Tạ Tỵ
Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay
Xếp theo thứ tự năm sinh từ nhỏ đến lớn:
Trịnh Công Sơn, Tuý Hồng,
Nguyễn Thị Thuỵ Vũ,
Dương Nghiễm Mậu,
Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến,
Thế Uyên, Thế Phong,
Bùi Giáng, Võ Hồng
Dans tous les domaines,
le triomphe de la vie est la création.
Trong mọi địa hạt,
sự đắc thắng của đời sống là sáng tạo.
Henry Bergson (1859-1941)
NGUỒN
Thưa
Sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam trong vòng mười năm (1961-
1970) đã phát triển thật phong phú với sự góp mặt đông đảo những
người làm văn nghệ thuộc nhiều lớp tuổi. Họ du nhập vào đời sống
nghệ thuật như dòng nước lũ, chảy phăng phăng với những chiều
hướng khác biệt nhưng vô cùng sung mãn.
Những người làm nghệ thuật hôm nay, họ không quan niệm văn nghệ
có nhiệm vụ nhằm cải tạo nếp sống, hoặc đem cái tinh hoa của nghệ
thuật để phục vụ cho mục đích nào đó của xã hội, nhưng chính để tỏ
bày trước tập thể, những giá trị mới của suy nghĩ. Bởi vậy, cái ý nghĩa
tinh khôi của danh từ, đã biến chất, trở thành một xác định hiển nhiên
qua nhiều phương cách sáng tạo. Cái tạp đa (diversité) trong văn nghệ
hiện đại, không phải chỉ do sự biến chuyển của những yếu tố cấu tạo
nên ngôn ngữ, nó còn là biểu tượng của sự điều hoà thế hệ, ở một thời
đại có nhiều biến chuyển đột ngột do thời cuộc đẩy tới.
*
Đi vào văn nghệ là đi vào khung trời đầy rẫy buồn phiền với nhiều ray
rứt nội tâm. Cái vòm con sáng tạo treo cao giữa vùng trời suy tưởng,
muôn đời vẫn chỉ là ảo ảnh do mộng mơ sáng tạo. Người làm văn
nghệ nhìn lên cái vòm cong vinh quang để phác hoạ, mong tìm về cho
mình một thuần khiết nào đó, nhưng hỡi ơi! Mỗi lần viết ra, nó lại
biến thể qua ngôn ngữ đê trở thành một vùng ám ảnh, mang nhiều
chứng tích u uẩn với đêm khuya phủ kín mặt người. Nỗi ám ảnh trong
lòng người làm văn nghệ hôm nay, ít nhiều gì cũng trùng hợp với
bóng dáng của F. Scott Fitzgerald [1] với chiều sâu bi đát, với nhiều
đêm mất ngủ, với khủng hoảng tâm trí, trong mỗi suy nghĩ về tình
yêu, cuộc sống và hư vô!
Sự sáng suốt vô tư ở mỗi ý nghĩ hầu như đã biến dạng, chỉ còn lại
chua chát của ngôn từ trong mỗi dòng, mỗi ý được phô diễn qua tác
phẩm để chứng minh sự thật. – Tại sao như vậy? Những người làm
văn nghệ hôm nay, phải chăng bị thôi thúc quá nhiều bởi dục vọng kỳ
bí? Họ muốn tiêu huỷ cho hết, dốc đi cho khô cạn những dòng cảm
xúc đang ứ nghẹn ở nội tâm?
Trước mặt họ, hiện ra một vũ trụ tối đen như niềm tuyệt vọng, không
có cả sự tới gần cõi Siêu hình để đối chiếu tương quan giữa con người
và khách hàng trước Hư vô. Họ như đứng chênh vênh trên bờ vực
thẳm, cong mình ngó xuống: tự đáy sâu bỗng mọc lên sự ô nhục, đớn
hèn và phản trắc. Họ vội ẩn mình vào bản ngã. Họ có cảm tưởng như
kẻ đứng chờ đợi vĩnh viễn ở biên giới của đời sống, không có hy vọng
kinh qua được ngưỡng cửa cách ngăn giữa họ và thực tại.
Họ băn khoăn, mệt mỏi trong cuộc hành trình đi tìm thân phân trước
ba vấn đề: chiến tranh, tình yêu và đời sống.
Cuộc chiến với hai mươi lăm năm hoang phí mà tuổi trẻ chưa một lần
an hưởng trọn vẹn, được hình dung bằng vùng trời đầy huyết lệ, ở đó,
mỗi số phận như bị buộc chặt vào tập thể, vào định mệnh. Nó có đấy
như một kiêu hãnh đồng thời cũng như một nhục nhằn. Chiến đấu cho
tự do, dân chủ, danh từ có phải bàn tay Tuý Hồng đang đong đưa
chiếc “nôi phù thuỷ” vẫy gọi lũ kên kên mở hội ái tình với tiếng thở
dài não nuột! Còn ai kia, đang cất lên tiếng nói độc địa, với dáng điệu
hung hãn, phá phách điên cuồng, có phải vóc dáng Thế Phong với
những mũi nhọn nén vun vút vào cuộc đời để thoả mãn tự ái? Cái
nguồn thương yêu sáng láng và cao cả của tình người giữa những cơn
sóng đảo điên ích kỷ, cũng thổn thức đâu đây, qua tâm tư Nhật Tiến
với khung trời mơ ước thăng hoa. Cách mạng, chiến tranh, phẫn nộ và
tình dục đang quay tít mù giữa cuộc đời đổ vỡ, hình ảnh Thế Uyên im
sững nhìn lũ âm binh mải mê thi hành nhiệm vụ. Nay quê hương, ôi!
Quê hương yêu dấu! Đã bao lâu rồi, tiếng nói kinh hoàng còn cất lên
giữa thinh không bát ngát, gọi về từng chắt chiu kỷ niệm, gọi về dĩ
vãng khoả lấp trong bom đạn mịt mù, với bao nhiêu dang dở! Có phải
Võ Hồng đó chăng? Tiếng nói trang nghiêm vẫn lẩn khuất nỗi u hoài
của thương, của nhớ, của điêu tàn, sụp đổ mơ ước trần gian cùng đắng
cay mãi mãi!...
*
Tiếng nói của văn nghệ hôm nay có lúc nó thì thầm thân mật, có lúc
nó bùng cháy giận dữ, có lúc nó cay đắng, mỉa mai, có lúc nó dâm
loạn, có lúc nó buông thoát, chia lìa!... Trong vùng ánh sáng nghệ
thuật chiếu rọi vào đời sống, từng hình ảnh thấp thoáng chạy quanh,
đuổi bắt nhau, chửng rỡn nhau như những con múa rối. Chiến tranh,
tình yêu và đời sống đã gắn bó từng sự kiện để từ đấy, tạo nên bi
kịch!...
Nghệ thuật hôm nay cách biệt hẳn với nghệ thuật tiền chiến. Nó khoẻ
và sống hơn nhiều, vì nhờ vào những yếu tố thực tế, với bao nghịch
cảnh tác động thẳng vào tri giác, gây phản ứng cho mỗi suy nghĩ.
Chính vì suy nghĩ miên man, nên sự tỏ bày tình tiết trong tác phẩm có
phần nào rắc rối, và đôi khi khép kín nữa, nhằm kích động tò mò đồng
thời cũng để gây hứng thú cảm mỹ. Họ quyết tâm đi theo con đường
đã chọn lựa. Họ muốn những suy nghĩ ấy được trực tiếp truyền cảm,
không cần đi qua cánh cửa lý trí.
Nhưng nghệ thuật vốn cô đơn và buồn rầu, mặc dù chỉ có nó mới đủ
khả năng để nhận định đời sống một cách chân thực nhất. Cái dòng
sống nội tâm của mỗi cá nhân nghệ sĩ, không ở mặt đất, nó sinh động
trong môi trường đặc biệt và bị thúc đẩy vào sâu ý thức, để khám phá
ra từng sự thực che giấu sau mỗi đột biến. Nó đi tìm cái căn bản của
mỗi trạng huống để trình bày thái độ. Nó hướng vào tương lai với cái
nhìn lý tưởng. Nó cũng biết tàn nhẫn bỏ rơi không thương tiếc những
cái bất toàn của xã hội (mù quáng, vô ý thức) và tin tưởng vào lẽ tất
thắng cuối cùng của sức mạnh hướng thiện. Nó là toàn vẹn. Nó không
cần tán tụng, chỉ cần cảm thông. Vì nghệ thuật biểu thị cho niềm tin
vĩnh cửu – thực sự cần thiết cho việc tạo dựng một đời sống chân
thực. Đôi khi nó cũng là tiếng kèn cấp báo trong đêm tối mịt mùng,
hay mang nỗi thất vọng như lời cầu cứu truyền đi trên mặt nước!...
Nghệ thuật có sức mạnh tự tại. Nó lấy đà vượt lên, tạo thành chuyển
động. Chỉ nghệ thuật mới có thể nói lên cái biểu tượng duy nhất đó.
Nếu những người làm văn nghệ để mất đi, thì không còn gì mà tồn
tại. Bổn phận của họ phải giữ gìn cái sức mạnh đó trong suy nghĩ và
ngôn ngữ.
Không biết những người làm văn học nghệ thuật hôm nay, có chia sẻ
phần nào với quan điểm của W. Faulkner về văn nghệ, trong bài diễn
văn của ông đọc khi lãnh giải Nobel, 1950:
… Tôi tin rằng con người không phải chỉ tồn tại một cách đơn giản
mà thôi, nó còn phải chiến thắng. Nó bất tử, không phải vì nó là kẻ
duy nhất trong tạo vật có một tiếng nói bất tuyệt, nhưng bởi nó có
một linh hồn, một tinh thần có khả năng biết xót thương, biết hy sinh
và biết kiên trì. Bổn phận các nhà thơ, nhà văn là phải nói lên những
điều đó…
("Tôi từ chối thừa nhận sự tận cùng của con người")
… Je crois que l’homme ne doit pas simplement durer, il doit
triompher. Il est immortel, non parce qu’il est le seul parmi les
créatures à posséder une voix intarissable, mais parce qu’il a une
âme, un esprit capable de compassion, de sacrifice ed de
persévérance. Le devoir du poète et de l’écrivain est de parler de ces
choses…
("Je me refuse à admettre la fin de l’homme")
W. Faulkner, traduction de L. Jacoël
Cuốn sách này được thực hiện cùng một chiều hướng với cuốn Mười
khuôn mặt văn nghệ, ấn hành năm 1970, nghĩa là kẻ viết chỉ tỏ bày
cảm nghĩ của riêng mình đối với mười nhà văn nghệ hiện diện trong
những trang sau. Do đó, không tránh được chủ quan trong vấn đề chọn
lựa cũng như nhận định giá trị từng người qua tác phẩm và tài năng.
Vì ý thức được sự thiếu sót ấy, nên kẻ viết xin gửi nơi đây lời tạ lỗi
chân thành đến các văn hữu, nếu kẻ viết không, hoặc chưa khám phá
ra những cái Hay, cái Đẹp, cũng như sự trích dẫn chưa đúng mức để
mà sáng tỏ toàn bộ sự nghiệp của mỗi vị.
Sự thực, khu vườn văn nghệ còn nhiều bông hoa đáng quý, đáng kính
khác, hơn một lần, kẻ viết lại cầu mong có hoàn cảnh cùng thời gian
để tiếp tục được hân hạnh, lần lượt viết về những tinh hoa của nghệ
thuật Việt Nam – những người đã phải trả giá đời mình cho văn nghệ.
*
Cuốn sách đang ở trong tay bạn, chắc chắn còn nhiều sơ suất lỗi lầm.
Nhưng dù sao nó cũng được hoàn thành do thiện chí và cố gắng miên
tục, với ngày dài cặm cụi, với đêm khuya đèn chong một ngọn, giam
mình giữa đống sách ngổn ngang. Từng dòng chữ nhảy múa giữa hồn
người mê chữ, ngay cả trong giấc ngủ, mới chợp mắt, ngoài trời đã
dựng sáng.
Những cánh hoa đã thả cho bay theo chiều gió, chả biết có cánh nào
rơi vào vùng trời hằng mơ ước?...
[1]F. Scott Fitzgerald (1897-1941), nhà văn lớn của Mỹ, đã bị
khủng hoảng thần kinh trong khoảng thời gian 1935-1936, khi đang
viết The Crack up (Điên đầu). Sau khi ông mất, di cảo này do nhà
New Directions, New York ấn hành. Nội dung gồm những đoản văn có
tính cách tự thuật với suy nghĩ qua tình yêu đổ vỡ, cuộc sống bi đát và
ám ảnh của những đêm dài ghê rợn, xen kẻ những câu ngạn ngữ. Các
tác phẩm: This Side of Paradise, The Great Gatsby, Tender Is the
Night, The Last Tycoon, đều được phiên dịch qua Pháp ngữ.
Trở về Mục lục
Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn và thủ bút
Sinh ngày: 28-2-1939 tại Lạc Giao. Chính quán: Minh Hương. Soạn
nhạc từ năm 1958-1959
Tác phẩm: 1. Trên ba mươi bản (Ướt mi, Biển nhớ, Lời buồn thánh,
Hạ trắng, Tuổi đá buồn, Nắng thuỷ tinh, Chiều một mình qua phố, Xin
mặt trời ngủ yên…) do các nhà xuất bản An Phú, Ly Tao, Minh Phát
phát hành từ 1959 đến 1965; 2. Tập Thần thoại quê hương, tình yêu và
thân phận do nhà xuất bản An Tiêm và Nhân Bản phát hành 1965-
1966; 3. Ca khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời,
Những tình khúc Trịnh Công Sơn, Như cánh vạc bay, Cỏ xót xa đưa,…
do nhà xuất bản Nhân Bản in ấn lần lượt từ 1966 đến 1970-71.
Trịnh Công Sơn và tiếng ru máu lệ
Tôi là một nghệ sĩ thuần tuý. Tôi chỉ diễn tả những điều gì tôi mơ
ước, nhưng tôi không biết làm cách nào để hoàn thành những mơ ước
của tôi!...
(Trịnh Công Sơn, trích The New York Times, 10-6-1970)
Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, không nhạc sĩ nào có thể tạo cho
mình, cho thế hệ mình, những cơn lốc nghệ thuật làm lay động đến
chiều sâu tâm thức con người ở trong và ngoài kích thước quốc gia
như Trịnh Công Sơn. Trong vòng 4, 5 năm trở lại dây, tiếng nhạc
Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly đã đi hẳn vào đời sống tâm
linh của những trẻ tuổi bằng niềm đau xót và phẫn nộ xen kẽ trong
một hoàn cảnhh không mấy thuận lợi vì tình hình quân sự và chính
trị.
