The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Khói Trời Lộng Lẫy Nguyễn Ngọc Tư

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-12-04 21:54:10

Khói Trời Lộng Lẫy Nguyễn Ngọc Tư

Khói Trời Lộng Lẫy Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngoc Tư

Khói Trời Lộng Lẫy

vietmessenger.com

NƯỚC NHƯ NƯỚC MẮT

Đừng sợ hãi, dù vì nó mà người ta sống, chết… 1

1

Chồng Sáo chết vì mấy lá ngò gai.

2

Nhà chức trách nói rằng họ đang tìm sự thật nhưng có thể chồng
Sáo đã lẻn lên bè rẫy Đại Thanh trộm tài sản của họ, lúc người ta
bắt gặp đã xảy ra xô xát nhỏ, anh lao xuống sông định trốn, chết
nước là chuyện rủi ro không ai ngờ… “Những người đầu tiên trông
thấy xác chồng cô đều chứng kiến trên tay anh ta còn cầm một sợi
dây chuyền vàng đã đứt”, nhà chức trách bảo vậy. Sáo nói không
phải đâu, anh Thi chồng tôi chỉ muốn lén hái vài lá ngò. Nhà chức
trách hơi xẵng giọng, chúng tôi dựa trên nhiều bằng chứng quan
trọng. Sáo cãi không phải đâu, chồng tôi cần có chút ngò gai thôi.
Họ kiên nhẫn kêu vài nhân chứng tới nói mấy câu chuyện ngập
ngừng.

Sáo cãi phăng đi. Ngay khi Sáo ôm xiết chồng đang nằm thõng
thượt trên cái bàn dài đặt giữa văn phòng nhà chức trách, ngay khi
nó vùi mặt mình vào cơ thể lạnh lẽo chi chít những chỗ tím bầm,
ràn rụa tìm kiếm hơi thở của anh núp trốn đâu đó, trong rún, trong
mắt hay ở bên sườn. Khi lướt qua đôi môi dập nát nó nghe phảng
phất mùi ngò gai. Trời đất ơi, chồng nó đã nhấm nháp thưởng thức
mùi vị chúng ngay khi vừa hái được. Anh vẫn chưa nuốt trôi khỏi cổ,
ý nghĩ đó làm nó nghẹt thở. Người ta đang nhâm nhi ngò gai thì
không ngó ngàng tới vàng bạc đâu, Sáo nói và xốc ôm chồng tha về
ghe.

Dưới sạp ghe hai con cá Bạc Đầu đã chết. Cặp cá này sáu tiếng
đồng hồ trước vợ chồng Sáo giăng lưới bắt được. Cá bị nước đuổi
ốm tong teo nhưng chồng Sáo sướng quên trời đất, và như con nít,
anh đứng múa may quay cuồng ở đầu ghe, kêu hết sẩy hết sẩy, nói
phước đức ông bà để lại. Chưa bao giờ Sáo thấy anh hạnh phúc,

hân hoan đến vậy, đến nỗi nó đã chạnh lòng ngay lúc đó, anh đâu
có từng tỏ ra quý mình như quý cặp cá này.

Cá Bạc Đầu luôn đi thành đôi, là loại cá rất hiếm hoi. Sục sạo như
chồng Sáo cũng chỉ một lần thấy chúng. Má chồng Sáo hồi còn
sống thường thắt thẻo nói vợ chồng nào hiếm muộn con cái nuốt
mật cặp cá Bạc Đầu thể nào cũng cấn thai. Bà hay ngồi ở cửa trước
hóng coi trẻ con bên xóm đang chạy giỡn, tiếng thở dài của bà lửng
thửng bay về phía Sáo nhoi nhói. Chồng Sáo cà rỡn, “bắt được cá
Bạc Đầu rồi vợ con sanh một lần bảy đứa, cho má giữ mệt nghỉ…”.
Má chồng không chờ được, lúc bà chết bên vách vẫn còn giắt mớ
vỏ tỏi - thứ đàn bà đẻ dùng để xông da thịt cho thơm. Chồng Sáo
vẫn phấn khích quăng chài xuống sông Sắc nuôi hy vọng, không
hoàn toàn vì khao khát trẻ con. Chồng Sáo đã được ăn cá một lần
hồi mười lăm tuổi mà mỗi khi anh nhắc lại nồi canh cá nấu mẳn, Sáo
lại thấy nước miếng rỉ ra rưng rưng bên mép anh. Người Châu Thổ
hay nói, bắt tao tả đau bụng đẻ ra làm sao chẳng khác nào kêu tả
mùi vị con cá Bạc Đầu, tức là chẳng thể chia sẻ cảm giác với người
khác nếu họ không tự mình trải qua. Sách “Bi ký” chép lại, năm 813
đã có một làng chài lưới bị tàn sát vì giữ lại cá Bạc Đầu mà không
cống nộp cho vua. Một trăm ba mươi bốn người trong làng đã chết.
Ba chồng Sáo quý cuốn sách đó như một gia tài nhưng nhà nó đã
làm mất vào một bữa nước đột ngột dâng.

Giờ con cá của những đồn đãi, con cá huyền thoại, con cá vì nó mà
người ta sống, chết đang nằm trong ghe nhà Sáo, đuôi màu xám
đậm rồi phai dần cho đến phần đầu thì trắng muốt tựa bông lau
chín. Cái chết cận kề không làm cho chúng thôi quấn quýt. Chúng
chạm râu vào nhau khẽ khàng, như âu yếm như đờ đẫn, như dịu
dàng lại như kiệt sức. Phải, nước đuổi đã quá hai tháng rồi, đến con
người cũng phờ phạc bạc đi.

