn Thượng Đế tôi đã không phải đấu sức với người dựa vào
thế lực trong 11 năm làm việc cho chánh phủ tại Sài Gòn.
Kỷ niệm đáng ghi nhớ nhứt của đời tôi là bữa mừng sanh nhựt 70 tuổi. Nhóm chuyên viên
“gà nòi” trẻ ngày xưa đã âm thầm lên Internet tổ chức bất ngờ “một trăm phần trăm” cho
tôi tại Mỹ. Mặc dầu họ sống tản mác khắp nơi trên thế giới sau 25 năm, họ vẫn tụ tập về
căn nhà khiêm tốn của tôi ở San Francisco vào năm 2000 để có buổi họp mặt thật cảm động
và đầy ý nghĩa trong đời làm việc của tôi. (Xin xem hình bên dưới)
Tháng 10, 2000. Hình chụp ngoài sân sau nhà tôi. Một buổi sinh nhựt 70 tuổi hoàn toàn bất ngờ
với sự hiện diện của nhiều nhân viên chưa được gặp lại sau tháng 4, 1975.
Tôi đã hưởng được những giây phút thật tuyệt vời của đời mình trong dịp này. Tất cả mọi
người đã thành đạt khi xây lại cuộc đời ở Tân Thế Giới trong những chức vụ điều hành với
những đại công ty Mỹ như PacBell, Pennzoil, Esso, Halliburton, PG&E, vân vân…
294
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
ĐỊNH MẠNG VÀ SỐ MẠNG
Hồi tưởng lại 17 năm sống ở Sài Gòn từ 1958 tới 1975, tôi phải thú nhận rằng cảm nghĩ của
tôi về thời kỳ trọng đại nầy của đời mình cũng như của dân tộc quả là vui buồn lẫn lộn.
Một mặt, tôi thật vui sướng được đoàn tụ với gia đình sau một thời gian dài du học ở Mỹ,
về thăm Đồng Bằng sông Cửu Long thân thương của thời niên thiếu và có những việc làm
tốt ở Esso, Công ty Đường Việt Nam và Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ. Tôi còn may mắn
được kết hôn với một người vợ tuyệt vời theo phong tục Khổng giáo và đồng thời vẫn được
tự do chọn người phối ngẫu thay vì do ba má tôi áp đặt.
Ngoài ra còn có giai đoạn đầy mồ hôi nước mắt để khuất phục mọi thử thách trong lúc tôi
tham gia vào chánh phủ miền Nam. Nhờ vào kiến thức chuyên môn tôi học hỏi được ở Hoa
Kỳ, tôi đã dốc hết tâm lực vào công cuộc phát triển kỹ nghệ của miền Nam. Tôi nghĩ rằng
trong 11 năm phục vụ cho chánh phủ miền Nam, tôi đã có những đóng góp cụ thể và đáng
kể cho một quê hương không những kém mở mang mà còn bị tàn phá bởi chiến tranh. Tôi
đã thoát chết hai lần trong “đường tơ kẽ tóc” khi di chuyển tới địa điểm làm việc tại nhà
máy Hiệp Hoà. (Xem Chương 12). Sự kết hợp giữa kiến thức về kỹ thuật tân tiến Tây Phương
với giá trị tinh thần Khổng giáo đã tạo ra một cuộc “Đông gặp Tây” hài hòa và giúp tôi trở
thành một kỹ thuật gia lành nghề để phụng sự đất nước tôi.
Mặt khác, tôi cũng đã phải trải qua những biến cố khốc liệt của chiến tranh cho đến ngày
Sài Gòn rơi vào tay quân xâm lăng Bắc Việt ngày 30 tháng 4, 1975. Cũng như hai mươi triệu
quân dân Miền Nam, tôi bi phẫn đã không giữ được miền Nam rơi vào ách thống trị của
cộng sản mặc dầu toàn dân đã cố gắng hết sức mình để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa được
tiếp tục sống trong công bình, tự do và dân chủ.
Nguyên nhân cuộc bại trận nầy thật nhiều và phức tạp khó nói hết trên một trang giấy,
nhưng với thân phận một người tị nạn cộng sản phải bỏ xứ ra đi, mất quê hương và mất
tất cả tài sản đã chắt chiu tạo dựng bằng mồ hôi và nước mắt trong hai thập niên, tôi không
thể nào quên quá khứ để có vài nhận định.
Trước tiên về phía người Mỹ, mặc dù họ viện trợ kinh tế cho Việt Nam, không hẳn để giúp
Việt Nam thoát khỏi tình trạng chậm tiến sau thời kỳ 100 năm bị Pháp cai trị, mà họ muốn
dùng Việt Nam làm một tiền đồn để ngăn chận làn sóng Cộng Sản xâm nhập vùng Đông
Nam Á theo chủ thuyết domino của Tổng thống Eisenhower. Từ vai trò cố vấn quân sự
(23.000 người năm 1964) họ bắt đầu tham chiến khi quân cộng sản Bắc Việt gia tăng áp
lực quân sự.