Tiếng nhạc Trịnh Công Sơn đã gieo rắc nỗi ai oán giận hờn bàng bạc
trong vòm cong âm thanh để trở thành niềm ám ảnh khôn nguôi ở mỗi
lương tri hiện hữu. Cái vòm cong đó như một khung trời trong suốt, ở
đấy, mọi cảm xúc được thể hiện rõ ràng qua từng nét nhạc chập chờn,
khắc khoải, với vóc dáng xanh xao, với đêm dài không ngủ, với nguồi
vui chợt tắt trên môi, với dòng lệ hoà theo tiếng gào thét âm vọng tự
cuối trời máu lửa. Trịnh Công Sơn đã rót vào cuộc sống những giọt
cường toan hay mật ngọt? Thân phận con người Việt Nam với 25 năm
chinh chiến đè nặng trên quê hương này có phải chăng, để chứng
minh cho tinh thần bất khuất của một dân tộc đã trải qua nhiều cay
đắng và tủi nhục? Nhưng cuộc chiến hôm nay, với những tan nát có
đấy, đâu phải cuộc chiến thuần tuý quân sự giữa hai quốc gia, nó
đương nhiên là cuộc đấu tranh để chọn lựa chế độ trong một quốc gia
với sự cổ võ, trợ lực ở cả hai phe cộng sản và tư bản.
Sự xác nhận một vị trí, một tư thế giữa hoàn cảnh này, phải chăng là
nhận thức đứng đắn của con người chân chính? Dưới bóng mặt trời
hằng ngày soi tỏ từng khuôn mặt anh em, bạn bè đang bị hút cuốn vào
guồng máy nhập cuộc, Trịnh Công Sơn thoát ra, không phải để yên
thân, hay đóng vai nhân chứng cho lịch sử mà đích thực, Sơn tìm
riêng cho mình lối sống cá biệt với những gì mà xã hội đã quen thuộc.
Do đó, chiều hướng sáng tạo âm thanh của Trịnh Công Sơn trong hơn
100 ca khúc, tuy không cùng chảy chung nguồn cảm hứng, nhưng tất
cả đã khởi hành từ một ý thức, ý thức thê thảm của thân phận làm
người trong một môi trường khốn khó: chiến tranh. Chiến tranh,
chẳng những gây đổ vỡ, tang tóc cho quê hương, cũng vì nó, bao
nhiêu ước mơ phải tàn lụi và tương lai mịt mù vóc dáng. Ai cũng biết
vậy, ai cũng nghĩ vậy, chẳng cứ gì Trịnh Công Sơn, nhưng cuộc chiến
này, mang một hình thái đặc biệt, ở đấy, con người được quyền chọn
lựa chế độ và thái độ trước cuộc sống, do đó, mới cần đến sự góp sức
của cá nhân vào tập thể để bảo vệ cuộc sống mình thừa nhận. Sự
khước từ nhập cuộc của Trịnh Công Sơn trong âm nhạc, thực ra, cũng
chẳng mang lại ảnh hưởng nào tai hại cho cuộc chiến đang diễn ra
từng giờ, từng phút trên mảnh đất khốn cùng từ bao năm. Bằng chứng
hiển nhiên, không chiến sĩ nào vì các ca khúc Trịnh Công Sơn mà
buông súng, từ bỏ vai trò lịch sử của mình. Phải thành thực nhận rằng,
các chiến sĩ trẻ rất mến thích Trịnh Công Sơn, vì nhạc của Sơn đã nói
lên hộ họ những băn khoăn, tiếc nuối, những đam mê cũng như chán
chường của mỗi số phận trong cuộc đời, trước chiến tranh. Nhưng sự
ưa thích ở đây, nằm trong vị trí thuần tuý nghệ thuật chẳng những
không nguy hiểm mà còn giúp ích cho mỗi số phận tự an ủi, vỗ về
bằng những âm thanh chất ngất, bằng ngôn ngữ giao hoà nức nở!... Có
một số người cho rằng, nhạc Trịnh Công Sơn là sự phản bội xương
máu của các chiến sĩ đã hy sinh ngoài mặt trận từ bao lâu, để giữ
vững mảnh đất tự do này, trong đó có Trịnh Công Sơn, gia đình, cùng
bè bạn đang góp mặt. Nhưng cũng có người nghĩ, Việt Nam hiện nay
là quốc gia dân chủ, mọi công dân đều có quyền bày tỏ ý kiến của
riêng mình trong phạm vi này đấy, vì nếu không, còn đâu dân chủ?
Bởi vậy, sự hiện diện của Trịnh Công Sơn như một thách đố.
Thực ra, vị trí của các ca khúc Trịnh Công Sơn chỉ là cái nút an toàn
của chiếc động cơ đang quay với tốc độ khủng khiếp, để tránh một nổ
vỡ bất ngờ nào đó, có thể xảy ra ngoài dự định.
Trịnh Công Sơn vào đời với vóc dáng độc đáo, với những đắm đuối
đến tận cùng của đam mê, hoà trộn cùng niềm đau thương rã cánh của
một tâm hồn ngu ngơ, nhìn cuộc đời với lo sợ và chán chường. Chính
vì những mâu thuẫn nội tâm phát triển một cách quá mạnh mẽ trong
mỗi suy nghĩ, nên tiếng nhạc của Sơn lúc nào cũng choáng váng, ngây
ngất trong từng vũng âm thanh run rẩy, nghẹn ngào để chạy trốn vào
tiềm thức của người thưởng ngoạn. Rồi nó nằm chết trong đó với
buồn thương lãng đãng. Nó đưa con người đi dần vào cơn mê hoặc.
Nó làm cho tâm tư bị vò xé bởi niềm đau không thành tiếng. Nó ray
rứt, đứt nuối trong mỗi ưu tư về thân phận vật vã trước định mệnh.
Nó kéo dài từng cơn mệ loạn làm ngất ngư thân xác.
Ca khúc Trịnh Công Sơn, dù ở bản nào cũng vậy, không mang một ý
tình cứu rỗi, một ân huệ thiêng liêng, nó có đấy như biểu tượng của
oán hờn! Dòng nhạc Trịnh Công Sơn chia làm ba loại: ca khúc viết
cho chiến tranh, ca khúc viết cho tình yêu và ca khúc viết về thân
phận.
Trong loại thứ nhất, Trịnh Công Sơn bị ám ảnh bởi chiến tranh, ở đấy,
tuổi trẻ không còn là một dự tính nữa. Nó hiện diện như loài rong
biển, phó mặc cho chiều nước đẩy đưa đến bến bờ nào đó, hay ngàn
đời phải chìm đắm giữa lòng đại dương mù mịt. Chiến tranh, dù là
cuộc chiến chính nghĩa, thuộc bên này hay bên kia, Sơn không cần
tìm hiểu. Sơn chỉ nghĩ đến sự chết chóc và những cảnh tượng thê
thảm đang vì chiến tranh, tiếp diễn mỗi giờ phút trên mảnh đất nghèo
này, nên Sơn chẳng ngần ngại gì mà tuyên bố với Jean-Claude
Pomonti: Je ne veux pas faire de différence entre les guerres justes et
les autres. (Câu này trích trong bài “Trịnh Công Sơn, ca nhân phản
chiến tại miền Nam Việt Nam” – “Trịnh Công Sơn, chantre de
l’antiguerre au Viêtnam du Sud, phụ trang báo Le Monde số 7570
ngày 17-5-1969). Cũng trong bài, Pomonti cho biết Trịnh Công Sơn
đã làm nhạc vì một rủi ro trong lúc tập Nhu đạo (1959), phải nằm
bệnh trong bốn năm liền. Trịnh Công Sơn sống ẩn dật ở Huế, và cũng
từ đó tiếng dân ca lần đầu xâm nhập vào hồn. Sơn cũng chẳng cần
giấu diếm rằng, mình chịu ảnh hưởng của dân ca cải cách ngoại quốc
qua các ca khúc của Bob Dylan và Joan Baez. Trịnh Công Sơn bắt đầu
sáng tác các ru khúc và ca khúc tình cảm với biểu thức mới, rồi lần
lần tìm kiếm.
Sự tìm kiếm đưa Trịnh Công Sơn đi dần vào nỗi đau của con người
trong cuộc chiến hiện hữu, mà vì lý do thầm kín nào đó, Trịnh Công
Sơn đã chối bỏ không gian mình góp mặt, để thay vì làm cho nó, tại
nó, lại đứng riêng biệt mà khóc than, oán hờn gây nên ngộ nhận.
Chiến tranh không do sự phản đối của một người, một số người, hay
nghệ thuật mà có thể chấm dứt một cách ổn thoả, bình thường. Nhưng
mọi người phải thẳng thắn nhìn vào nó như nhìn vào một sự thật hiển
hiên, rõ ràng như đời sống có đấy, còn đấy, nghĩa là phải chấp nhận,
dù cho sự chấp nhận đi qua một hình thức nào đó, thuận tiện hay bất
lợi đối với mỗi cá nhân đi nữa.
Trịnh Công Sơn đã chấp nhận cuộc chiến này có thật, nhưng chấp
nhận bằng những âm thanh run rẩy, bằng môi cười gượng gạo, bằng
mắt nhìn e ngại, bằng tiếng khóc nghẹn ngào vương vất vây quanh,
Một ngày, ngày đã qua, ôi một ngày chóng qua, một chiều, một ngày
âm thành đã… đã trôi đi không còn gì. Ôi chinh chiến đã mang đi bạn
bè, ngựa hồng đã mỏi vó chết trên đồi quê hương, còn có ai không,
còn người, ôi nhân loại, mặt trời và em thôi!... (“Xin mặt trời ngủ
yên”)
Mỗi ngày qua đi là mất, dù nó qua trong sôi nổi hay âm thầm ở tâm
sự mỗi người. Cái tuổi trẻ, chúng ta đang ôm trong vòng tay quấn
quít, đang nhìn đời bằng đôi mắt hồn nhiên, đang phác hoạ trong tâm
trí muôn vàn mơ ước và những cánh bướm vàng đang đuổi nhau bay
lượn giữa vườn đời mới lớn. Nhưng một ngày đã trôi đi, chinh chiến
đã lấy mất của mình bao nhiêu bạn bè? Có buồn không? Có tiếc nhớ
không? Một tương lai mịt mờ với khuôn mặt chiến tranh làm tàn úa
mộng mơ, làm con-ngựa-hồng-biểu-tượng-của-tuổi-trẻ đã mỏi vó
chết trên đồi quê hương, hay chết giữa hồn mình? Mặt trời, xin mặt
trời hãy ngủ yên, ngủ vĩnh viễn trong không gian này, để đừng bao giờ
tôi phải nhìn thấy nỗi đau đớn đang trải rộng trên quê hương. Và nhân
loại, và em, có còn gì không? Có còn gì không? Trong nỗi xót xa sau
mùa chinh chiến, có chăng, mảnh đất mến yêu này trở lại thuở hồng
hoang, với hình ảnh Liêu trai chập chùng hằng đêm mở hội!...
Niềm than van của ca khúc như lời tuyệt vọng và tiếng hát, ôi! Tiếng
hát đã dìu người nghe vào đến tận cùng ngây ngất. Trong đó, thực và
giả như xáo trộn rồi để lại những dư âm nghẹn ngào, lãng đãng.
Những ngày qua đi, những ngày còn lại với vết thương in đậm trong
hồn người. Hằng ngày, hằng đêm từng cảnh tượng đi qua, đi qua trên
khuôn mặt người già, trong tâm trí rối loại người điên, trong xác chết,
trong tiếng bom, tiếng súng vây quanh, với 25 năm hoả châu thay mặt
trời thắp sáng nhân gian. Mẹ Việt Nam , quê hương ruộng vườn ta đó,
nay còn gì? Chỉ còn màu đất loang đỏ, chỉ còn đàn bò không luống cỏ
và ngày dài của quê hương chỉ còn lại đau buồn trong màu da vàng
bệnh hoạn. Ca khúc “Ngày dài trên quê hương”, nếu xét trên phương
diện đấu tranh, đúng là ca khúc phản chiến. Nó đã thê thảm hoá cuộc
chiến mà miền Nam chỉ đóng vai trò thuần tuý tự vệ. Thành phố kia,
đồng ruộng này nếu có xơ xác và điêu tàn như vậy không phải do
chúng ta khơi nguồn máu lệ! Sự có mặt hàng hàng lớp lớp thanh niên
hiện diện dưới bóng cờ chẳng phải vì ham thích sự chém giết nhưng
đích thức, có mặt để gìn giữ những gì mà họ có nhiệm vụ phải gìn
giữ, dù vì bổn phận chứ không do ý thức. Nhưng đứng trên bình diện
nghệ thuật để phê phán và xác định, thì ca khúc “Ngày dài trên quê
hương”, chỉ là sự tỏ bày nỗi ai oán của cá nhân trước súng đạn với lo
âu, căm thù và đau đớn thay, cuối cùng lại nhận thức ra mình xa lạ
ngay cả với quê hương, đồng bào ruột thịt.
Nhưng dù ở trạng thái nào, Trịnh Công Sơn vẫn vì hai chữ Việt Nam
để phải nói lên những điều cay đắng. Tiếng ru của người mẹ đã tự đáy
linh hồn dân tộc cất lên như tiếng khóc rã rời, mệt mỏi vì cảm thấy sự
không-thuộc-về-mình, những gì mình muốn, mình nghĩ.
Con ngủ đi, đứa con của mẹ da vàng. Ru con đạn nhuộm hồng vết
thương… (“Ngủ đi con”)
Tiếc thay, tiếng ru chỉ là tiếng than thở. Đàn con khi lớn lên vẫn ra
chiến trường, để mẹ ê chề, tủi cực. Tiếng ru đã hai lần cất lên, cả hai
lần đều bất lực. Chúng đã khôn lớn, tự hành động, tự chọn lựa đường
đi dù có làm buồn mẹ!
Hoàn cảnh Việt Nam trong quá khứ và hiện tại, vẫn là sự tiếp nối
không ngừng của lịch sử, cũng vì lịch sử mà mẹ Việt Nam, hay một
biểu tượng nào đó, được nhạc sĩ dùng để nói về đất nước này cũng chỉ
là ý niệm, ý niệm một cách thê thảm rằng, cái chết hay cái sống của
mỗi số phận nó ở ngoài quyết định của mỗi người. Đứa con gái da
vàng yêu quê hương như yêu thân mình chợt ôm tim, chợt lìa cuộc
sống mà đất nước vẫn u mê trong căm thù, oán hận!
Những ca khúc viết về cuộc chiến của Trịnh Công Sơn, đều mang bên
trong nó, đời sống riêng. Cái đời sống thứ hai đó, không phải ai cũng
thấy, ai cũng biết, khi nghe nhạc Trịnh Công Sơn, nó chính là lương
tri trước cuộc chiến, ẩn nấp sau ngôn ngữ, qua giọng buồn đứt nối của
âm thanh. Cái lương tri đó không được nói thẳng với mọi người, nó
chỉ như chiếc bóng chập chờn thoáng hiện, thoáng mất, mà mỗi người
sẽ tìm thấy ở lòng mình khi chợt bàng hoàng, thảng thốt, vì có anh
em, chồng con vừa gục ngã đó đây…
Trịnh Công Sơn đã nói thật những gì ẩn nấp trong đầu, qua ngôn ngữ
và âm nhạc, nhưng chính điều nói thật này, hàm chứa thiên vị và
phiến diện, nên thay vì vô tư, nó trở thành bất lợi cho một phía mà ở
đó, sự có mặt của mỗi người là để bảo vệ, nếu không, cũng đừng làm
hại nó vì ngộ nhận hay ích kỷ. Chính vì không nhìn thấy và không
đoán biết những gì thuộc phía bên kia, nên phần nào Trịnh Công Sơn
chủ quan, khi phổ biến ý nghĩa của riêng mình trong vấn đề chung của
quốc gia. Tiếng bom có rơi ở xóm làng nào đó, đại bác đêm đêm có
vọng về thành phố nữa đi, thì thái độ của con người có ý thức không
thể như người phu quét đường dừng chổi đứng nghe được. Cái thái độ
dửng dưng chắc chắn không phải điều cần thiết đối với người miền
Nam. Khi dùng hình ảnh này, Trịnh Công Sơn muốn nói lên sự bất lực
của con người trước những thảm hoạ tuy không muốn, vẫn phải
chứng kiến và mỗi số phận đều phải gánh chịu cái sự thực hiển nhiên
đó mỗi ngày, mỗi đêm…
Nhưng chẳng phải chỉ bấy nhiêu, với những dữ kiện được trình bày
trong các ca khúc viết về chiến tranh, đích thực nó còn mang nặng
niềm đau đớn của từng số phận bị chiến tranh vùi lấp trong một cảnh
ngộ nào đó. Các địa danh nổi tiếng về những trận giao tranh ác liệt
như Pleime, Chiến khu Đ, Đồng Xoài, Chu Prong, Ashau, A Lưới
v.v… được ghi nhận như những chứng tích tuyệt đỉnh của bi thương.