3

Mùa nước đuổi bắt đầu từ giữa tháng Giêng. Ngó nước bắt đầu linh
đinh bờ bãi, người ở xóm Rẫy thở dài ứ hự, chắc năm sau ăn Tết
trên ghe.

Cứ mỗi năm nước đuổi lại tới sớm hơn, mùa mỗi năm mỗi dài hơn.
Tết chưa tàn vợ chồng Sáo đã lụi hụi dọn đồ đạc lên ghe, bông vạn
thọ trồng trong cái khạp lủng để trước hàng ba còn chưa bung nở
hết. Chồng Sáo cứ tiếc là ghe chật quá, không rinh cái khạp đó đem
theo được.

Anh còn muốn bứng cả cây cỏ quanh nhà theo, nếu có thể. Nên
trên ghe lủ khủ những bụi hành hẹ, sả, vài cây ớt, ít hẹ, ngò om…
Mấy thứ cỏn con này hay làm chồng Sáo bận lòng, ăn cá chốt nấu
cơm mẻ mà thiếu sả ớt, cá trê nướng mà không gừng… là anh băn
khoăn lắm. Anh nói thà không ăn, chứ ăn vầy không đúng điệu.

Chồng Sáo ưa nói hai từ đúng điệu. Coi kìa, đêm nay trời trong
nhưng trăng tròn quá nhìn không đúng điệu, phải khuyết chút ngó
hay hơn. Nắng vầy mà có bóng cây để treo võng nằm chơi là đúng
điệu. Con lá lóc này phải có rơm khô chất lên đốt nướng trui mới
đúng điệu. Sống giữa trời nước bao la vầy mà không có nước để
tắm cho đúng điệu, nghĩ mà tức.

Sáo nhớ chồng nó nói câu đó khi đang ngồi ểnh ra, se miết mấy
ngón tay da cổ làm đất rụng xuống lả tả. Gọi là tắm khô, kỳ cọ bằng
mồ hôi xong sẽ tắm ướt bằng hai gàu nước. Nhưng có bữa chồng
Sáo tắm cả xô, tắm đúng điệu. Chữ đúng điệu nhiều lúc làm Sáo sợ.
Nhất là khi nghe bảo “em nằm day lại tui gãi cho đúng điệu cái coi”.
Đêm nào trước lúc ăn nằm với nhau bao giờ chồng cũng gãi lưng
Sáo, trong một trình tự lớp lang đúng điệu, bắt đầu từ lúc những
ngón chân cọ vào bắp chân Sáo, sau đó này sau đó kia, anh nhẩn
nha đến nỗi nó thiu thiu ngủ luôn bỗng nghe cái gì đó xộc tới chới
với. Nó không thích vậy nhưng không dám nói, biết đâu vì cái
khoảnh khắc chới với đó mà trẻ con không chịu ra đời.

Sáo còn hồ nghi vì hai chữ đúng điệu mà nhà nó nghèo. Gieo mấy
giồng cải, chồng Sáo nói lá cải chưa mướt mà nhổ bán là không
đúng điệu, nhưng chờ tới lứa cào cào ở đâu bay lại ăn đám rau rách
nát. Có năm trồng dưa hấu, thấy dưa lớn trái lại đang được giá Sáo
đòi bán cho thương lái. Chồng bảo chờ cho dưa chín thêm ít nữa,
cho da trái dưa căng bóng mới đúng điệu. Ai ngờ trời trở mưa một

trận, không kịp cắt dây dưa nổ lụp bụp như pháo, nứt vỏ hết. Trắng
tay.

Mùa đó là mùa dưa cuối cùng trên đất nhà Sáo. Năm sau nước đuổi
tới nơi, cứ nghĩ nước tràn quanh quẩn những vùng gần biển thôi,
nhưng nước theo sông ngày càng vào sâu hơn, tràn bờ bãi, ngấm
vào chân ruộng. Người ta kéo nhau đi đào đất đắp bờ, nhưng đắp
tới đâu nước theo tới đó, cơi nhà tới đâu nước ngập tới đó, không lẽ
ở trên mái nhà, thôi kéo nhau lên ghe ở cho rồi. Cây trái tàn rụi, chỉ
còn cỏ Đuôi Mèo là sống được, đem bán rẻ mạt cho những người
chăn nuôi bò ở bên kia biên giới, chẳng được bao nhiêu tiền.

Chồng Sáo không lấy chuyện đó làm phiền, cả khi ôm cái lư hương
cha mẹ rút lên ghe chờ qua mùa nước đuổi, anh vẫn làm mặt tỉnh
queo. Cả xứ này bỏ đất mà đi chớ đâu phải chỉ nhà mình, chồng
Sáo nói vậy. Chỉ một lần duy nhất chợt thèm ớt giữa bữa cơm, mà
cây ớt đem theo đã chết queo, anh mới dựng đũa kêu trời.

Trời im ắng ở trên cao, trong ngằn ngặt, trong như nước mắt. Nắng
quay quắt như vắt như vo con người thành những hòn đá khô khốc
có thể lăn cọc cạch. Vợ chồng Sáo neo ghe ngay trên đất vườn
mình, cạnh mái nhà mình, lây lất sống nhờ chài lưới những con cá
nước đục còn sót lại ốm ròm trên mình đầy ghẻ lở… sau đó thì tới
đám cá nước trong len lỏi vào sâu trong đất liền, hai đứa kiếm được
chút đỉnh tiền gạo và không đến nỗi cực ăn. Nhưng có bữa chỉ bắt
được cá Sầu Ngư, đành ăn cơm với muối hột.