Ngày 08/03/1965, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ ở Đà Nẵng mở đầu cuộc tham chiến đại
qui mô của Mỹ tại VN. Số quân nhân và quân cụ gia tăng nhanh chóng theo mức độ leo
thang của chiến trường, lúc cao điểm (cuối 1968) quân số Mỹ lên đến 536.000 người và
cũng là năm Mỹ thiệt hại nhiều nhất về số tử vong (16 899 người). Mặc dù Mỹ tham chiến
295
Đông gặp Tây
nhưng không tuyên chiến, tất cả các chánh phủ Mỹ từ Eisenhower tới Nixon, đều theo đuổi
nguyên tắc là quân đội Mỹ và miền Nam sẽ không bao giờ xâm chiếm miền Bắc, trong khi
Cộng sản Việt Nam và Cộng sản quốc tế liên kết để dốc toàn lực xâm chiếm miền Nam. Nói
một cách khác, chánh phủ Hoa Kỳ không cổ võ việc tiêu diệt đối thủ bằng chiến thắng quân
sự theo quan điểm cố hữu về chiến tranh. Với một chánh sách như vậy cốt để tránh cho
chiến tranh Việt Nam biến thành một cuộc đọ sức toàn cầu giữa Hoa Kỳ và cả khối cộng
sản, cuộc thất trận của Mỹ tại Việt Nam là một bài học lịch sử đau đớn của Mỹ trong sách
lược đối với cộng sản.
Về phía chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa, phải chăng nỗi lo âu miền Nam sẽ bị Bắc Việt tấn
công bằng võ lực đã thúc đẩy các tướng lãnh nắm lấy chính quyền sau vụ lật đổ và sát hại
Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 2 tháng 11 năm 1963.
Ông George Clemenceau có nói “chiến tranh là vấn đề quá quan trọng để có thể trao cho
các tướng lãnh quyền định đoạt.” Các tướng lãnh không những chiếm độc quyền chỉ huy
quân sự mà còn tước hết quyền của các giới chức dân sự nữa. Guồng máy hành chánh
trong nước đã bị các quân nhân chế ngự. Công chức xuất thân từ Viện Quốc Gia Hành
Chánh bị đặt dưới sự kiểm soát của các sĩ quan nhiều khi kém khả năng hơn họ. Trong
thành phần ưu tú của nước nhà, một số tướng lãnh có kiến thức thấp.
Thực sự, ngay từ năm 1960, tiếp theo quyết định của Bộ Chính trị Hà Nội thành lập Mặt
Trận Giải Phóng để thôn tính miền Nam bằng cả quân sự lẫn chánh trị, cường độ chiến
tranh gia tăng khiến chính Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng thấy cần bổ nhiệm sĩ quan vào
chức vụ tỉnh trưởng, rồi sau đó đến quận trưởng để đối phó với tình trạng an ninh càng
ngày càng tệ hại nhứt là ở nông thôn. Kể từ năm 1965 chức vụ tổng thống và thủ tướng
chánh phủ cũng do tướng lãnh nắm giữ luôn!
Chánh sách quân đội hóa guồng máy công quyền, nếu có thực sự hữu hiệu đối với các sĩ
quan có tài, có đức, thu phục được nhân tâm người dân, thì trái lại đã tạo nên một trạng
thái ô hợp mua quan bán tước làm yếu đi chẳng những quân đội mà cả hệ thống hành
chánh và chánh trị. Một thí dụ lố bịch điển hình như việc bổ nhiệm một vị đại tá an ninh
quân đội, kém học thức và khả năng quân sự, được thăng tướng vì có công trong cuộc đảo
chánh và được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng trưởng Văn Hóa. Nhưng rồi ông cũng chỉ ở tại
chức được vài tháng mà thôi. Người ta nói: “bất tài vô dụng” là vậy.
Nhưng quân đội Việt Nam Cộng Hòa không phải chỉ có những phần tử bất tài, bất tướng
như vậy. Làm sao tôi quên được trong suốt thời gian chiến tranh chống cộng sản giành từ
tất đất, 223 748 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa các cấp đã bỏ mình và 1 169 000 quân
nhân bị thương trên chiến trận (theo laguerreduvietnam.com).
Bốn thập niên trước đây, Hoa Kỳ, siêu cường thế giới, đã bỏ rơi miền Nam, đặt quân đội
Miền Nam trong tình trạng không có đạn dược và xăng nhớt để tiếp tục chiến đấu chống 20
sư đoàn của quân đội miền Bắc. Sau khi đọc qua bản thảo của cuốn hồi ký nầy, Peter Arnett,
296
Ch.10 - Hồi Hương Sau Bảy Năm Sống Tại Hoa Kỳ
nhà báo được giải Pulitzer đã viết: “Chính cá nhân ông và các bạn niên thiếu của ông đã
giúp sức xây dựng một miền Nam mà Hoa Kỳ đã hỗ trợ rồi bỏ rơi sau đó.”
Ba mươi tháng 4, 1975, cùng chung số phận với nhân dân miền Nam, Marie và tôi đã mất
tất cả, nhưng chúng tôi có cái may mắn hơn còn sống sót đến trại tị nạn Camp Pendleton
của Thủy quân lục chiến Mỹ trong tiểu bang California. Với hai bàn tay trắng, chúng tôi làm
lại cuộc đời lúc giữa đời người, bắt đầu cuộc sống mới tại Tân Thế Giới. (Xin xem hình của
Associated Press Wirephoto bên dưới.)
(Khương Hữu Điểu, cựu Tổng Giám Đốc Ngân hàng, trình bày tài sản của ông (cái “sac”
đựng quần áo của gia đình).
297
Đông gặp Tây
298