Người yêu, người yêu hỡi! Tại sao lại có thể như vậy? Cái chết không
thoải mái nằm cong queo ở một lòng đèo, hay cái chết nghẹn ngào
không manh áo, hoặc cái chết lạnh lùng giữa rừng núi mịt mùng
chẳng hẹn hò, có phải chăng để nuôi sống Việt Nam? Lẽ dĩ nhiên như
vậy. Chiến tranh là một trò chơi tàn bạo, không ai muốn, nhưng khi đã
chấp nhận nó với một ý nghĩa, thì mọi sự hy sinh phải được coi như
thần thánh. Nếu không có những cái chết đèo, hoàn cảnh sinh hoạt
miền Nam đã đổi thay và chắc chắn tiếng hát Khánh Ly sẽ thôi ngân
dài ứ nghẹn đau trong kích thước phòng trà, hay một thính đường nào
đấy, với tiếng vỗ tay của người mộ điệu đang có mặt bình yên, thoải
mái để thưởng thức nhạc Trịnh Công Sơn. Tâm hồn nghệ sĩ, đúng ra
chỉ là tấm phim lớn ghi nhận những hình ảnh do cuộc đời để lại.
Những hình ảnh tốt cũng như xấu, chồng chất lên nhau, trong hồn
người nghệ sĩ. Bởi vậy, nếu cơn đau nào có đến, ý nghĩ giận hờn, phẫn
nộ nào có làm điên cuồng trí não, hay nguồn yêu thương êm dịu nào
có xoa mát thịt da, cũng đều là phản ánh do cuộc đời đẩy tới. Kẻ nghệ
sĩ không phải thần thánh, mà cũng chẳng có uy quyền cho lệnh hoặc
cải tạo xã hội theo ý muốn của mình, bởi vậy, mỗi khi gặp ngang trái,
gặp cảnh ngộ không vừa lòng, tự nhiên bật ra than thở để trút nhẹ oán
hờn! Có lúc nào Trịnh Công Sơn vô tư nhất, thanh thoát nhất, dù nói
về Việt Nam máu lửa, nhất là một Trịnh Công Sơn đi tìm quê hương,
đi khâu vá tình thương đất nước, trong căn nhà nhỏ, đèn mờ sáng, ngủ
quên non nước, để cho thịt xương phưoi trắng đôi miền. Ở ca khúc
này, người nghệ sĩ đã nhận diện được cuộc chiến hiện tại không do
một phía, nhưng vì tương lai, vì ruộng đồng, xin mở tan xích xiềng vô
hình trói buộc tự do. Cái tự do trong ca khúc “Đi tìm quê hương” là
cái tự do của một dân tộc, người nhìn người không e ngại và mọi ý
thức hệ dẫn đường không nằm trong chủ nghĩa này, chủ nghĩa nọ làm
con người ly tán.
Trịnh Công Sơn, đã chứng kiến cuộc tổng công kích của Việt cộng hồi
Tết Mậu Thân vào kinh đô Huế. Sơn đã nhìn thấy tận mắt cảnh chém
giết hung tàn do cộng quân gây ra. Đã nhìn thấy bao nhiêu đổ vỡ, bao
nhiêu nát tan, đau xót. Đã sống những giờ phút hãi hùng giữa lòng
chiến trận với những xác người chết không kịp trối trăn, không kịp
nhắm mắt và còn nhiều nữa!... Cảnh tượng này đã gây xúc động thực
sự trong hồn Sơn với ca khúc: “Hát trên những xác người”:
Chiều đi lên đồi cao
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy
Tôi đã thấy
Trên con đường người bồng bế nhau chạy trốn
Tôi đã thấy
Bên khu vường một người mẹ ôm xác đứa con…
…
Tôi đã thấy
Người cha già ôm con lạnh giá
Chiều đi qua bãi dâu
Hát trên những xác người
Tôi đã thấy những hầm những hố
Đã chôn vùi thân xác anh em…
Thảm cảnh tàn sát ở Huế còn được Trịnh Công Sơn khóc vật vã trong:
“Bài ca dành cho những xác người”:
Xác người nằm trôi sông
Phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố…
…
Xác người nằm bơ vơ
Dưới mái hiên chùa
Trong giáo đường thành phố…
Những xác người đó, có già, có trẻ, có em bé thơ ngây nằm trong mưa
lạnh, cái lạnh căm căm của mùa xuân xứ Huế với hoa đào chưa phai
màu phấn bướm.
Đi từ phẫn nộ, tiếng nhạc Trịnh Công Sơn lả vào cầu khẩn với ước
mong lời nói của mình được chấp nhận. Hoà bình, ai mà chẳng muốn.
Hai tiếng đó như lời kêu gọi thầm kín trong tâm tư mỗi con người
thương nước. Nhưng 25 năm đã trôi qua rồi đấy và cảnh xương trắng
chất thành non, đâu phải lỗi ở người miền Nam, lỗi ở một chế độ khát
máu, mà thực ra, do sự giằng co giữa hai thế lực vĩ đại quốc tế. Trịnh
Công Sơn biết chắc điều đó, nên cất lên lời cay đắng:
… Kinh Việt Nam là những tiếng kêu thương thống thiết.
Khởi từ một thực trạng máu xương
Kinh Việt Nam cũng là lòng mơ ước về một rạng đông cho đêm tối dài
lâu này. Những bài ca được viết từ những hân hoan lắng nghe được
trong lòng người. Đó là nỗi hân hoan của đám đông chờ mong ngày
hồi sinh… (“Kinh Việt Nam”)
Nội dung các ca khúc trong hai tập nhạc Kinh Việt Nam và Ta phải
thấy mặt trời đều tỏ bày sự mong mỏi thanh bình qua những nét nhạc
trầm hùng, nhưng vẫn không xoá hết được ray rứt, đắng cay.
Nơi đây tôi chờ
Nơi kia anh chờ
Trong căn nhà nhỏ
Mẹ cũng ngồi chờ
Anh ngồi chờ trên đồi hoang vu
Người tù ngồi chờ bóng tối mịt mù
Chờ đã bao năm
Chờ đã bao năm
Chờ đã bao năm?...
(“Chờ nhìn quê hương sáng chói”)
Chờ đợi là điều nhục nhằn với trăm vạn lo buồn. Niềm tin tưởng cũng
như hy vọng đến gần hay xa đi, đâu phải tự mình quyết định mà do
vận nước. Cứ nghĩ như vậy may ra tránh được thất vọng trong công
trình nuôi dưỡng hy vọng.
Chẳng cứ gì ở những ca khúc viết về chiến tranh và quê hương. Trịnh
Công Sơn mới có những dằn vặt, xót xa đâu. Nhạc tình của Sơn là sự
giao thoa của âm thanh và ngôn ngữ thi ca cũng nói lên đầy đủ ý
nghĩa trên. Tiếng nói của tình yêu và tuổi trẻ đối với Trịnh Công Sơn,
hình như muôn thuở vẫn chỉ là lời dặn dò của ly cách. Những câu ân
tình biến thành giọng than van thê thiết, với từng âm giai lả lả trôi về
nẻo quạnh hiu nào đó. Sự cuồng nhiệt, đam mê bỏng cháy ở đầu môi
không thuộc về nét nhạc của Trịnh Công Sơn.
Có lẽ định mệnh đã đưa đường tài năng, nên dù ở chiều suy tư nào,
Sơn cũng cố tìm về cho mình những góc cạnh đau thương với những
hoài nghi, chán chường. Ngôn ngữ đi qua nhạc như nhức mỏi, buốt
giá, làm tê cóng tâm hồn,
… Trời còn làm mưa, mươi rơi, mưa rơi!... Từng phiến băng dài trên
hai tay em xuôi, tuổi buồn em mang đi trong hư vô ngày qua hững
hờ!...
Trời còn làm mưa, mưa rơi, mưa rơi
Từng phiến mây hồng em mang trên vai tuổi buồn như lá, gió mãi
cuốn đi quay tận cuối trời!...
Âm thanh lướt đi nghe tha thiết, nghẹn ngào rồi kéo dài trong không
gian như cơn gió đêm thu thổi lùa giữa rừng sâu. Nhạc tình của Trịnh
Công Sơn, hay, hay lắm. Nó đắm đuối trong khung cảnh hoang sơ mà
con người có mặt như những chứng tích lạc loài. Từng chùm hoa dã
thảo thả xuống tự trời cao bay bạt ngàn trong không gian bát ngát.
Tiếng hát, ôi tiếng hát đã cất lên thăm thẳm mịt mùng như bủa vây
nỗi buồn không vượt thoát. Tiếng hát dìu âm thanh đi đến cuối trời
tiếc nuối, ở đó, đã chờ sẵn biệt ly. Thời gian mong manh, tuổi đời
mong manh, hy vọng mong manh, tình yêu mong manh, tất cả những
mong manh đó như muốn ta ra, muốn xoá nhoà vào hư vô, để cát bụi
lại trở về cát bụi. Tâm hồn Trịnh Công Sơn hình như bị quấn chặt bởi
lớp lớp bi thương, nên dù cho tình yêu có đến, hoa đời có ngát hương,
chăn chiếu đời có nồng men ân ái thì với Sơn, nó vẫn là ảo tưởng, vẫn
cho đau buồn hơn nguồn vui, vì nguồn vui không nằm trong khuôn
khổ cuộc sống hôm nay:
Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ
Dài tay em mấy thuở tóc xanh xao
Nghe lá thu rơi reo mòn gót nhỏ
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu
Mưa vẫn hay mưa trên hàng lá nhỏ
Buổi chiều ngồi ngóng những chuyến mưa qua
Trên bước chân em âm thầm lá đổ
Chợt hồn xanh buốt chi mình xót xa…
(“Diễm xưa”)
Ca khúc “Diễm xưa”, một ca khúc rất nổi tiếng chẳng những trong
nước, mà còn ở quốc tế. Đại hội Dân ca Quốc tế lần đầu tại Nhật Bản
vào tháng 11-1970, tiếng hát Khánh Ly đã làm cho hàng vạn con
người say mê âm nhạc lắng nghe, ngưỡng mộ. Khánh Ly cũng đã trình
bày ca khúc này bằng tiếng Nhật tại Expo 70 – Osaka, được hoan
nghênh nhiệt liệt. Có lẽ, trời bắt giọng ca Thái Thanh thuộc về Phạm
Duy, thì tiếng hát Khánh Ly phải dành cho Trịnh Công Sơn. Sự thành
công của Trịnh Công Sơn hôm nay, một phần nhờ vào tài trình diễn
của Khánh Ly vậy.
Tiếng hát Khánh Ly có âm hưởng đặc biệt. Nó không cao vút, hoặc
thanh thoát ở giọng hát bình thường. Nó ẩm đục, vướng nghẹn như
niềm vui chợt mất. Nó bâng khuâng như cơn mưa vội đến. Nó tuyệt
vọng như cánh chim non bay lạc trong cơn giông tố mịt mù. Nó đam
mê giữa hơi thở chán chường. Nó khóc ngất rồi lịm chết trong nguồn
đau vô hạn! Tiếng hát hình như có pha rượu và khói thuốc của từng
khuya quên ngủ. Nó rót vào hồn người những thanh âm não nùng ngất
ngất!...
Tình yêu, tình yêu nào đó, phải chăng để đánh lừa mỗi số phận hay để
ghi dấu trong hồn từng hình ảnh qua đi, với nỗi ưu phiền giữa vùng u
tối!
… Tình yêu xứ này
một lần hiện tượng
một lần bão nổi
giã từ giã từ
chiều mưa giông tới
em ơi em ơi
sầu thôi xuống đầy
làm sao em nhớ
mưa ngoài sông bay
lời ca anh nhỏ
nỗi lòng anh đây
sầu thôi xuống đầy…
(“Cuối cùng cho một tình yêu”, thơ Trịnh Cung)
Đối với Trịnh Công Sơn chẳng những cuộc đời là không trọn vẹn,
ngay cả tình yêu cũng chỉ là sầu nhớ, mộng mơ! Vì thế, nét nhạc tình
của Sơn luôn luôn bải hoải cung bậc, nhưng cái bải hoải ở đây không
chứa đựng thất bại mà nó chứng minh cái nhìn của Sơn về tình yêu
không nằm trong ước lệ bình thường. Nó là vóc dáng tuyệt đối của cái
Đẹp xuyên qua ý nghĩ. Nó là tuổi trẻ đi tìm bóng mình qua kẻ khác.
Từng dòng lệ trôi đi, từng cánh lá trôi đi, từng ngày tháng trôi đi và
tuổi trẻ này với cơn đau ấy cũng trôi đi, tôi đi mãi mãi:
Tuổi nào nhìn lá úa vàng chiều nay
Tuổi nào ngồi hát mây bay ngang trời
Tay măng trôi trên vùng tóc dài
Bao nhiêu cơn mưa vừa tuổi này
Tuổi nào ngơ ngác tìm tiếng gió heo may
Tuổi nào vừa thoáng buồn áo gầy vai
Tuổi nào ghi dấu chân chim qua trời
Xin cho em tay còn muốt dài
Xin cho cô đơn vào tuổi này
Tuổi nào lang thang thành phố tóc mây cài…
(“Còn tuổi nào cho em”)
Nhưng cái tuổi thơ ngây đó đã hết rồi. Mây đã vây quanh giọt sầu và
bàn tay che giấu lệ nhoà vì khóc ngàn thu, tháng năm van nài cho
nguôi mong chờ cũng không một lần trả lại. Nhạc tình Trịnh Công
Sơn đều đi chung khuôn thức. Ở đấy buồn, thương pha trộn, cuối cùng
là bâng khuâng, tưởng tiếc trong âm thanh ngất ngây. Tiếng ru của
người mẹ, hay tiếng ru dành cho cuộc tình với ngôn ngữ mặn nồng
qua dòng tóc, phiến môi mềm, trên bàn tay gầy, trên mùa lá xanh rồi
tiếng mưa sẽ ru em ngủ với mộng mơ còn đó, nhưng dáng em vẫn trôi
dài và tiếng ru này ngàn năm vẫn không phai giận hờn định mệnh!