Sầu Ngư bình thường vẩy màu xám bạc chỉ nhẩn nha ăn bèo rong
trôi dạt, đến nước đuổi thân cá trở nên đỏ thẫm. Chúng có thể sống
tỉnh queo nhờ rỉa xác súc vật chết trôi, trong đó có cả xác người.
Chồng Sáo vừa ghét vừa ghê sợ chúng, anh xỉa xói, “Cái thứ ham
sống tới nỗi bất chấp tội lỗi…”. Sáo mắc cười quá, mắng cá mà như
mắng người.

Sáo đâu có ngờ có ngày mình phải bảo vệ chồng khỏi miệng cá Sầu
Ngư.

4

Chồng Sáo ốm teo, nằm gọn đeo trong cái hòm được ghép tạm
bằng mấy tấm ván ngựa xóm giềng giúp mò lấy từ dưới nhà lên.
Lúc lau rửa cho chồng, men tay theo từng tấc thịt da dường như
đang tan chảy Sáo thấy buồn quá. Không thể chôn xuống đất, người
ta bày cách dìm hòm xuống nước, lấy dây buộc níu vô cột nhà, chờ
nước rút mới đem âm thổ. Vị mặn của nước ngấm vào sẽ làm
chồng Sáo lâu tàn rữa, họ nói vậy.

Xóm giềng lặng lẽ tiễn chồng Sáo. Cũng mệt mỏi và đuối sức như
những con cá nước đục khắc khoải sống với cái vị mặn mòi xa xót
của biển, họ chới với khi bị bứng lìa khỏi đất, khỏi cái màu xanh rười
rượi của cỏ cây. Cả cái chết cũng không phải xa lạ, nó diễn ra mỗi
ngày, người ta chết đuối, chết vì khát, vì thèm tắm, vì nhớ vị của
trái ổi chát, vì giành nhau cành củi trôi sông…

Riêng chồng Sáo thì chết vì thèm rau. Hàng xóm bảo, không phải,
nó chết vì nghèo đó chớ. Vì nghèo nên không đi ra khỏi cái xứ trần
ai này được. Vì nghèo nên phải bỏ mạng vì gặp phải bọn cậy giàu
coi sinh mệnh người như cỏ rác. Bứt mấy cọng ngò thôi mà, có phải
thù oán gì cho lắm đâu mà nhẫn tâm quá thể? Sáo cũng muốn đi
hỏi người của bè rau Đại Thanh câu đó. Sao vậy, tại sao, vì sao?

- Thời thế loạn rồi, đất không còn thì có thứ gì còn.

Ông bán xôi dạo thở hắt ứ hự. Ông nói bữa trước đi ngang bè rau
nghe có tiếng kêu cứu, nghe trên đó rầy sao mầy không chết đi,
sống làm chi mà làm khổ người ta. Không biết “người ta” là ai, mắc
mớ gì tới cái bọn sống sung sướng trên cái bè rau đó.

Sáo nghe xong tưởng trong lồng ngực có thứ gì vừa đứt phựt, nó
hức lên, anh ơi sao anh tới chỗ đó mà chết. Ủa, vậy chồng mình
chết chỗ khác thì mình đỡ đau lòng hơn sao? Sáo giật mình nghĩ
vậy khi vừa khóc dứt. Trong nỗi ân hận Sáo ngồi dựa vách ghe,
mong xóm giềng cứ ngồi chơi, nếu không muốn nhắc tới chồng nó
thì cứ nói chuyện bâng quơ, chuyện những vùng đất cao cẳng xa
xôi nước biển không bao giờ đuổi tới, chuyện ở đâu đó con chó đẻ
ra con dê, cây dừa có chín đọt… Hoặc họ không nói gì cũng được,
ca hát cũng được… Nhưng họ phải về, phải sống. Cuối buổi sáng là

nhà chức trách xả nước ngọt ở các máy nước công cộng, không kịp
chèo ghe đi lấy sẽ không có nước nấu cơm, tắm giặt…

Sáo chỉ còn một mình.

Một mình.

Sáo lết đi bắc xoong cơm lên bếp lửa. Cảm thấy tay áo giở lên còn
không nổi. Bụng không đói miệng thì đắng nhưng Sáo phải ăn, để
chờ người ta trả lời tại sao chồng nó chết. Đợi chán Sáo lại chèo
ghe tới chỗ nhà chức trách thăm chừng, khi thì thấy vài anh say sưa
chơi cờ, khi thì thấy một anh ngủ gục bên bàn làm việc kệ ruồi o e
trên mép. Hỏi thì họ chưng hửng nói cô còn đợi sự thật nào? Như
thể có rất nhiều sự thật nằm nhấp nhổm trong ngăn kéo, và họ đang
chọn một cái sự thật hợp với tướng tá xơ rơ, túi áo lép kẹp của
Sáo.

Hơi thất vọng, Sáo chèo trong chảo nắng mặn trở về, bỗng nín thở
nhìn thấy cái lưng dài nhằng của chồng mình trên mái nhà. Em
chồng Sáo mang nó về, cả đôi chân mày rậm. Nó thảng thốt hỏi chị
Hai làm gì vậy. Sáo nói chị đâu có làm gì. Trời ơi chị xởn tóc chị xơ
cờ kìa.

Em chồng nhìn Sáo như thể kêu Sáo nín đi, như thể Sáo xởn tóc là
một cách khóc. Sáo chỉ gượng cười rồi luýnh quýnh đi nấu cơm cho
em chồng ăn, bận bịu làm sự sống quay trở lại trong nó. Sáo đã
quen sống và làm lụng vì ai đó. Như bà nội Sáo vì thương chồng mà
bơi xuồng đi cưới hai bà vợ bé cho chồng, như má Sáo vì chuộc
chồng khỏi núi nợ ở trường gà mà phải bán hết đất lên ghe sống
lênh đênh. Năm mười chín tuổi, nghe má ao ước “lúc chết được
nằm trên đất của mình”, Sáo lấy chồng. Lấy người má nó chọn, lý
do “thằng đó có tới chục ngoài công đất”. Sáo nhìn thấy chồng lần
đầu khi anh đang ôm con gà tre đi trên đường, miệng ngậm vung
vinh cọng cỏ mần trầu, nó tự hỏi đây sẽ là chồng mình sao? Lễ ăn
trầu uống rượu rồi, chồng vỗ mông Sáo, nó lại hỏi đây là chồng
mình sao? Hôm cưới nghe chồng phả hơi rượu nóng rực vô vành
tai, vẫn hỏi chồng mình đó sao? Nhưng lúc Sáo cài khuy áo lại, ngó

cái người đang lật ra ngủ queo đó, nó nghĩ đây là chồng mình.
Nghẹn căng ứ mũi.

Má Sáo vui lắm, gói ghém mấy lễ, bà mua hai công đất dành để
chôn. Nhờ con gái hiếu thảo mà thím đổi đời rồi, má giả đò vu vơ
khoe với một khách thương hồ quen, không lâu sau, anh ta cũng lấy
con gái nhà giàu dưới chợ.

Nước đuổi vào sâu Châu Thổ, đất – thứ mà vì nó mà Sáo lấy chồng
– trở nên vô nghĩa, như cái tên xóm Rẫy mà còn cái rẫy nào đâu.

Giờ đến cả chồng, Sáo cũng làm mất.

Em chồng rút trong túi xách ra bộ đồ tây mới cáu đặt cạnh đôi dép
da mà nó đã mua cho chồng Sáo từ năm trước. Món quà còn
nguyên niêm mạc, chồng Sáo chưa đi lần nào, anh nói chờ kiếm có
quần áo đẹp mặc cho đúng điệu. Có lần đi chợ gặp em chồng, Sáo
kể, nó buột miệng chửi thề, “Má, thằng cha cầu kỳ quá, con nhà lính
tính nhà quan…”. Giờ thì em chồng im lìm ngồi vuốt mớ đồ của anh
nó. Bao giờ chồng nhập thổ, Sáo sẽ chôn chúng theo.

Ngó cái cảnh đợi công lý của Sáo, thằng em chồng cười khào, con
dao bấm trên tay cứ lè lưỡi ra tanh tách, sáng quắc. Nó nói “công lý
ở trong tay mình mà, chị Hai…”

Em chồng đi giang hồ từ nhỏ, lưng em giờ đã hai mươi hai cái thẹo,
đó là những lần em thực thi công lý hay bị công lý của nhóm giang
hồ khác thực thi lên. Không thẹo người ta không biết mình dân
giang hồ, em khoe vậy, giống như ở chợ hay gắn chữ văn hóa cho
người ta biết là có văn hóa vậy. Em chồng cũng thường khoe công
lý của em nhanh hơn, luật của em công bằng, sòng phẳng hơn.
Không tin không được, nhiều lần nó tìm lại những món đồ nhà Sáo
bị trộm lấy đi, dù chúng đã bị thay hình đổi dạng, bị tháo rã ra bán
đầu một nơi mình một nẻo. Nó còn dẫn thằng ăn trộm về biểu, "xin
lỗi anh chị Hai tao, mầy !", và thằng kia cun cút cúi đầu.

Nhưng đó chỉ là thằng trộm nhỏ thó hom hem, giờ em chồng Sáo sẽ
đối đầu với một bè rau đông người lắm của. Em chồng đi rồi Sáo
nóng ruột bồn chồn quá, như thể chỉ cần vo gạo rồi ôm cái nồi vào

bụng, gạo sẽ sôi thành cơm. Mấy bữa sau nghe ở mấy máy nước
công cộng người ta hể hả bàn tán, nói xe hơi của nhà Đại Thanh
dưới chợ bị đập phá, tụi giang hồ còn đánh thuốc chết mấy con chó,
tưới xăng định đốt biệt thự may mà nhà chức trách tiếp cứu kịp.

Bữa sau nữa, người ta rủ Sáo đi coi một bảo vệ của bè rau bị dìm
chết. Sáo không đi, nó không chắc mình sẽ hả hê khi nhìn thi thể
đó. Sáo sợ cái bàn lạnh ngắt giữa căn phòng lạnh ngắt, nơi hơi thở
một con người bỗng dưng biến mất. Ở đó, biết đâu cũng có con đàn
bà gột rửa da thịt chồng bằng nước mắt, mong gọi những hơi thở
trở về.

Nhưng buổi tối hôm đó Sáo đã phải xuôi ghe tới văn phòng của nhà
chức trách, vì em chồng Sáo. May phước, em chồng không nằm
trên bàn mà bị trói gô, khiến cái lưng dài thượt gần như cuốn tròn
lại. Sáo thở phào nhẹ nhỏm dù hoàn cảnh của thằng em hiện giờ rất
cay đắng. Vậy mấy bữa qua Sáo đã bồn chồn lo lắng cho ai? Nó tự
hỏi, người mướt mồ hôi lạnh. Ngó vẻ mặt đờ đẫn của Sáo, em
chồng cố an ủi mà giọng nói cứ nghiến sít sìn sịt :

- Chị buồn con c. gì, tụi nó bắt tui như bắt cóc bỏ dĩa. Chỉ uổng là tui
chưa kịp bẻ cổ thằng Giang.