Có lẽ Trịnh Công Sơn bị ám ảnh quá nhiều về cuộc chiến, nên ngay
trong tình yêu, vẫn thấy thấp thoáng nỗi lo sợ nào ẩn nấp giữa chiều
sâu tiềm thức, và tình yêu chẳng phải những lời hò hẹn ngay tình, nó
được hình dung qua nỗi buồn và nước mắt.
Trịnh Công Sơn không tin vào cuộc đời có mặt và sự đoán biết nào
đó, chỉ là những bóng mây bay lang thang trên trời cao chờ điều kiện
vật lý vừa đủ, biết chất thành mưa. Bởi vậy, cái tuổi trẻ mỗi thanh
niên mang trên vai hôm nay, nó cũng như những đám mây kia, chờ
giờ phút nào đó sẽ hoà tan vào cơn mưa máu lửa,
Tôi ru em ngủ một sớm mùa xuân
em hôn một nụ hồng
Hỏi thăm về giọt nắng
Tôi ru em ngủ hạ cũng vừa xong
em hôn lên tay mình
Để chua xót tình trần…
("Tôi ru em ngủ")
Mình hôn lên tay mình, một hình ảnh vừa đẹp vừa mỉa mai, có nghĩa
là cô đơn vẫn còn đó, tình yêu chỉ là đắng cay. Bởi vậy, dù cuộc tình
có lên cao vút cũng mỏi cánh xa lìa bầy, rời bỏ đường bay. Cơn buồn
phiền của tình yêu trong nhạc Trịnh Công Sơn nó kéo dài theo năm
tháng. Nó là trái chin trên cây rụng rời, nó như dòng sông nước cuốn,
nó như chiếc lá lìa cành và mong manh như nắng, như hồn mình vá
khâu…
Tình yêu như vết cháy trên da thịt người
Tình xa như trời, tình gần như khói mây
Tình trầm như bóng cây, tình reo vui như nắng
Tình buồn làm cơn say
…
Tình yêu như cơn bão đi qua địa cầu
Tình thắp cơn sầu, tình dìu qua hố sâu
Tình vời lên núi cao, rồi trong cơn yêu dấu
Tình đầy tình xa nhau…
(“Tình sầu”)
Như đã nói, nguồn cảm hứng của Trịnh Công Sơn không chỉ ở trong
môi trường phẫn nộ, hoặc bàng bạc trong tình yêu với tuổi trẻ hư
không, nó còn quay nhìn thân phận. Những ca khúc viết về thân phận
cũng chỉ là đi tìm cái hữu hạn của kiếp sống. Sự hiện diện của mỗi số
phận bắt buộc phải đi qua một khoảng thời gian nào đó, do định mệnh
an bài và cái không gian vô tình phải nhận diện. Theo Phật lý, đó là
nhân quả, là luân hồi, là sự sinh trưởng không ngơi nghỉ và biến hoá
vô cùng để phát triển, tạo nên cái “nghiệp” cho số phận. Con người đã
ai thoát khỏi vòng: sinh, bệnh, lão, tử và ba chữ: tham, sân, si dễ gì
tránh được? Nên cái thân phận khốn khó mà mỗi kiếp người phải
mang nặng, không nằm trong phạm trù riêng, nó trải rộng ra cả thế
gian này với những sai biệt xuyên qua cung số.
Cát bụi lại trở về cát bụi, câu nói nhuốm đầy bi quan nhưng rất thực
tế. Vì:
… Ta ở, ta đi đời vẫn vô tình
Như ta chửa bao giờ có mặt!...
(Thơ Hoàng Trinh)
Chính vì sự vô tình của cuộc sống cũng như thiên nhiên, đối với mỗi
cá nhân nên mới có người chán đời quyết giã từ cõi sống. Trịnh Công
Sơn chưa đi vào con đường tuyệt vọng đó, nhưng những ca khúc viết
về thân phận ít nhiều gì cũng mang nặng trong nó, nỗi thống khổ của
riêng mình trước bao canh trần gian.
Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi
Để một mai vươn hình hài lớn dậy
Ôi cát bụi tuyệt vời
Mặt trời soi một kiếp rong chơi
Hạt bụi nào hoá kiếp trong tôi
Để một mai tôi về làm cát bụi
Ôi cát bụi mệt nhoài
Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…
(“Cát bụi”)
Rồi những năm, những tháng, kiếp người phải kéo lê trong vòng
cương toả của xã hội với bao cố gắng, bao đam mê, bao thất vọng.
Nhìn cuộc đời có đấy với lá úa, với mái tóc như vôi, với mặt trời soi
sáng con ttim, hun nóng từ ngày này qua ngày khác để biến tình yêu
thành đá cuội, và cái vũng hư không lúc nào cũng mở ra chào đón con
người trở về cát bụi. Nhưng con người, sự thực, vẫn không chấp nhận
dễ dàng quan điểm đó. Nó vượt lên bằng ánh sáng tâm linh, nó phản
đối lại cái hữu hạn bằng cách tìm miên viễn qua ý thức, nó trộn lẫn
hai miền sống chết để thấy rõ ý nghĩa Vô thường. Do đó, nó tồn tại
trong dòng sống như một vòng quay không đứt đoạn, nối tiếp và nối
tiếp…
Tiếng khóc than vây quanh đây đó. Từng ngày rồi từng ngày trôi đi.
Quạnh hiu quá chăn chiếu trần gian, dù trần gian có mắt ai đẹp, có
môi ai xinh, cũng chỉ là quạnh hiu! Đang ở giữa tuổi thanh xuân,
Trịnh Công Sơn đã nhìn thấy trăm năm, với vóc dáng nghĩa trang
trước mặt, mỗi khi nghĩ về kiếp sống. Lời trăn trối đó gửi đi từ đáy
thẳm tâm linh cũng chỉ là tiếc thương im vắng!
Con người ở đâu, từ đâu tới và trở về đâu, câu hỏi đó hình như chưa
ai trả lời minh triết được, nên băn khoăn vẫn còn nguyên vẹn. Cuộc
hành trình đi tìm Vô cùng vẫn giữ kín trong vóc dáng hai chàng Lưu
Nguyễn thuở nào. Từ hoang xưa tới hiện tại, vẫn nhịp đời đó thôi, và
con người, được Sơn hình dung như một vật vô tri lăn mình giữa cuộc
thế, với phiến đá ưu phiền có in dấu chân muông thú.
… Người đi phiêu du từ đó chưa thấy quê nhà, rộng đôi cánh ta chờ
mong
Người đi chợ nhớ mình như đá
Đá lăn, vết lăn buồn…
… Từ cơn đau ấy lưu thân mỏi mòn
Ôi mắt than van xin lời thánh đêm…
(“Vết lăn trầm”)
Nghĩ về thân phận tức là truy nguyên nguồn gốc sự sống, muốn tìm về
an ủi trong nỗi bơ vơ, sợ hãi. Người đi lên đồi cao, bước xuống lũng
thấp, đi hỏi mưa, hỏi gió, hỏi rừng, hỏi mây, hỏi suối, hỏi sông, hỏi
thăm về đời mình hoang vu, hỏi dòng nước lũ rời nguồn gặp đại
dương, đại dương nói thầm về kiếp người với ăn năn và rêu phong,
nên người thắp nến trong đêm thay mặt trời để soi tỏ Hư vô. Người đi
trong cay đắng, người cúi xuống cho máu ngược dòng để làm nước
tưới cho cây khô cành lá, cho bóng mình làm xót xa mặt trời, nghe
tim rạn vỡ, nghe lòng bâng khuâng.
… Cúi xuống thật buồn cho nước sông cuồn cuộn
Hai mươi năm no tròn tuổi biết đau thương
Cúi xuống cho tắt nụ cười cho chút da thịt người
Tuy tan hoang vẫn còn bóng mát che ngang…
(“Cúi xuống thật gần”)
Có buổi nào đó, khi thức giấc chẳng nhìn thấy mặt trời, những hình
bóng người vây quanh hôm trước nay bỗng nhiên vắng mặt. Ngay cả
cuộc tình cũng mất tiếng cười. Con người cảm thấy mình lạc loài, bơ
vơ. Bàn tay mẹ hiền cũng không còn nữa va chiếc nôi trống rỗn không
ấm lời ru:
… Hôm nay thức dậy ôi ngẩn ngơ tôi
Hôm nay thức dậy mê mỏi thân tôi…
(“Xa dấu mặt trời”)
Trịnh Công Sơn đang sống, đang đuổi bắt mộng đời qua những vòng
hoa ân thưởng. Cuộc sống ồn ào quấn chặt mỗi con mồi vào đấu
trường rực lửa. Từng con mắt đỏ đọc, từng cặp môi mím lại, từng
hàm răng nghiến chặt, từng thân người như những thân cây dựng lên
thành luỹ. Và những tiếng kêu, những cơn gào thét, những lời nguyền
rủa, những câu khóc than, những chuỗi cười ô nhục, tất cả như mê
mải, như hối thúc đi vào những ô không gian dành riêng cho chúng.
Nhưng ngoài chúng, đích thực, còn có những phút im lặng, những
ngượng ngùng e thẹn, những tủi nhục không nói nên lời, những khắc
khoải buông trôi qua tiếng thở dài não nuột của nhiều khuôn mặt đang
cúi xuống!... Vì:
Chúa đã bỏ loài người
Phật đã bỏ loài người
Này em, em cứ phụ người
Này em, xin cứ phụ tôi…
… Này em có nhớ cuộc đời
Này em có biết loài người
Này em có nhớ gì tôi…
(“Này em có nhớ”)
Niềm tin cuối cùng đã mất, từ đây Trịnh Công Sơn có thể làm một kẻ
lãng du vô trách nhiệm đi rong chơi giữa cuộc sống. Cái vòng lẩn
quẩn sáng, trưa, chiều, tối kia nó bắt buộc con người phải tuân hành
luật thời gian. Biết rằng phi lý, vẫn cứ phải níu lấy phi lý mà hành
động. Tiếng chân mình gõ lên nền sỏi đá hôm nay là in dấu chân mình
hôm trước để ngày mai đây, bước lại nhịp đầu. Con người muốn tung
mình lên, muốn vứt mình qua khỏi sự nhàm chán đó, nhưng cơm áo
ngày ngày bắt mình cúi đầu chấp nhận:
Một ngày như mọi ngày, em trả lại đời tôi
Một ngày như mọi ngày, ta nhận lời tình cuối
Một ngày như mọi ngày, đời như mây như khói
Một ngày như mọi ngày, mang nặng hồn tả tơi…
…
Một ngày như mọi ngày, từng mạch đời trăn trối
Một ngày như mọi ngày, đi về một mình tôi…
… Một ngày như mọi ngày, từng chiều lên hấp hối
Một ngày như mọi ngày, bóng đổ một mình tôi…
(“Một ngày như mọi ngày”)
Tiếng nhạc Trịnh Công Sơn hôm trước, như lả vào khung trời bi thảm
của cô đơn. Những ca khúc với cung bậc chan hoà máu lệ, với cơn
giận dữ khôn nguôi, với muôn vàn hệ luỵ, rốt cuộc, vẫn chỉ tiếng than
van của một tấm lòng tích luỹ quá nhiều đau đớn, quá nhiều cay đắng.
Từng âm thanh nấc nghẹn như tiếng khóc thầm với lời ca nấn nuối
của kẻ đi vào thất vọng! Nhưng Trịnh Công Sơn hôm nay, qua những
ca khúc mới nhất trong tập nhạc Như cánh vạc bay và Cỏ xót xa đưa
đã dấn thân vào một tìm kiếm. Trịnh Công Sơn muốn kinh qua sự
nhàm chán của hoàn cảnh cũng như nghệ thuật. Vì nghệ thuật là tiến
hoá, là sự vươn tới không ngừng của ý thức. Những ca khúc gần đây
nhất đã cho người thưởng tâm thấy có sự “chuyển mình” trong nét
nhạc cũng như ngôn ngữ. Đúng, Trịnh Công Sơn đang cố gắng viết
đơn giản từ lời ca đến câu nhạc. Các giai điệu (mélodie) đã bớt dần
tính cách mô tả để nghiêng dần về nhạc kể (récilatif) hơn. Sự kiện này
rất quan trọng, vì ở thể mô tả, nét nhạc được tỏ bày bằng những âm
giai lê thê, để nói hết những gì, nội dung muốn đạt tới hay cần phải
chuyển tới người nghe. Ở thể nhạc kể, nét nhạc cô đọng, hàm chứa
trong nó hiệu năng truyền cảm không bị gò bó bởi phách, do đó, ý
thức nghệ thuật cao và giản dị hơn. Tính chất mới trong nhạc Trịnh
Công Sơn hôm nay, ở một vài ca khúc có các đoạn ngắn, một, hai
phách (mesure) và âm tiết (accent) nghiêng về biểu hiện, để diễn đạt
một vài nội dung của lời ca. Trịnh Công Sơn muốn tránh bớt cái tính
chất gọi là “hát hò” quanh một nội dung buồn bã.
Đối với Trịnh Công Sơn, hơn 10 năm làm nhạc, với những ca khúc đã
nổi tiếng trong và ngoài nước, Sơn chỉ coi như giai đoạn tập dượt, học
hỏi và thử thách. Sơn đang suy nghĩ và tìm kiếm chiều hướng mới
cho nét nhạc của mình. Sự tìm kiếm đòi hỏi nhiều điều kiện trong đó
có phần tự vượt. Trịnh Công Sơn hiểu rõ điều ấy, nên rất thận trọng và
âm thầm nghiên cứu, tìm tòi để tiến bộ. Ý thức được tiến hoá, nên
Trịnh Công Sơn không bao giờ chủ quan trong vấn đề sáng tác. Vì
cuộc sống không làm gì có chân lý tuyệt đối, ngay cả nghệ thuật.
Montaigne, nhà đạo đức học của Pháp ở thế kỷ XVI, đã khám phá ra
sự bất lực của con người trong vấn đề đi tìm chân lý và công bằng rồi
đó! Tìm chân lý không thấy, con người đi tìm tiến hoá. Điều kiện tiến
hoá làm cuộc sống đổi thay, suy nghĩ đổi thay, nghệ thuật đổi thay
v.v… Âm nhạc cũng đổi thay không ngừng từ thể nhạc, cách cấu tạo,
hình thức phô diễn tư tưởng cũng như nhạc ngữ. Cái bí ẩn của đời
sống vốn là một bất toàn (imparfait) và ngược lại, vì thế, người nghệ
sĩ phải tìm Tuyệt đối trong Tương đối, tìm Vô hạn trong Hữu hạn, tìm
Vô thể trong Hữu thể. Vấn đề này được biểu hiện rõ trong địa hạt
nghệ thuật mới hôm nay, nói chung.
Trịnh Công Sơn ý thức được tiến hoá, tức là đã đi vào chiều hướng
mới. Người yêu nhạc Trịnh Công Sơn có thể đoán biết qua ngôn ngữ
bình dị, thứ ngôn ngữ bắt nguồn từ đời sống, vì ngôn ngữ không có
đời sống không làm ai rung động. Đúng như vậy, các ca khúc của Sơn
hôm nay nó thanh thoát, giản dị hơn nhiều, dù rằng những âm tiết vẫn
uất nghenj, thê thiết vì thế cuộc, nhưng nó chỉ là một khởi đầu, một
thành hình chưa toại.