Câu nói làm Sáo rúm ró. Sáo biết người đàn ông tên Giang đó, lầm
lì ít nói, da ngăm đen mắt sâu, hai bàn tay đều chai. Và tóc gội
sương gió cứng đến nỗi nếu ai đó để anh ta gối đầu lên đùi, họ sẽ
nghe vừa nhột ran vừa đau nhoi nhói. Người đó đã từng hiền lắm,
ngập ngừng mãi mới dám nắm bàn tay con gái, nhưng theo lời em
chồng Sáo thì giờ anh ta đã đổi thay quay quắt như con cá Sầu
Ngư. Sáo muốn đi tìm coi anh ta nhuốm đỏ tới mức nào.

Sáo sẽ đi. Nó quyết định vậy khi nhìn theo em chồng bị người ta
đưa đi mất. Nhanh đến nỗi Sáo nhận ra công lý thật ra đâu có già
nua hay chậm chạp hay đui mù. Sáo thấy mình vừa mất hết, cả
người thân cuối cùng và chút niềm tin cuối cùng. Nhưng cái cảm
giác đó thật sự rõ ràng khi nước bắt đầu rút, Sáo đào xuống năm
lớp dá, rồi kéo cái thứ đất ngâm lâu bủng beo trong nước đó, đắp
lên cho chồng.

Chờ những mầm cỏ Đuôi Mèo lún phún lên xanh, Sáo chèo ghe đến
bè rau Đại Thanh. Nhắm mắt thì nó cũng chèo được tới cái chuỗi
xanh ngằn ngặt ở ngã ba sông Sắc, chỗ sông Mê cắt qua.

5

Bè đang tuyển người làm. Những nhân công cũ sợ giang hồ đòi
công lý nên xin nghỉ quá nửa. Sáo bị xua đuổi ngay khi trờ tới, họ
nhận ra vợ của thằng oan gia bứt ngò. Nhưng vì người ta biết Sáo
nên nó vẫn cắp cái nón trong nách nấn ná chờ. Hồi lâu có người
kêu, cô kia tên gì để tôi ghi hồ sơ? Ông ta hỏi mà vẻ mặt thảng thốt
như không hiểu cái câu vừa rồi sao lại tuôn ra khỏi miệng, như thể
đang nghĩ mướn con này chẳng khác nào rước giặc vô nhà, sao
ông chủ mình ngu vậy?

Cũng ngơ ngác, Sáo nói tên mình. Ngay lập tức trên danh nghĩa nó
trở thành người của bè rau. Dù Sáo chỉ muốn tới hỏi người đàn ông
tên Giang đó có thật đã muốn chồng nó chết không. Sáo nghĩ người
đó sẽ im lặng hoặc nói không, vậy đỡ quá. Chối bỏ nghĩa là còn biết
sợ hãi. Nhưng con rể của nhà giàu Đại Thanh, người quản lý bè rau
mênh mông này, anh ta nói có. Anh ta nhìn thẳng vào Sáo, nói có,
nó – đáng – chết…". Anh ta vẫn rám nắng chắc chắn vạm vỡ như
năm bảy năm trước, mắt vẫn rười rượi sâu. Mặt anh ta phẳng lặng,
giọng cũng đều đặn thản nhiên, mà buốt nhức :

- Em sẽ làm gì tôi?

Sáo chết trân. Nó không biết. Nó đinh ninh là anh ta sẽ chối bay chối
biến và nó cắp nón ra về, an ủi mình đã tìm được sự thật giống như
sự thật. Nhưng anh ta thừa nhận, trâng tráo như Sáo không thể làm
gì được. Sáo sẽ chạy tới nhờ nhà chức trách đang ngủ gục hay sẽ
đòi công lý bằng dao bấm giống như em chồng?

Ngơ ngác, Sáo bỏ đi. Vài ba bận chèo ghe trở lại, cũng chừng ấy
lần lủi thủi quay về, Sáo nghi chắc tại phải chèo xa mệt mỏi nên sự
căm thù hao hụt. Nó quyết định ở lại làm công cho bè rau. Ở đây nó
sẽ tích tụ được những cơn giận dữ, đến khi chúng căng chật, nổ
tung thì đường đến căn phòng của tên gian ác cũng gần.

Và nơi này làm cho Sáo không bao giờ nguôi oán giận. Sáo gánh
nước tưới những giồng ngò gai và tưởng tượng cái tối chồng mình
khoái chí nhấm nháp chúng, chắc anh không kịp rửa, chắc trong cái
vị cay nồng có lẫn oi oi mùi rơm mục. Sáo ngồi bó rau bồ ngót ở sàn
nước và nghe gan bàn chân tê tái bởi ý nghĩ chồng mình đã bị
người ta đánh đập, lăn lộn đau đớn ở đây (dựa theo sự thật của ông
bán củi). Trầm mình dưới khúc sông bên hông bè để ủ rơm tươi,
Sáo đánh dấu lên dòng nước chỗ người ta đã dìm chồng nó xuống
(vịn vào sự thật của thím bán bánh dừa).

Có lần lửa bùng lên tới mặt, Sáo đã chạy tới căn phòng đó, khi xô
cửa bỗng bàn tay Sáo chui tọt vào vạt áo. Một đứa trẻ đang ngồi
trong lòng người đàn ông, nó đang vùng vằng cằn nhằn cha không
biết chải tóc làm đầu nó đau lắm luôn. Anh ta nhác thấy Sáo liền nói,
“cô để lần sau…”. Ừ, Sáo không muốn khi xiên con dao trong túi nó
qua ngực người đàn ông đó lại có đàn bà và trẻ con trông thấy. Đi
men theo những giồng gừng về dãy nhà ngang nơi dành cho những
người làm công ngủ, tiếng con nít thỏ thẻ vướng chân làm Sáo trợt
chân té sấp. Nó gượng bò dậy khỏi những vũng nước săm sắp,
nghĩ phải chi mà vợ chồng nó cũng có đứa con như vậy, chắc bọn
nó sẽ có nhiều chuyện để nói với nhau, sẽ không phải tìm kiếm mỗi
đêm dù nó mệt đến rã rời, chỉ muốn ngủ thôi. Và đứa con sẽ làm
Sáo thôi nhớ tháng ngày trôi nổi.