Trịnh Công Sơn còn trẻ lắm. Tương lai còn đầy ắp phía trước nên
những mơ ước, dự tính đều được thời gian ủng hộ. Những bất ngờ
đang chờ đón trong ca khúc Trịnh Công Sơn ngày mai, với ân tình
thắm thiết trong lòng những yêu nhạc như yêu đời sống của mình.
Tất cả mọi người đều biết, các ca khúc viết về chiến tranh của Trịnh
Công Sơn bị chính phủ cấm hát ở Đài Phát thanh và vô tuyến truyền
hình từ mấy năm nay, vì nó phản chiến, làm phương hại đến thời gian
đấu tranh của dân tộc. Sự cấm đoán đã gây xúc động mạnh mẽ trong
dư luận. Được ký giả J. C. Pomonti hỏi về vấn đề này, Trịnh Công
Sơn đã thẳng thắn trả lời: Trong chế độ dân chủ, tôi có quyền viết, và
cấm là quyền của chính phủ (En démocratie j’ai le droit d’écrire et le
gouvernement celui d’interdire. Le Monde No. 7570, 17-5-1969).
Cũng trong bài báo đó, ký giả Pomonti cho biết Đài Phát thanh Hà
Nội phổ biến nhạc của Sơn chỉ nhằm vào mục đích tuyên truyền và
hàng ngàn đĩa hát, băng nhạc được đưa ra ngoại quốc lén lút do các
con buôn. Nhưng Pomonti cũng phải nhận rằng, chính quyền không
quá khắc nghiệt đối với Trịnh Công Sơn. Nhạc của Sơn vẫn bày bán ở
các tiệm sách tại Đà Nẵng và Huế sau 1 tháng bị cấm.
Báo Chính Luận số ra ngày 13-2-1969 cũng bày tỏ ý kiến:
… Xét nhạc Trịnh Công Sơn, dưới cái nhìn Trịnh Công Sơn trước hết
phải là một công dân với tất cả nghĩa vụ và quyền hạn của một công
dân đối với tập thể. Có thể trách Trịnh Công Sơn đã không đặt đúng
tầm quan trọng của “quan điểm chính trị” mà mỗi công dân phải có,
tức là phải có tư tưởng dứt khoát và minh bạch đối với cuộc kháng
chiến chống cộng sản xâm lược.
Thế nhưng trong một chế độ được coi là tự do thì vấn đề “quan điểm
chính trị” không nên khe khắt như trong các chế độ độc tài và cộng
sản. Chẳng hạn trong chế độ cộng sản khi mà cộng sản còn khai thác
chiêu bài yêu nước thì bài:
Người về nay đã cụt tay (“Nhớ người thương binh cua Phạm Duy”)
được coi là liều thuốc kích thích hữu hiệu, nhưng khi dân chúng giác
ngộ về sự lợi dụng của cộng sản mà hết say mê thần tượng “cụt tay”
vì đẫy là cụt “cho Đảng” không phải “cho nước”, thì bài đó bị liệt
vào loại “phản động” làm nản lòng chiến sĩ.
Trịnh Công Sơn khi khóc than trước cái cảnh chết hai lần (một lần
chết vì đại bác quốc gia, một lần chiết vì mìn của cộng sản) nếu về
phương diện chính trị có thể bị coi là đã “không phân biệt bạn, thù”
thì về phương diện triết lý của sự sống đã nói lên được phần nào thân
phận bi đát của miền Nam bị kẹp giữa các thế lực quốc tế và để sống
còn, vì không có đủ sức lực “trực tiếp trả miếng” nên đã phải tiến,
lui, tránh né, để gián tiếp phản công mà tự vệ. Nhạc Trịnh Công Sơn
nên được hiểu theo tinh thần phản chiến đó.
… Chính trị của Việt Nam Cộng hoà, nghĩa là của chính trị của một
chế độ dân chủ đã làm trọn nhiệm vụ có nó hay chưa. Đó mới là vấn
đề trong vụ: nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn.
(Chính Luận)
Việc cấm nhạc Trịnh Công Sơn còn gây nên phản ứng ở các báo chí
ngoại quốc. Những bản tin đánh đi, ít nhiều gì cũng bênh vực Trịnh
Công Sơn nhất là đối với dư luận nước Mỹ, vì nhạc của Sơn đã lôi
kéo sự chú ý của dân chúng Hoa Kỳ từ khi tờ New York Times đăng tải
một bài của thông tín viên Bernard Weinraub tại Sài Gòn với nhan đề:
“Một người Việt Nam trẻ đã ca về nỗi buồn của chiến tranh”.
Trần Văn Dĩnh đã nói điều trên ở bản tin, nhan đề “Bob Dylan của
Việt Nam” (The Bob Dylan of Vietnam) trong Peace News ngày 8-11-
1968. Vậy Bob Dylan là ai? Bob Dylan là nhạc sĩ Mỹ trẻ, thuộc thành
phần phản chiến. Bob Dylan không phải là tên thật, chỉ là biệt hiệu.
Nguyên do chàng nhạc sĩ này mê thơ của một thi sĩ tiền phong Mỹ:
Thomas Dylan, nên lấy tên của thi sĩ này đặt cho mình. Cách đây mấy
năm, các ca khúc của Bob Dylan đã gây ảnh hưởng rất lớn trong giới
thanh niên Hoa Kỳ với nếp sống hippy thác loạn. Bob Dylan mê hút
cần sa, chất ma tuý này đã làm thần kinh Bob Dylan mau suy sụp, đến
bây giờ hình ảnh Bob Dylan phẫn nộ, cuồng mê, phản chiến đã chìm
dần vào dĩ vãng, vì nước Mỹ “nghiến” nhân tài rất nhanh và tàn nhẫn!
Trong các thông tin quốc tế có mặt tại miền Nam ở thời gian nhạc
Trịnh Công Sơn bị cấm, có lẽ chỉ Crystal Erhart là có cái nhìn khách
quan khi nói về đời sống và nhạc Trịnh Công Sơn,
… Sau cuộc chiến ở Huế, Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ cũng là ca sĩ
28 tuổi, đã viết lên những ca khúc cảm động: “Bài ca dành cho những
xác người”:
… Xác người nằm trôi sông
Phơi trên ruộng đồng
Trên nóc nhà thành phố
Trên thềm nhà hoang vu…
Trong những ngày của cuộc chiến ở Huế, Sơn đã ngồi trong nhà, nhìn
những người lính Bắc Việt di chuyển qua khu vườn nhà Sơn, và sau
đó, sống với những người dân tị nạn trong những căn nhà ẩm mốc cả
tháng trời, nhìn những nấm mộ tập thể được tìm thấy, những thành luỹ
bị bom đạn và sự chết, Sơn đã viết bài hát này với xúc động sâu kín,
chỉ có thể so sánh với những bài hát của những người dân nô lệ miền
Nam Mỹ:
… Xác người nằm quanh đây
Trong mưa lạnh này
Bên xác người già yếu
Có xác còn ngây thơ
Bên những vồng ngô khoai…
Ca khúc này nói lên tâm hồn người Việt Nam sau biến cố Tết Mậu
Thân 31 tháng Giêng. Trịnh Công Sơn, một ca sĩ và nhà soạn nhạc
hiện đang nổi tiếng. Người được dân chúng Việt Nam kính trọng, nhất
là giới học sinh, sinh viên, bởi vì nhạc của ông là kết hợp những lời
rền rĩ, oán than của người Việt Nam ngày xưa với nét nhạc mới Tây
phương. Ngôn ngữ trong ca khúc của ông giống như ca dao, những ca
dao Việt Nam có từ hàng ngàn ăm trước đây ảnh hưởng đạo Lão, chữ
dùng nhiều khi cụ thể, giản dị, đôi lúc có tính cách tưởng tượng.
Trịnh Công Sơn đã xuất bản 3 tập nhạc về dân ca và sẽ xuất bản thêm
một tập mới nữa, mang nhan đề Sau ngày hưu chiến. Trước Tết, Sơn
đã có nhiều cuộc hoà nhạc tại đại học đường, khi mà một số tự do tối
thiểu nào đó của sinh viên, học sinh vẫn còn. Nhiều bài hát hiện đang
bị chính phủ cấm, vì có tình cách phản chiến,
… Một ngày dài trên quê hương đang đến với Việt Nam…
Những ca khúc của Trịnh Công Sơn cũng đã được xuất bản và thâu
băng tại Hoa Kỳ (trong một phim ngắn thuật về đời ông ở Huế, nơi
ông cư ngụ với gia đình đang được Dispatch thực hiện và sẽ chiếu
cho công chúng xem trong tương lai gần đây).
Thiết bị những đến Sài Gòn, ông ta đã ở tại một căn nhà cũ kỹ sau
Hội Hoạ sĩ trẻ Việt Nam, đường Lê Thánh Tôn. Ba phía tường bằng xi
măng, còn một phía bằng gỗ. Một cái dù trên trần nhà để che mưa,
quần áo mắc đầy tường, một cái bàn gỗ mộc, hai ghế bố, một cái đi-
văng gỗ rộng, và cái trạn đựng thức ăn v.v… Ánh sáng đi vào từ cửa
sổ mở, một bóng đèn tròn được bao quanh bằng cái chụp giấy.
“Tôi được sinh ra ở cao nguyên miền Trung Việt Nam”, Trịnh Công
Sơn nhấn mạnh: “tôi chưa bao giờ học nhạc ở một lớp nhạc nào. Tôi
đã tự học, tại Huế, Sài Gòn và Đà Lạt. Tôi sống để sáng tác nhạc.”
Sơn đã đậu tú tài ban Triết, tại trường Chasseloup Laubat, Sài Gòn.
Cha Sơn đã chết, và gia đình gồm một mẹ già, 2 anh trai, 5 em gái
hiện ở tại Huế.
Sơn đã trở lại Huế sáng tác tập nhạc: Những ca khúc mới. – Tôi thích
sáng tác ở Huế, Sơn cười buồn, bởi vì dù thành phố này bị tàn phá,
nhưng nó rất yên lặng, không ồn ào, bụi bậm như Sài Gòn.
Bây giờ, tất cả cảm hứng của tôi đều đến từ khuôn mặt thật của chiến
tranh, những lời ca và ý nhạc đều được hình thành vì nỗi buồn mà tôi
được chứng kiến. Sơn đã viết về nỗi buồn này trong bài hát “Ngủ đi
con”, bài này làm cho một bà mẹ hát để ru ngủ đứa con đã chết:
Con ngủ, ngủ đi con
Đứa con của mẹ da vàng
Ru con ru đạn nhuộm hồng vết thương
Hai mươi năm đàn con đi lính
Đi rồi không về
Đứa con da vàng của mẹ
Ngủ đi con
Ru con ru đã hai lần
Ôi tấm thân này ngày xưa bé bỏng
Mẹ mang đầy bụng, mẹ bồng trên tay
Hò… ho… ho…
Sao ngủ tuổi hai mươi
(“Ngủ đi con”)
Khi Sơn hát và chơi đàn, căn phòng trở nên u tối, cơn mưa sớm buổi
chiều bắt đầu. Một vài người bạn đã đến, nghe Sơn hát.
“Cái gì tôi lo sợ nhất cho quê hương tôi”, Sơn nói, “đó là nếu quê
hương trở thành nô lệ, thì những người dân Việt Nam sẽ bị chia cắt
tận gốc từ màu da thật sự của họ, hơn nữa, tôi sợ phần lớn những
tầng lớp xã hội này sẽ bị phân hoá dần dần bởi sự oán giận và hờn
ghen.”
“Sau chiến tranh”, Sơn tiếp tục, “cái tôi sợ nhất là sự bắt đầu của
một cuộc chiến khác, vì thế, thật là khó khăn để mộng mơ đến hoà
bình, thống nhất sẽ được thực hiện trên quê hương chúng ta.”
Những bài hát của ông luôn luôn diễn tả sự hy vọng sẽ có hoà bình và
thống nhất. Những bài hát này, như “Tôi sẽ đi thăm” đã không làm
cho ông ta có cảm tình với chính phủ miền Nam Việt Nam,
… Khi đất nước tôi hoà bình
Tôi sẽ đi không vội vã
Từ Sài Gòn ra Nghệ An
Từ Hà Nội xuống Phan Rang…
“Tôi nghĩ rằng, những ca khúc của tôi không được chính quyền yêu
thích”, ông ngượng ngập nói lời trên. Lý do, những ca khúc đó than
van về những đau khổ của chiến tranh, như vậy, đã trái với đường lối
của chính phủ.
Những bài hát tình cảm, dầu sao, như bài “Gia tài của mẹ” đã được
trình diễn trên Đài Phát thanh Việt Nam và ở những quán cà phê ta
thường được nghe,
… Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày…
Mưa bắt đầu nặng hạt và nước bắt đầu tràn vào nhà. – “Căn nhà này
thấp hơn mặt đường”, Sơn giải thích, nên phòng này luôn luôn bị lụt
khi trời mưa. Mọi người đều cười, để chân lên ghế hay giường, đốt
thuốc lá và yêu cầu Sơn hát nữa. Sơn đã hát lại một cách hồn nhiên.
“Tôi chưa có dịp để nghe những ca sĩ dân ca Hoa Kỳ trình diễn nên
chưa biết thích ai cả tuy nhiên, tôi có một tape nhạc Joan Baez. Tôi
thích Joan Baez bởi vì giọng hát của cô chuyển đạt được hết những
dư âm buồn Đông phương.”
Sau những ca khúc khác, Sơn nói: “Khi tôi viết những ca khúc để nói
lên một tình trạng nào đó, thí dụ như thân phận buồn rầu của dân Việt
Nam, tôi mơ rằng, những bài hát của tôi sẽ làm những người có cùng
thân phận gần lại nhau hơn và khám phá ra những phương pháp để
chữa trị vết thương chung mà 20 năm nay chúng ta phải chịu đựng.”
Mọi người đều yên lặng, nghe mưa rơi, Trịnh Công Sơn đang dạo
nhạc và lựa hoà âm. Tai của Sơn sát với thùng đàn. Với 28 tuổi đời,
Sơn đã có một tước vị cao trọng của một người khi hát lên những đau
khổ của cả một dân tộc.
Crystal Erhart
Văn Trịnh Công Sơn
Huế hôm nay
Một cửa sổ của căn phòng bẩn thỉu nơi tôi đang sống đã nhìn ra phía
ngoài một góc thành phố đông đúc. Trong một buổi chiều, tôi nằm dài
yên lặng trên ghế bố, nhìn ra ngoài cửa và tôi nhớ Huế.
Từ cửa sổ ngó ra, Huế, là hai cây bông bụt đỏ ối, những làn mưa
nghiêng nghiêng trong một bầu trời ảm đạm.
Mỗi năm vào tháng này, tôi đi Huế. Đi ở đây, có nghĩa là trở về với
những cái gì tầm thường như quý giá: một căn nhà chật hẹp, một tô
bún bò gạo giã, bạn bè tại những quán cà phê nhỏ Mệ Tồn và giữ Huế
trong tay suốt mùa hạ. Bản chất của Huế nằm trong kích thước nhỏ bé
của nó. Nó không ồn ào và bận rộn. Những lề đường của Huế thân
mật. Trên con đường của thành phố, bạn có thể giơ tay vẫy bạn bè
suốt ngày. Khách lạ mới tới Huế có cảm tưởng rằng tất cả mọi người
ở Huế đều có họ hàng với nhau.
Trước hết, tôi trở về để thưởng thức những vật tầm thường nhỏ bé đó.
Tôi đã thưởng thức nó trong một thời gian ngắn trước khi biến cố
Mậu Thân xảy ra.
Một sự sợ hãi lớn lao đã đến với Huế. Thật là điều khó khăn đối với
tôi để quên, mùi xác thịt thối rữa trên đường Lê Lợi khi tôi cùng gia
đình tản cư ngang qua đó. Hai hàng cây trước kia che chở đại lộ bằng
những bóng mát cũng bị tróc gốc và trở thành những chướng ngại vật
cho chúng tôi.
Nhìn vào Huế tháng Hai, tôi thấy một bộ mặt sụp đổ của thành phố cổ
kính. Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài
suốt tháng này. Họ là những người còn sống sót trong những cuộc
chém giết, dường như họ chỉ còn thân xác mà không còn hồn. Nỗi
buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn. Tất cả dân Huế sống cùng với
nhau trong suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất, đều đã thở bầu
không khí bẩn thỉu nhất của trại tị nạn. Tất cả đều đã được biết sự tận
cùng của đau khổ. Tôi nhìn những căn nhà bên kia sông bị nổ tung vì
đạn đại bác, tạc đạn rơi trên dòng sông Hương, làm mặt nước tung
bọt trắng xoá. Trong những ngày đầu của trận chiến, gia đình và tôi
ngồi yên lặng trong nhà. Buổi sáng đi qua trên những khuôn mặt khổ
não. Các anh tôi và tôi ngồi nhấp nháp rượu trong khi đạn réo ngang
đầu. Qua khung cửa, chúng tôi nhìn thấy những người lính Bắc Việt di
chuyển, nấu ăn, đào hố trong vườn trước mặt nhà. Đó là những ngày
đẹp trời của mùa xuân, với những giọt mưa nhẹ như sợi chỉ đan vào
nhau và không khí lành lạnh. Tôi muốn tản bộ dọc theo những con
đường đầy bóng mát trước cửa nhà. Tôi muốn có cốc cà phê ở một
tiêm bên kia sống, trong nội thành, đằng trước Trường Âm nhạc và
Mỹ thuật.
Nhưng tôi đã ngồi bất động hơn 15 ngày. Anh tôi và tôi ví những ngày
của chúng tôi với những ngày của Anne Frank.
Tôi không biết bây giờ những gì có thể tìm thấy, khi tôi trở về Huế.
Những cây cầu bắc ngang qua dòng sông nhỏ đã bị gãy. Tất cả mọi
cây cầu An Cựu, Khe Ron, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao v.v… Một
trong những cây cầu này đã chứng kiến sự trưởng thành của người
bạn gái thân nhất, những dấu chân của nàng đã in hằn trên đó khi đi
đến trường.
Khu nhà tôi ở bây giờ đã trở thành bãi dây kẽm gai. Căn nhà tôi, một
phần lớn bị tàn phá, đã đầy rác. Ngày đầu tiên tôi trở về. Tôi ngồi
duỗi dài chân tay trên một cái giường bị gãy và nhìn giọt mưa nhỏ rơi
trên tôi, từ chỗ trống của mái nhà, tôi nghĩ rằng đang mơ. Thật sự,
Huế chẳng còn gì cả. Bầu không khí thanh lịch, ấm áp của ngày xưa
sẽ không bao giờ trở lại. Các kho tàng cổ kính và quý giá của Huế đã
bị bom đạn đốt cháy.
Chỉ trong vòng hai tháng, tất cả mọi người dân của thành phố Huế
đều trở thành những công nhân. Tập quán cổ truyền có từ lâu của một
lối sống vương giả ở những gia đình ngày xưa đã bị xoá đi mất. Tôi
đã nhiều lần bước ngang qua cầu Tràng Tiền gãy đổ nhiều nhịp. Tôi
qua dòng sông Hương với con thuyền đầy người. Còn đâu sự êm đềm
trong tâm hồn thành phố. Rất khó kiếm thấy một chỗ không bị lỗ chỗ
bởi những hố bom.
Những con đường tráng nhựa sạch sẽ thuở nào nay đã trở nên lộn
xộn, bẩn thỉu. Từng đám bụi bay lên cao suốt ngày ở hai con đường
chính. Một bảng quảng cáo của rạp hát Châu Tinh vẫn còn treo ở
trước cử chợ Đông Ba. Phim này dường như cũng là một điềm gở: Le
Temps du Massacre.
Máu đã chảy và thấm xuống đất thành phố. Tôi đã mất nhiều thời
gian ngồi trong quán cà phê trên đường Trần Hưng Đạo để quan sát
những người qua lại buồn phiền, những người đã thăm được chiều
sâu của sự buồn phiền. Tôi nhớ rằng tôi đã không tắm, không thay
quần áo và không cạo râu cắt tóc trong hai tháng.
Sau giờ giới nghiêm, thành phố còn trở nên bi thảm hơn. Cửa nội
thành đóng, đường phố bị bao phủ bởi một bầu không khí lạnh lẽo của
bãi tha ma. Những ngôi mộ mới mọc lên như nấm dóc theo những con
đường và lề đường trong công viên, trong vườn cam Tây Lộc và trong
những cánh đồng nơi đàn bò ăn cỏ. Những bức tường của thành nội
cũng đầy những vết đạn. Có lẽ hương hồn của những vị vua chúa ngày
xưa và những quan lại cũng sợ hãi. Huế luôn luôn được nếm mùi bất
hạnh. Từ lụt lội, bão tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng
ngàn căn nhà, hàng ngàn gia đình trong cuộc chém giết tàn nhẫn
ngày hôm nay, người dân Huế đã phải học cách sống trong kiên nhẫn.
Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. Sẽ không bao
giờ có thành phố Huế cổ kính ngày xưa nữa. Tại đây, dân chúng
không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải 4
thế hệ: ông, cha, con và hcáu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn
nhà được truyền từ đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa
nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng sà nhà, từng bậc cửa.
Vì thế phải cần một thời gian lâu, mọi người có thể nhìn Huế mà
không nhìn thấy khuôn mặt bị tàn phá. Huế của ngày xưa đã biến mất
đi khi mái cao của cửa Thượng Tứ và cửa Đông Hoà đã bị tàn phá và
đầy lỗ thủng.
Tôi bước dọc theo đường thành nội nơi mà hàng ngàn căn nhà đã bị
đốt cháy rụi.
Tôi đi lên An Hoà, đứng trên ngọn đồi Uông Voi và nhìn chung quanh,
cạnh những hố bom sâu hơn 10 thước. Nơi đây là nhà của hàng ngàn
những gia đình nghèo khó. Họ đã trở về để nhìn lại những cây chuối
non, những cột gỗ, những lăng tẩm, từng bậc đá ghi lại những dấu vết
của những cái gì đã một lần ở đó.
Tất cả mọi thứ đều bị tàn phá. Huế đã phải lo cúng bái thêm nhiều
linh hồn con đi lang thang. Huế đã có một ngày giỗ chung cho tất cả
mọi người chết, ngày mà người ta nhìn thấy nhiều đống xác người.
Nhưng bây giờ lại có thêm nhiều thân người nữa. Sự tàn phá cũng
càng ngày càng nhiều. Nước mắt của người dân Huế đã đủ để làm
dòng suối nhỏ. Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng, tại Bãi Dâu, tại Kim
Long, tại Long Thọ, là những dấu vết của một bạo lực hung ác, không
có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống.
Nhớ những ngày ở Huế trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi không
bao giờ có thể quên được những người mẹ chạy theo xe chở xác, đã
mang đứa con trai của bà và trong khi chạy, bà đã vỗ tay cười suốt
con đường lầy lội đất đỏ.
Tôi cũng sẽ không bao giờ quên được những người lính Mỹ ngồi dài
trên lề đường, nhìn bà ta cười ngạo nghễ. Tôi cũng nhớ một người
đàn ông già, bước những bước nặng nề, trên vai ông một cỗ quan tài
bé, trên quan tài có cắm ba nén hướng đang cháy.
Huế đã sống qua những ngày tàn nhẫn. Hàng đoàn người đã đào lỗ để
tìm xác cha, anh, mẹ hay chị. Những tiếng khóc của đám ma có thể
làm rung chuyển cả núi rừng. Nhiều cái chết do sự ác độc của loài
người gây nên. Ngày kia tôi lẩn trốn trong một thư viện của Viện Đại
học Huế, tâm hồn tôi là một tảng băng. Chung quanh tôi mọi vật đều
bị tàn phai. Tôi không thể nói được gì cả, khi đời sống chỉ là một trò
đùa. Trong một tháng, tôi đã sống ở nơi ẩm ướt, lạnh lùng, trong bầu
không khí ảm đạm của thư viện. Tôi không biết phải làm cái gì với
cảnh tàn phá này. Căn bản luân lý của chiến tranh đã ra khỏi giới hạn
của năng lực loài người để chịu đựng.
Huế ơi! Tôi hy vọng có một ngày thanh bình nào đó, tôi có thể trở về
để ăn bánh bèo ở cây Phượng, bún bò thịt nướng ở Kim Long, bún bò
tiệm bà Rốt. Tôi muốn quay trở lại để ngủ đêm trên dòng sông Hương
và gọi ông Bê mang cho tôi một bát bún, rất cay, cay đến chảy nước
mắt. Tôi sẽ gọi cô con gái trên thuyền mang cho tôi một con mực
nướng khô, một cốc rượu nhỏ, thật nhỏ để làm cho đêm trở nên ấm
hơn, những bài hát nửa đêm trở nên hay hơn và giấc ngủ hiền hoà
hơn trong lúc sông lặng lờ trôi…
(Dispatch News Service International Inc, 1968, bản dịch từ Anh ngữ
của T.K. Dung)
Trở về Mục lục
Tuý Hồng
Tuý Hồng và thủ bút
Tên: Nguyễn Thị Tuý Hồng. Bút hiệu: Tuý Hồng. Ngày sinh: 12-10-
1938 tại Chí Long, Phong Điền, Thừa Thiên. Viết văn từ năm 1962
(viết 1 bài rồi nghỉ 2 năm sau mới viết lại).
Tác phẩm: Thở dài, nhà xuất bản Đời Mới 1965, Kim Anh tái bản
1966; Vết thương dậy thì, nhà xuất bản Kim Anh 1966; Trong móc
mưa hạt huyền, nhà xuất bản Đồng Nai 1969; Tôi nhìn tôi trên vách,
nhà xuất bản Đồng Nai 1970; Mùa hạ huyền, Văn Khoa 1971; Những
sợi sắc không (Giải nhất Văn chương toàn quốc 1970), nhà xuất bản
Khai Trí 1971; Biển điên, nhà xuất bản Văn Khoa 1971 ; Bướm khuya,
nhà xuất bản Đồng Nai 1971
Đã cộng tác với: Văn Hữu, Bách Khoa, Lập Trường, Văn, Văn Học,
Tin Sách, Nghệ Thuật, Kịch Ảnh, Con Ong, Diều Hâu, Tia Sáng, Độc
Lập, Tin Sáng, Thần Phong, Thời Nay, Đời Nay, Khởi Hành, Tiền
Tuyến, Vấn Đề…
Tuý Hồng và Những sợi sắc không
… Huế là quê hương tôi, quê hương đang có vô số nhà cửa cần bán rẻ
để người Huế vào Sài Gòn tìm một chỗ ở cuối cùng. Tôi đã ở Huế từ
trong bụng mẹ đến năm thứ 28 của cuộc đời. Huế mang thai tôi, để ra
tôi, cho đến khi tôi đi lạc vào Sài Gòn này. Từ hai năm nay, tôi ở nhà
thuê, nói tiếng Bắc, ăn chả giò, ăn bún riêu, canh chua cá dấm, thịt bò
viên, mía ghim và có một người yêu…
… Bỏ Huế mà đi lòng tôi nhớ trời, nhớ khoảng thiên nhiên. Huế đẹp
từ vũng nước đọng bên đường đến lượng cỏ non Hương Giang, từ
cọng rau muống bờ hồ đến cây phượng già xanh lục… Những đêm
mùa đông, những con “ệnh oạng” kê mõm khắc khoải kêu than từ
những ao rau muống… kêu chi mà khỏ mà trầm thống!...
… Cực lòng quá, Huế ơi! Tôi đi… ở với Huế buồn lằm… vào Sài Gòn
hoạ may có một nụ cười, vào Sài Gòn hoạ may có một người yêu!...
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 10-11)
Huế, quê hương của Tuý Hồng đã góp mặt vào văn nghệ với truyện
ngắn “Thở dài”, làm bỡ ngỡ nhiều người vì nội dung và lời văn bỏng
cháy tình dục. Sự góp mặt đầu tiên cũng là sự đóng góp vĩnh viễn vào
khung trời văn học Việt Nam một bông hoa lạ và quý. Cô gái xứ Huế,
mặc áo tím, che nghiêng nửa mặt chiếc nón bài thơ, mái tóc huyền bỏ
xõa ngang lưng, lê đôi guốc mộc gõ lóc cóc trên nhịp cầu Tràng Tiền
mỗi sớm, gõ mỗi chiều trên ván cầu Bạch Hổ, để các thi sĩ làm thơ,
nó không nằm trong kích thước Tuý Hồng. Tuý Hồng là một ngọn lửa,
là một mũi tên, là lưỡi dao nhọn, là những đột biến giãy giụa, là sự
dấn thân không trả giá, là cuộc sống hôm nay không có nguỵ trang
bằng môi cười e lệ, bằng dáng dấp thẹn thùng, bằng sự mập mờ, che
đậy. Huế, kinh đô nhà Nguyễn với thành quách lâu đài, với lăng tẩm
uy nghi, với dòng Hương Giang lững lờ xuôi mái, với núi Ngự Bình
phơ phất chim bay, với bốn mùa thay đổi. Tất cả, đã tạo nên Huế một
sắc thái đặc biệt, nó trầm lắng ưu tư trong quá khứ và nó vạm vỡ,
hùng tráng trong cách mạng.
Tuý Hồng được Huế đùm bọc từ thuở ấu thơ tới năm 28 tuổi. Biết bao
nhiêu kỷ niệm giăng mắc đầy ứ tâm hồn. Cái cuộc sống đó, nó không
đơn thuần, giản chiết, mà nó đẩy sâu mỗi số phận vào góc tối của suy
tư, đồng thời nó bắt con người phải phản kháng hay chấp nhận những
gì hiện hữu.
Tuý Hồng nhớ Huế, thương Huế ở giữa Sài Gòn mưa nắng hai mùa
với dòng sống ồn ào không biết mỏi mệt. Cái cảnh mơ mộng đi sóng
đôi trên con đường Phan Chu Trinh nhìn hoa violette, hay trải hồn
theo tiếng hò ngân dài trên mặt nước sông Hương, không thể có ở đây,
ở một hoàn cảnh chụp bắt, lừa lọc, phản trắc kể cả những khuôn mặt
anh em! Nó làm cho cuộc sống gẫy vụn ra từng khúc. Nó làm bải hoải
và chán mỏi đến tận cùng xương tuỷ, nhưng mọi người không thể và
không có cách nào rời xa nó cả. Nó là nguồn sống, là huyết mạch. Nó
đưa người lên, dìm người xuống. Nó là cuộc chơi đầy hứng thú và
nguy hiểm.