Trưa thứ bảy ca nô đưa trẻ con ra bè, chiều chủ nhật trẻ con vào
trong chợ. Vợ của người đàn ông, tức bà chủ của Sáo thì tới bè mỗi
buổi chiều, lúc các máy nước công cộng đã khóa chặt và những
người không lấy nước kịp sẽ ghé qua chỗ chị ta mua nước với giá
cao. Cuối chiều cho tới nửa đêm, thương lái nườm nượp tới để
giành giật nhau từng bó rau, chị ta đứng bán rồi sáng hôm sau cũng
biến mất sau con đê kiên cố sừng sững như tường thành bọc quanh
thành phố. Nó cao tới mức những người lam lũ như Sáo cảm giác bị
bỏ rơi, bị rời ra, thấy mình nhỏ nhoi như kiến, cỏ. Nó nhắc nhớ nắm
xương của ba Sáo đã lạc mất bên dưới tầng tầng lớp lớp nhà cao.
Nó nhắc nhớ ba mươi sáu bậc thang mà Sáo đã dò dẫm từ mặt đê
xuống ghe cùng với xác chồng.

Nên nhìn thấy bà chủ là Sáo nghe giận. Chị ta cứ lai vảng hoài nên
mỗi tuần Sáo chỉ còn lại chừng bốn mươi tiếng đồng hồ để tiếp cận
kẻ thù, mà không phải lúc nào kẻ thù cũng ở một mình, bởi người
làm công cứ dập dìu qua lại. Trắc trở nhiều khi đến từ trong Sáo,
bởi đôi lúc đứng nhìn một vạt cải con xanh non, đôi lúc đi ngang
giồng quế đang trổ bông, hay bước chân giẫm lên một lá gừng già…
mùi thơm nồng nàn làm người Sáo lỏng lơi ra, nhẹ bỗng. Vậy đâu
có được. Nó ở đây để đòi công lý cho chồng, sao lại quên chỉ vì mùi
hương của những thứ cỏ cây này.

Nhưng trước những đọt ổi non, những giồng rau húng lủi, đống rơm
mới…Sáo vẫn không cầm lòng nổi. Sáo đã nhớ chúng biết bao
nhiêu, từ khi nước đuổi lấp ló phía chân trời.

6

Sáo sống gần như đơn độc trên bè. Thui thủi. Bạn làm công dè dặt,
đám bảo vệ canh chừng, và Sáo biết mình đi đâu làm gì cũng có
người ngó theo, khi da diết khi mãnh liệt, khi hờn mát khi chua chát.
Có cảm giác người ta rọng nó ở lại bè rau chỉ để Sáo quẩn quanh
trong tầm mắt, nó không phải thả ghe chơi vơi chài lưới chật vật
kiếm sống trong mùa nước đuổi.

Sáo hơi tuyệt vọng, nó vẫn chưa trả được thù chồng. Người xóm
Rẫy ghé qua bè mua rau đổi nước cắt Sáo bằng ánh mắt căm ghét
đến rát mặt, ý nói "thứ người gì tệ bạc, đi làm tôi mọi cho giặc...".
Sáo càng nôn nóng, sợ năm dài tháng rộng mớ màu xanh ngằn
ngặt trên bè sẽ loang hết mảng tím bầm trong lòng nó. Vậy đâu có
được. Nhưng kết thúc bằng cách xiên một mũi dao thì quá dễ cho
anh ta. Cái cảm giác sống mà mất hết, nhìn thấy mọi thứ chung
quanh tàn rữa mới ghê. Nhưng những thứ mà kẻ thù yêu quý Sáo
đều không thể chạm vào. Trẻ con, đàn bà, và cả những giồng rau
trái thênh thang trên bè - thứ mà mùa nước đuổi trắng xóa những
chân trời, chúng là vàng. Có thể anh ta còn thứ quý giá hơn, Sáo
đang tìm kiếm. Nó tới gần anh ta hơn, tới mức có thể nghe giữa
những cơn nín thở là tiếng nuốt nước bọt lục cục trong cổ họng. Có
lần vô tình cùng khiêng chung một cái lu, Sáo bỗng thấy cảnh này
sao giống đôi vợ chồng đang chuẩn bị đón mưa đầu mùa, ý nghĩ

làm nó giật mình buông tay làm lu rớt xuống mấy ngón chân anh ta
tươm máu. Sáo đau, đến nỗi nó tin rằng nếu lưỡi dao thấu qua
ngực anh ta chắc nó là người gục xuống.

Phát hiện đó làm Sáo về luẩn quẩn gần mộ chồng ân hận cả ngày.
Oán đong đầy lại. Sáo bắt đầu ráo riết tìm kiếm, bằng cách nhìn
rười rượi vào mắt anh ta mỗi khi chạm nhau giữa mấy luống cà
chua, dưa chuột. Bằng cách vu vơ hát lên một câu hát cũ, hoặc ra
ngồi nhìn trời nước chỗ cây quao. Trời ơi, khi mà mỗi tấc đất trên
bè này đều là một tấc vàng, thì người ta bứng trồng lên đó một cây
quao, chẳng làm gì cả, trái không ăn được lá lại hôi rình.