Tuý Hồng kinh qua ba tác phẩm nhỏ: Thở dài, Vết thương dậy thì và
Trong mưa móc hạt huyền để đi vào những tác phẩm bề thế rộng lớn
có tính cách quyết định sự nghiệp văn chương của nhà văn. Tôi nhìn
tôi trên vách, tác phẩm dài đầu tay của Tuý Hồng. Trong cuốn sách,
tuy nhà văn dùng ngôi thứ nhất, nhưng nguỵ trang dưới tên Khanh để
giữ tính cách riêng của nhân vật, sự thực, nó chính là một đoạn đời
khi giã từ tuổi con gái của tác giả, cũng như Colette viết về đời mình
trong nhiều cuốn sách, với các nhân vật mang tên Claudine hay Renée
chẳng hạn. Vả lại, cái đó không quan hệ. Điều quan hệ là giá trị thực
thể của tác phẩm đối với độc giả cùng những dữ kiện mà nội dung
cuốn sách chuyên chở, có mang lại một kết quả nào về ý thức đời
sống có mặt hay không?
Nội dung Tôi nhìn tôi trên vách, viết về đời sống của Khanh, cô gái
xứ Huế, vào Sài Gòn rồi lấy Nghiễm, văn sĩ người Bắc. Trước khi lấy
chồng, Khanh làm nghề cào thuốc ở các phòng mạch. Nghiễm anh trai
gì cẩn thận, không muốn Khanh hành nghề này, sau khi thành hôn, vì
một lần vô tình Nghiễm đã chứng kiến sự chụp bắt, lầm mò của y
công vào thân thể cô gái có nhiệm vụ chào hàng. Nghiễm sống độc
thân đến năm gần 40 tuổi mới lấy vợ. Khanh ba mươi mới lấy chồng.
Hai cái già khú đế lấy nhau vì tình yêu để rồi chịu đựng nhau trong
nếp sống thường nhật. Tiền cưới, một phần, do bạn bè của Nghiễm
giúp, cộng thêm số tiền Nghiễm được bạc. Cưới xong, Nghiễm và
Khanh chung sống ở một cao ốc giữa Sài Gòn. Tuy đã lấy vợ, nhưng
Nghiễm vẫn uống rượu và rong chơi cùng bạn hữu. Khanh không
quen lối sống nơi đây, nên bảo Nghiễm sang lại phòng về nhà bố mẹ
ở. Bi kịch nội tâm đã đẩy Khanh vào một vùng trời oán hận với kỷ
niệm, vì hiện tại có Nghiễm, có bố mẹ, các em gái và bạn hữu. Tất cả
những gì u uẩn nhất, chua cay nhất đều được Tuý Hồng viết với vò xé,
đôi khi tàn nhẫn. hình ảnh Phi híp-pi, Sanh, Ninh và chị Sương, Bích
Vân, Bích Khuê v.v… chỉ là những khuôn mặt phụ được tác giả tạo ra
để sử dụng vớn ẩn ý nào đó, nhằm gây nên sự tình, đẩy nội dung vào
môi trường thuận lợi của kỹ thuật dựng truyện. Nhưng cuối cùng, tác
giả vẫn dành cho người đọc sự thoải mái nhẹ nhàng vì chẳng có gì
đáng tiếc. Hạnh phúc vẫn nằm trong tay với chồng con nguyên vẹn.
Những mơ mộng thời con gái mất dần theo thực tế. Lấy chồng đâu
phải đùa giỡn và không cuộc sống nào toàn bích. Những đuổi bắt của
thời con gái, chỉ còn là ảo ảnh do tiềm thức cấu tạo nhằm đánh lừa
thực tại. Khi yêu nhau, cái gì cũng tốt, cái gì cũng đẹp, yêu từ giọng
nói yêu đi,
Em nói tiếng Huế cho anh nghe đi. Anh thích nghe tiếng Huế, tiếng
Huế mà chửi nghe cũng hay!...
Nhưng câu nói chỉ để lừa nhau đó thôi, cuộc đời làm cho sự thực lần
lần hiện ra từng mũi nhọn. Những mũi nhọn của đời sống xuyên qua
suy tư, đâm lút vào trí não làm tê liệt thần kinh, làm rã rời hy vọng.
Sự chờ đợi và mong mỏi không còn cho bồn chồn đứt nuối, nó trở
thành nỗi hờn ghen, oán hận và ý nghĩ phũ phàng trong mỗi tưởng
tiếc! Tình yêu có đấy, cuộc đời có đấy, ân tình có đấy, nhưng nó là cái
gì vừa tung cao lại giật xuống, vừa cho đi lại lấy về, vừa xây dựng lại
phá đi, vừa thương yêu lại phụ rẫy. Nó là nỗi khốn khó của thực tế đối
chiếu với dự tưởng. Nó không tròn đầy vòng tay mong mỏi. Nó thiếu
hụt. Nó chơi vơi như kẻ không biết bơi bị cuốn vào trận đắm tàu. Tuý
Hồng là ngọn lửa hoả diệm sơn ngất ngất, chứa chấp tận đáy sâu một
khối lượng nhiệt khổng lồ, mỗi lần chuyển động là mỗi lần gieo đớn
đau, đổ vỡ và chất phún thạch kia chảy lan tràn làm chết sững cả một
vùng cỏ cây vô tội. Tuý Hồng viết như ném vào cuộc đời những phũ
phàng, như tiếng thét giận dữ để phản kháng lại sự trói buộc, cái bất
toàn của luật lệ xã hội với thân phận đàn bà. Bởi vậy, ngôn ngữ văn
chương của Tuý Hồng nghe sượng sần, chát chúa.
… Em tôi là văn sĩ. Bước chân vào làng văn là đi đời con gái. Bây giờ
thử hỏi một nữ sĩ: Cô đã ngủ với đàn ông lần nào chưa? Thì phải hết
sức vô giáo dục, hết sức trơ trẽn, hết sức giả tạo, ngổ ngáo, trân tráo
mới có câu trả lời: Tôi chưa hề ngủ với đàn ông lần nào!...
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 26)
A, nữ sĩ! A, văn nghệ! Nếu vậy làm nữ sĩ cũng cực nhọc lắm, đâu có
dễ dàng. Cái mảnh hồng nhan với đường con rõ rệt, gồm những tế bào
được cấu tạo bởi: muối khoáng, nước, vôi, sắt, acit v.v… có phải điều
quan trọng, có phải một gìn giữ thiêng liêng cho mỗi nhan sắc? Hay
nó chỉ được đánh giá bằng đam mê nhục thể, bằng ve vuốt môi hôn,
bằng thể tích của cặp đùi, của vùng đồi cỏ êm mướt, với chiếc tử cung
và hai buồng trứng, như Tuý Hồng quan niệm? Không, nó đâu như
vậy! Văn nghệ nó là đời sống ở trên đời sống. Nó cung cấp những dữ
kiện để tạo nên đời sống, nó chấp nhận hay phản kháng những gì mà
đời sống đẩy tới. Nó làm cho mỗi số phận vượt thoát thấp hèn, ti tiện.
Nó là môti cười dịu ngọt, nó là giọt đắng tê lưỡi, nó là dòng lệ không
bao giờ khô, nó là câu khóc không thành tiếng. Cái tâm hồn nửa đực,
nửa cái, cứ thích xông xáo ở ngoài, cứ đâm sầm vào xã hội như trâu
bạc mất mùa, Tuý Hồng dùng để xác định cương vị của nữ sĩ hôm nay,
chẳng qua chỉ để tỏ bày thái độ, để khẳng định lập trường trước xã hội
mà thôi. Chính thức, cuộc đời cũng như cuộc tình, đối với nữ sĩ vẫn
long lanh màu hổ phách trong đáy ly liên hoan, sóng sánh men rượu
ân nghĩa, vẫn ấm ngọt, vẫn mịn màng như hột bánh nhân duyên.
Tuý Hồng viết sắc và nhọn. Sắc như lưỡi dao mới mài, nhọn như mũi
dùi mới giũa. Những dữ kiện vừa cay đắng, vừa mỉa mai, vừa dâm
đãng, vừa cao thượng, vừa yêu thương, vừa ghét bỏ, vừa buồn vừa vui
làm người đọc như bị bủa vây trong một không khí mờ ảo, mù mịt
hơi cay, để rồi khóc, để rồi cười, để rồi nuối tiếc!...
Lấy chồng muộn, Khanh thèm có con nâng niu, phòng mai hậu về già
đỡ lo, vì thế, đêm tân hôn đối với nàng là đêm thư hùng lồng lộn, đêm
trống mái dập vùi, nàng khát khao mong mỏi sau đêm đó, đường kinh
sẽ tắt và bụng tròn vo bởi có đèo thêm mầm sống. Nhưng sáu tháng
trôi qua vẫn như tháo chỉ, đan len hoài công uổng sức! Cũng như
Khánh hy vọng, lấy vợ rồi, Nghiễm sẽ bỏ mọi thói hư tật xấu như
uống rượu, rong chơi cả đêm cùng bạn hữu và với các “cô cháu” kêu
bằng “chú” đáng nghi ngờ! Nhưng không được. Nghiễm, nhà văn,
nghĩa là ngoài bổn phận làm chồng. Nghiễm vẫn còn có đời sống
riêng, một đời sống phóng túng của loài ngựa rừng không thích đóng
yên, mắc hàm thiếc, che mắt một chiều. Từng đêm trên cao ốc, khắc
khoải mong chồng đi chơi khuya về, làm Khanh chán mỏi. Hơn nữa,
cái chung cư đó còn gây cho nàng những ấn tượng hãi hùng, ghê tởm.
Không khí hắc ám vây quanh toàn vũ nữ ngày đêm lướt thượt lượn lờ.
Ái tình thì đánh ghen, giành giựt với những khuôn mặt tiên nữ lúc
hoàng hôn và dạ xoa mỗi bình minh thức giấc. Nó không thích hợp
với Khanh, cô gái Huế có nếp sống trầm tĩnh, kín đáo, dù trong lòng
có nổi loạn yêu thương từng cơn vật vã!...
Sau cùng, Nghiễm đã thua, chiều theo ý Khanh dọn nhà về ở chung
với gia đình bên vợ. Trâm và Thảo, hai cô em lớn của Khanh. Trâm
viết văn, làm nữ sĩ đó! Nghiễm như lạc vào thế giới lạ, cảm thấy cô
đơn. Xung quanh được bao phủ bởi một nếp sống khác, khác hẳn từ
lời nói, khác từ miếng ăn, khác từ cử động. Nghiễm, trước mắt mỗi cô
em vợ là con người cẩn thận vô lối đến ti tiện, mở tủ lạnh cũng khó
chịu, rửa chén bát dối cũng không ưng ý, để từ đấy đi vào mâu thuẫn.
Còn Khanh về nhà bố mẹ, cũng chẳng sung sướng gì, nàng trở thành
cái bung xung, một bên chồng, một bên bố mẹ và các em, chao ôi!
Các cô em sao ác ôn làm vậy? Thảo mỉa mai bảo Khanh: Hầu chồng
như hầu chúa, cha thì đau lên đau xuống chẳng pha cho cốc sữa.
Trâm chua chát: Cá voi luỵ rồi, nước biển tha hồ ra sức chào xáo
xung động. Còn Nghiễm lại nhăn nhó: Sao Thảo nó chửi vào mặt anh
vậy? Khanh là ung nhọt, là đau đớn có đấy. Phải chứng kiến và làm
nhân chứng bất đắc dĩ cho hạnh phúc khốn khó của riêng mình và
chung gia đình:
… Tôi vùng chạy xuống thang gỗ vào phòng đắp mền nằm co rút.
Nước mắt hình như nóng hơn khi tôi khép hai mi lại. Ướt đẫm cơn
khóc câm, tôi hình dung ra những chuyện tiếp diễn từ buổi sáng đầu
tiên tôi về lại nhà cha mẹ: ngày của Nghiễm không phải là một khối
thời gian để trắng mà tràn đầy công việc, chàng còn bận chuyện liên
miên nên giấc ngủ của chàng bao giờ cũng bắt đầu từ nửa đêm đến
tám giờ sáng và từ hai giờ chiều mới được ngủ lại giấc trưa. Cái tủ
lạnh để trong phòng hai vợ chồng. Trong đó là bia, là trái cây, là
nước lọc, là fromage, jambon, pâté, giấc ngủ của chàng bị dựng dậy
từ sáu giờ sáng vì tiếng mở tủ lạnh lách cách của các em tôi vào lấy
nước lọc. Chàng nằm trên giường theo dõi bước đi, bước chạy của
từng đứa, cánh tay từng đứa dang ra mở tủ đóng tủ. Đến ngày thứ sáu
cái tủ lạnh mở không ra đóng không vào. Nghiễm bảo:
“Những đứa em gái của cô sao nhiều đàn ông tính, đãng trí, buông
thả, dễ dãi, cẩu thả. Cô phải bảo với chúng là đồ vật cũng có tri giác,
đồ vật cũng biết đau.”
Hai mi mắt tôi bắt đầu đỏ sửa soạn những giọt lệ:
“Vâng, vâng, tôi sẽ không cho chúng thọc tay vào tủ lạnh này nữa.”
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 67)
Chính thức, đồ vật không biết đau, người bỏ tiền ra mua chúng về thì
đau thật! Nghiễm, sống độc thân quá lâu, hơn nữa, từ nhỏ đã phải tự
mình lo cho mình, gây dựng cho mình, do chính mồ hôi và nước mắt
của mình mà có chúng, nên sự giữ gìn là cần thiết đối với Nghiễm.
Còn Khanh, vì tự ái nên nàng khổ, Khanh cũng không quên cám ơn
Nghiễm, vì lấy chàng nên nàng mới được ăn nhiều miếng ngon, mặc
nhiều đồ tốt, nhưng Khanh muốn rằng, không phải vì thế mà Nghiễm
có quyền khinh nàng và gia đình mình. Bài học làm vợ đã cho Khanh
biết thế nào là nhẫn nhục. Nhưng trời lại phú cho nàng cái tính tự ái,
ưa suy nghĩ nên nàng khổ. Cái khổ đó, nàng muốn vứt đi như vứt bỏ
món đồ phế thải hoặc trả thù cho bõ ghét, cho bõ tức, tuy vẫn yêu
chồng, thương bố mẹ, các em. Nghiễm, đôi khi dưới mắt nàng, cũng
chẳng tốt đẹp gì, bê tha rượu chè, mê rượu hơn mê vợ, và có lần
Nghiễm cho Khanh biết: trước chàng còn hút thuốc phiện nữa kia, bây
giờ tu tỉnh lại rồi đó! Bỏ tám phần mười rồi đó, nhà văn mà! Có lúc
Khanh giận quá đã phải nhờ Trâm viết thành văn hộ mình một dòng:
Hạnh phúc đôi khi là một tên cướp đuổi nàng chạy như chuột. Nhưng
đó chỉ do sự mất bình tĩnh trong chốc lát, vì những gốc râu của
Nghiễm day trên môi Khanh vẫn làm nàng tê tái, khoái cảm!...