Anh ta không thèm giải thích. Con người kỳ cục đó hùng hục làm
giàu, nhưng có khi Sáo thấy anh ta đứng ngó bạn hàng vây quanh
vợ mình, ngó những xấp tiền xập xòe bằng cái nhìn trống rỗng, tựa
như chúng vô nghĩa. Dù nhiều tiền thì gì cũng có, có cả nhà chức
trách hồ hởi ghé chơi. Bạn làm công lâu năm vui miệng kể hồi lập
bè anh ta cũng chỉ nói với vợ một câu, “tôi ra sông làm rẫy, em ưng
thì theo…” Bè dứt khoát phải đặt ở ngã ba sông Sắc, người xóm
Rẫy đi chợ đằng nào cũng phải ngang qua. Vợ anh ta nghĩ chắc
chồng nhớ sông, nhớ quãng đời lênh đênh nên quyết ra bè sống.
Sau này nước đuổi, rau trái quý như vàng, bên nhà vợ khen con rễ
biết nhìn xa trông rộng. Sáo nghe chuyện nghĩ, thì anh ta hại chồng
nó chết mà có giải thích gì đâu.

Mỗi khi nhìn những bông quao trắng muốt, Sáo nghiến ngầm trong
bụng, thằng gian ác thằng gian ác, mình căm thù mình căm thù
mình căm thù. Như thể không đinh ninh vậy thì Sáo sẽ coi anh ta
như người yêu cũ mất. Vậy đâu có được.

Một bữa người ta cho phun thuốc khắp nơi trên bè. Mọi bán mua
vốn đang tấp nập bỗng dưng ngưng bặt. Bà chủ của Sáo cũng
không trèo đê ra với chồng. Tắm đêm giữa chừng Sáo để nguyên
quần áo ướt xông vào căn phòng người đàn ông đó. Anh ta nằm im
lìm như mặt ao ngày không gió, cả khi bọc tay nó trong bàn tay chai
cứng vì từng chèo chống sông hồ.

- Em đi với tôi nghen…

Sáo muốn khóc. Câu nói này Sáo đã nghe lần đầu dễ chừng bảy
năm trước, hồi chưa lấy chồng. Sáo đùng đưa chân khỏa nước trên
sông, nói má em bệnh không ai lo. Lần thứ hai ngồi dưới chòm quao
lập lòe đom đóm, nó nói má em nhận lễ của người ta rồi. Lần thứ ba
là vào một mùa mưa, bữa đó đi chợ, đứng đụt mưa ở hiên nhà
người ta, gió tạt làm hai ống quần sũng nước, Sáo bỗng nghe ai đó
nói “em đi với tôi nghen…”, như tha thiết như thương hại, xót xa…
Nó đi hết chặng đò rồi, về tới nhà vẫn còn nghe. Chục bữa sau vẫn
nghe. Sáo không đi chợ nữa, cần gì thì chồng đi hoặc nhờ hàng
xóm tiện thể mua giùm.

Nhưng Sáo có cài bao nhiêu cửa, có ngồi miết trong buồng thì vẫn
nghe “hãy đi với tôi…”. Bằng thứ âm thanh chỉ mình nó biết, nó nói
đâu có được, tui mắc nấu cơm cho chồng tui, người khác không biết
ý ổng nấu ăn sẽ ấm ức lắm. Như bữa ở chợ Sáo nói mắc đi mua chỉ
về cho chồng vá chài. Sáo luôn phải bận bịu, vướng víu vì ai đó, dù
đôi lúc giữa đêm Sáo mặc lại áo, nó nghĩ nếu đi với Câu Nói thì giờ
chắc mình được ngủ rồi.

Lần cuối cùng Sáo nghĩ tới chuyện nắm tay Câu Nói ra đi, là khi
chồng Sáo nhảy lên chiếc xuồng câu bơi đi hái trộm ngò gai nêm
canh cá Bạc Đầu. Nhìn theo anh rẽ lân tinh lấp lánh như con tôm
mon men vào ven đó, Sáo nghĩ, nếu con cá, cọng ngò có thể làm
anh vui vẻ tới vậy, thì không nó cũng không sao. Nó muốn có một
đứa con được tạo thành bởi tình yêu chớ không phải bởi phép màu
của cá. Đang nghĩ bùi ngùi bỗng có người tới gọi, chồng bây bị
người ta đánh té xuống nước chết queo rồi. Sáo chôn cất cuộc đi, vì
mắc tang tế, đòi công lý cho chồng, cúng quảy người nhà chồng.
Chớ ai.

Hôm đó, Sáo chôn cất luôn những ý nghĩ chạy trốn vẩn vơ. Giờ
người đàn ông này lại bảo, “Em đi với tôi nghen – Cũng câu nói hôm
xưa, giờ nhuốm màu vô vọng – Chồng em có còn đâu…”. Sự vô
vọng của năm chữ đằng sau phả hơi lạnh tới cả cái gật đầu của
Sáo, ừ thì đi.

7

Cả hai không xếp hành lý, thậm chí không lấy ghe, cứ ào xuống
nước bơi về phía bờ mà ai cũng biết là đã không còn bờ từ nước
đuổi. Sau lưng, bè rau càng lúc càng rực rỡ. Ngọn đèn chong Sáo
kê sát vách mùng giờ chắc đã bén lửa lan vào tận những đụn rơm
phía ngoài. Người đàn ông bơi cạnh Sáo không một lần ngoái lại.
Sáng hôm qua khi tiễn con gái nhỏ trở vô trong chợ, anh ta đã xiết
nó đến nỗi nó kêu đau. Như không có lần sau. Giây phút đó Sáo
nhận ra thứ anh ta quý nhất, đến nỗi sẵn sàng từ bỏ tất cả để có
được. Là Sáo.