Cái nếp sống chồng Bắc, vợ Huế, còn làm khổ mỗi người về miếng
ăn, thức uống. Nghiễm thích bún riêu, chả giò, thịt bò xào cần v.v…
nhưng gia đình Khanh lại chỉ ưa cá nục kho, mắm ruốc! Lấy chồng
nhà văn lại còn ham đeo hột xoàn, tức là chọn nhầm cửa. Nhưng đàn
bà lạ lắm, hay tự ái vặt, thấy bạn có hột xoàn, tự nhiên trong lòng nảy
sinh mơ ước cho được bằng người. Bích Khuê, một goá phụ trẻ, bạn
của Khanh buôn hột xoàn, hay đánh bài với mấy ông tướng thất
nghiệp qua vài cuộc đảo chính, chỉnh lý. Sự có mặt của Bích Khuê
như lời khích động, lời mời chào vượt thoát. Nghiễm chỉ yêu vợ chứ
không yêu gia đình nhà vợ, nên chàng thường mua lén thức ăn ngon
chờ cả nhà đi ngủ, gọi vợ dậy ăn vụng. Sự ước mong một đứa con của
Khanh rồi cũng đến. Nó hành nàng với một cơn đau chết giấc. Trong
cơn mê vì độ nóng, Khanh nhìn thấy viên kim cương Culiman của
hoàng gia Anh, và các trò chơi tình ái qua ba hồi bảy hiệp của đời con
gái thăng trầm.
Đứa con Khanh mong, nó đã ra đời: mắt lớn, tai to, tóc rậm, xồm
xoàm tiền sử. Tên nó: Khanh Hiền. Mắt nó đen như satin để sau này
lớn lên hớp hồn đàn ông như mọi cô gái Huế. Cuộc đời Nghiễm,
Khanh, thêm đứa con vẫn cứ nằm chình ình ở căn phòng khách được
ông bố vợ xây tường vội vàng ngăn đôi cho cách biệt. Nghiễm vẫn
vậy, uống rượu đều và đi Đêm Màu Hồng. Còn không khí vẫn bị quá
khứ đi về giăng mắc. Những cuộc tình không có chiều dài, nhưng
cũng đủ làm nên kỷ niệm. Dòng sông Hương nước chảy lững lờ xanh
biếc, óng ánh ôm nhịp chèo périssoire dồn dập. Ôi! Dòng nước cứ
mỗi năm một lần bị đại dương lấp hiếp lại ghi dấu mặn nồng làm cả
thành phố thiếu nước uống. Nào lăng tẩm, nào cửa biển Thuận An,
nào đèo Vọng Cảnh, nào chùa Thiên Mụ và một hôm nàng thỏ thẻ vào
tai Nghiễm: Anh Nghiễm ạ! Cá voi đực si tình lắm. Ngày xưa có một
ông mê em như cá voi đực, mê kỳ lạ, mê đến mọc mộng ra. Nghiễm:
Ừ!... Nghiễm biết rõ quá khứ của Khanh nhưng đã thuộc về dĩ vãng.
Chàng chỉ cần sự trong trắng của Khanh từ ngày cưới trở đi thôi.
Nhưng, làm sao Nghiễm có thể kiềm chế Khanh không được suy nghĩ,
không được đến thăm bạn bè? Bích Khuê đó và Sanh chẳng hạn:
… Tôi đứng lên chào về. Sanh nhìn tôi từ tóc tới chân, mắt chàng êm
ái mát như lụa và ngọt sắt như quýt Hương Cần. Tôi sức nhớ một câu
văn tôi đã ghi vào bìa cuốn vở giảng văn năm đệ nhị: “Đừng nhìn
nhau lâu, sợ rồi thương mến nhau, chỉ cần quen biết thôi, tình đừng
nên tìm sâu.” Hồi đó Bích Khuê nói: “Con Khanh hắn yêu anh Sanh
như sanh với sứa!...”
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 119)
Rồi con đường Phan Chu Trinh nằm bên dòng sông An Cựu ghi dấu
kỷ niệm tuổi trẻ. Hôm nay Sanh còn đó, Khanh còn đó, mà xứ Huế
thật xa vời. Hình ảnh con Khanh thằng Sanh điên điên tàng tàng đã bị
thời gian khoả lấp vào đổi thay, nay chợt trong tiềm thức le lói ánh
lên màu hạ cũ. Chuyện đến vay tiền Bích Khuê để mua máy rang ngô,
biết đâu chẳng phải cuộc viếng thăm để giải toả kiềm chế:
“Bắt được cô bỏ nhà đi chơi đấy nhé, hết chối, hết cãi.”
“Phải rồi, tôi đi đánh tứ sắc đấy.”
“Này, liều vừa vừa nhé!”
“Anh sao cứ ra tay lớn vào những việc nhỏ.”
“Trước khi đi tôi đã buộc cô ở nhà trông con.”
“Em đi có việc cần.”
“Tôi đã bảo ở nhà, là ở nhà. Cấm không cãi.”
“Ai biết anh khó vậy. Nếu biết anh khó… khó… như vậy… biết vậy thà
lấy chồng Huế cho sướng…”
…
… Cơn khóc khởi đầu bằng những cái chớp mắt nhỏ, nỗi buồn khởi
đầu bằng tiếng thở dài ẩm ướt, cơn điên khởi đầu bằng những sợi
thần kinh hư, tôi thảng thốt nghĩ rằng tôi đang ở trong một cái ống,
mở thoáng hai đầu trông ra cuối trời mơ ước, cuối trời kỷ niệm. Tôi
trông ra và tôi thúc thủ bó tay.
Thảo rướm giọng:
“Lấy chồng đôi khi là một sự lỡ tay.” Trâm ngừng viết ngửng đầu lên
khôi hài:
“Lấy chồng là tự sát…"
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 124-127)
Sự ngỡ ngàng tình cảm làm Khanh thấy nhức buốt trong mỗi ngày
giờ, sống trong kích thước gia đình, nàng tìm phương kinh qua, bằng
cách với Nghiễm cho mình theo học Văn khoa. Khuôn viên đại học
đẩy Khanh gặp Phi híp pi. Khuôn mặt này, tác giả chỉ dùng như một
ám ảnh, một buồn phiền, mà nhà văn cần giải toả ẩn ức trong đáy
thẳm tâm linh. Cái cuộc sống do Khanh chủ động hồi con gái không
còn nữa. Nó chỉ như một sợi tơ đứt mỏng manh bay phất phơ theo
chiều gió. Phi như con dã thú, như một tội ác, như sự ghê tởm, như
viết sâu Quảng làm lở lói ý nghĩ của nàng. Nó vuốt má Khanh, cầm
tay Khanh và xấu hổ chưa, nó còn đòi chết trên bụng nàng. Ôi! Cái
bụng đam mê có vùng mơ ước! Nỗi đớn đau chợt tới. Khanh mong
vượt thoát ít phút cái lưới của Nghiễm giăng qua mau, quá dầy lại bị
cái lưới cuộc đời ô trọc bao phủ. Phi trân tráo lại nhà thăm Khanh.
Cái mái tóc thời tiền sử của Phi, làm Khanh chợt nghĩ đến thời kỳ ăn
lông ở lỗ, chưa lửa, chưa khói, chưa sắt, chưa vải che thân…
Sự thực, tác giả đã nguyền rủa xã hội Việt Nam trong chiến tranh đau
khổ, còn dung dưỡng những điều quái gở qua vóc dáng Phi đó! Câu
chuyện Phi chưa xong, đến chuyện Ninh, chàng trai xứ Huế quen nhau
ngày xửa ngày xưa. Mỗi khi Khanh gặp lại con trai Huế, như gặp đời
sống của mình nên bao giờ nàng cũng vồn vã quấn quít. Vì thế, nếu có
ý nghĩ u ám trong đầu, đó cũng chẳng phải điều lạ. Các cô em trách
Khanh về vấn đề này tuy chẳng thích gì Nghiễm, anh con trai Bắc kỳ
khó tính. Tuy làm gì cứ làm, nghĩ gì cứ nghĩ, Khanh vẫn thương
chồng lắm,
… Thương chồng, thương luôn những ly rượu của chồng. Thương
chồng, thương cả chiếc miệng nói nhanh. Thương chồng, thương cả
tật rung đùi, thương từ ngón chân cái, ngón chân út đến sợi tóc sớm
bạc trên đỉnh đầu, thương từ đầu gối thương lên đôi môi lười biếng
tạo những chiếc hôn, đôi môi chỉ biết hôn khi có chuyện cần…
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 241)
Nhưng đôi khi quá giận, Khanh nói lên những lời chua hơn giấm, cay
quá ớt, ngay vào mặt Nghiễm:
"Giết tôi đi, tôi không chấp nhận thứ chồng trâu ngựa đó… Những
người bạn cũ của tôi vẫn có một giá trị, một sức nặng cụ thể cho tôi
mến phục. Họ khốn khổ, họ trong sạch, họ thanh thản, họ uống nước
vối chớ không biết uống rượu… Có lẽ họ tồi hơn anh ở những chỗ đó:
họ thức khuya để học bài thi chứ họ không thức khuya để ngồi ngắm
ca sĩ phòng trà…"
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 260)
Lời nói như những mũi kim châm, như từng chiếc lưỡi lê đâm phập
vào da thịt rồi để nguyên đó. Nó dìm xuống vực sâu bao nhiêu ân
nghĩa. Nó cắt xén từng sợi tình vấn vít. Nó thấm. Nó đau. May quá
còn chị Sương, một người đàn bà biết cư xử theo lẽ phải, tuy cũng bắt
nạt chồng “một cây”. Chị Sương nói: Có ba thứ danh dự con Khanh
không được chạm đến: danh dự của chồng, danh dự của cha mẹ, danh
dự của tụi em mình chưa có chồng; và chị nói với Thảo, nếu thằng
Nghiễm có lên đây (trên lầu) gây lộn với con Khanh, mình về phe
thằng Nghiễm.
Vì uống rượu và làm việc quá nhiều nên Nghiễm khạc ra máu. Khanh
lo lắng chạy đến nhà Bích Khuê xin đơn thuốc gia truyền, gặp Sanh.
Sanh trách Khanh, tự nhiên nhảy vào Sài Gòn lấy Nghiễm làm bao
nhiêu thằng hổng cẳng, rồi hắn buông một câu:
"Tại sao Khanh lại có thể đi kết hôn với Nghiễm nhỉ. Khanh có nhận
thấy là Nghiễm không đáng xách dép cho Khanh không?"
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 273)
Cái anh con trai xứ Huế này thật nhảm. Đã thua cuộc còn làm tàng.
Khanh giận, nhưng câu trả lời của nàng hơi yếu, tự an ủi rằng, không
chấp làm gì thằng con nít điên.
Nghiễm ngã người vào cột đèn sau một bữa chả cá mời vợ, trong lúc
chờ taxi về. Bệnh Nghiễm nặng thực, tưởng chết ngay, Khanh đưa
chồng vào nhà thương Chợ Rẫy một đêm, hôm sau vào Grall, Khanh
đang mang bầu đứa con thứ hai. Việc nuôi bệnh là điều khổ cực.
Nghiễm bị chai gan vì rượu. Nghiễm phải kiêng thức ăn đặc, nên
Khanh ăn phần cơm của chàng, trong nhà thương:
Tôi cười buồn miễn cưỡng nhấc chiếc nĩa xúc vài cuống “nui” cho
vào miệng. Qua ba lần nuốt, tôi bỗng cảm thấy đĩa “nui” ngon, tôi
gắp miếng sườn sang xé ăn hết cả, ăn hết đĩa xúp hết khúc bánh mì và
sau cùng quả chuối dài. Tôi quay nhìn Nghiễm ngủ, tôi phát ngán tôi.
Chồng đau nặng mình đớp đủ thứ một cách khoái khẩu như thế này…
(Tôi nhìn tôi trên vách, trang 278-279)
Nghiễm đau nặng lắm, tự nhiên lại rung đùi, đấy là một điềm lành, là
dấu hiệu tha thiết nhất của cuộc sống trước mặt Khanh lúc đó. Thời
gian làm Nghiễm bình phục, nhưng Nghiễm không về nhà, nằm
dưỡng bệnh tại một cao ốc do người bạn tốt cho mượn. Mỗi chiều
Khanh đưa cơm và ngủ lại đó. Thời gian này có “cháu” Bích Vân lại
thăm, Khanh ghen. Đi từ cơn ghen, Khanh quan niệm bọn đàn ông văn
nghệ người nào cũng chia cuộc đời mình làm hai: một cho vợ con,
một cho người tình và mỗi người đều có năm bảy lá gan để sẵn sàng
đem cho gái. Còn Khanh, vô tình gặp Ninh, gã nói dối Bích Khuê cần
gặp nàng. Khanh theo Ninh về nhà. Ai ngờ, có Phi híp-pi chờ sẵn,
Bích Khuê không thấy. Hai đứa nó hành hạ nàng, đánh đập nàng, may
có Sanh đến cứu. Hình ảnh Sanh lúc nào cũng lởn vởn bên cạnh đời
Khanh. Nó không có đấy mà hiện diện trong mỗi góc sống của đời
nàng. Nó là cõi trời đã mất, một phiến mây đã qua, một vùng tuổi trẻ
nguyên vẹn với giao ước vượt khỏi vòng tay. Quá khứ nhức buốt làm
Khanh ngất ngư trong vũng lầy tâm tưởng. Để cứu vãn kinh tế gia
đình vì Nghiễm đau, Khanh phải đi dạy học, nhưng nàng cũng không
quên tìm vui cho riêng mình. Nàng theo Bích Khuê đi phòng trà, phấn
son, giày dép, tóc tai hợp thời trang, ngồi xem thiên hạ đánh bạc và đi
tắm biển với người con trai lạ mặt, tên Thể. Hắn đã ôm đại nàng giữa
sóng biển dào dạt cuốn xô hai thân xác!... Rồi cũng vì Bích Khuê mà
nàng phải nổi nóng cấu xé Phụng vì bị nghi oan ăn cắp chiếc nhẫn
kim cương trong lúc Phụng tắm. Thể có mặt như một bãi phân!
Tất cả những việc trên, tác giả chỉ dùng nhằm đưa nội dung vào “cao
độ kỹ thuật”, nhưng đồng thời cũng để bày tỏ thái độ sống và sự phản
tỉnh sau những chuỗi dài vật vã đam mê, buông thả tâm hồn, thân xác!
Ngay cả vấn đề gia đình, Nghiễm còn đó, ba đứa nhỏ còn đó, bố mẹ
và các cô em còn đó, ngày tháng còn đó, trước mặt. Nhưng hạnh phúc
vợ chồng không thể hoà hợp khi mọi chuyện riêng tư còn được dò xét
và phê bình bởi người ngoại cuộc, dù người đó là bố mẹ, chị em.
Hạnh phúc cần được che đậy dưới một dung tích nào đó, kín đáo và
riêng biệt. Nó nhỏ bằng bàn tay hay to bằng cái đình, miễn nó thuộc
về mình. Chỉ có mình và nó. Sau cùng, nhờ trời Nghiễm và Khanh đã
có một dung tích để giải toả mọi ám ảnh, phiền não. Tôi nhìn tôi trên
vách hay Tôi nhìn tôi trong hồn, với hình ảnh quá khứ, hiện tại và còn
đó, nỗi cô đơn nguyên vẹn. Những hình bóng nào đấy in chập chùng
trên tấm-vách-đời-tôi như những vết thương không bao giờ kín
miệng, ngày và đêm chỉ làm nhức nhối tâm tư…
Trong hơn bốn trăm trang sách, Tuý Hồng đã vẽ nên bao nhiêu hoạt