Nó rớt nước mắt. Đi cùng nó có gì vui đâu mà người này cứ đòi
phải đi cho được, bảy năm trời không chịu thôi. Ừ vậy thì đi. Hai
đứa bơi mãi trong ánh lân tinh réo rắt dìu dặt. Nước tràm trụa trên
mặt, nước mặn xót mấy cái chân răng. Bơi đến kiệt sức, đến trống
rỗng, đến mức có thể chìm trôi, có thể quên hết quá khứ. Chớ Sáo
biết đi đâu với người đã vô tình làm chồng nó chết, bởi một cơn
nóng giận, bởi một lầm lẫn, tưởng đạp rào là sẽ được bước qua.

Quanh hai con người đau đớn, cá Sầu Ngư đang nhơ nhởn họp bầy.

… Đoạn, có người hỏi rồi hai đứa đó ra sao. Tôi không biết, tôi đâu
có lội theo chi. Thấy đi thì biết đã đi, vậy thôi.

--------------------------------

1 Từ Bi Ký.

CÓ CON THUYỀN ĐÃ BUÔNG BỜ

Đàn bà, hễ mũi xấu thì mắt đẹp, mắt mũi xấu thì miệng đẹp, mặt
xấu thì dáng đẹp, người xấu tâm hồn đẹp. Bằng cách này hay cách
khác, họ cứ phải đẹp. Lúc giận cũng đẹp. Nho nghĩ vậy, trong lúc
chạy xe theo chở Bế đi chợ.

Lúc đó Bế dùng dằng đằng trước, lưng cong, tay đánh đằng xa ngúc
nga ngúc ngoắc. Cô đang bực mình. Hôm nay anh chủ về. Mà lúc
nào cũng vậy, chưa thấy người đâu thì điện thoại đã rộn ràng, bảo
muốn ăn món này món này. Anh chủ về được bảy ngày, cái thực
đơn cũng dài ngoằng hai mươi mốt món. Anh nói với chị chủ, giản dị
thôi em, anh thèm lẩu mắm ăn với rau đồng, kèo nèo bông súng,
bánh xèo mà có đọt xoài, đọt lụa thì thích. Anh đang nhớ món lươn
um lá nhào muốn chết được đây, cháo cá lóc nữa… Bế nghe nói lại,
chỉ nhẩn nha hỏi “Mà ổng có nói nhớ chị không?”. Chị chủ ngẩn ra,
lắc đầu. Bế nổi quạu, “Vậy ổng về là do ổng muốn ăn chớ đâu phải
nhớ vợ con. Đàn ông sao mà tệ… Thôi, đừng có nấu nướng gì mắc
công”.

Nói vậy nhưng mới mờ sáng Bé đã lên tiếng vói vào phòng, “đi chợ
à…”. Tiếng dép ngún nguẩy lép bép trên mặt sân. Chị chủ nhoài đầu
nhìn ra thấy Bế đứng bên ngoài loay hoay, xủng xoảng dập cánh
cỗng, bộ đồ thun bông tím nhập nhòa với giàn bông tỏi tím, như hoa
trên cao đang rơi xuống người cô. Chị chủ kêu thằng em mới vừa
ngủ dậy, “lấy xe chở chị Bế đi chợ…”

Mỗi cuối tuần, không đi làm, Nho hay đưa Bế đi chợ. Coi như sáng
đó vui. Nho đậu xe ở gần đó, mua tờ báo để đọc lúc ngồi chờ,
nhưng đôi khi chẳng đọc chữ nào vì mãi nhìn Bế. Cô thường đủng
đỉnh đi ngược xuôi mấy vòng chợ, tung tăng như là đi dạo công
viên. Cô rờ rẫm mấy trái dừa khô đã lột vỏ chỉ còn cái chóp nhỏ, cô
cầm bó rau ngót lên rồi đặt xuống, cười ỏ ẻ với chị bán hàng, “nhớ
vườn rau dưới quê quá…”. Nói rồi cô đi nựng nịu mấy trái khế của
bà già kế bên. Có khi cô đi khỏi mấy trái bình bát chín đó rồi, cô bèn

lùi lại mấy bước chân để nhìn cho kỹ. Việc không quay người lại đôi
khi gây phiền, cô đụng vào người đi đằng sau.

Chợ họp ở trên một bờ kè cũ kỹ nằm dọc theo bến sông. Ai ngồi
bán chỗ nào thì xuồng ghe xuồng buộc vô cái cọc đằng sau lưng.
Phía trước là con đường đông đúc người xe qua lại. Bế lọt vào cái
nơi chộn rộn nửa chợ nửa quê đó là trở nên hồn nhiên và lơ đãng.
Ở nhà là một Bế khác, chỉn chu và nề nếp. Chút nữa anh chủ về
chắc sẽ bị Bế rầy rà mấy câu vì đã không nói rằng anh nhớ vợ. Tính
Bế vậy, thẳng đuột, nghĩ gì nói nấy. Rửa nước chợ ba năm rồi vẫn
chưa hết quê. Anh rể của Nho cũng ngại cô giúp việc này, mấy lần
về thăm nhà, gặp bạn cũ nhậu nhẹt, Bế cằn nhằn ngay, “Đi suốt. Có
chút xíu thời gian cũng không dành trọn cho vợ con, cũng đem đi
chia chác cho bạn bè…”. Anh ta ấm ức lắm, nhắc khéo, “giờ không
biết ai là chủ nữa…”. Bế nguýt suýt rách đuôi mắt, có miệng làm chi
mà thấy sai không nói…

Bế không giả vờ quỵ lụy, sợ sệt vì chút tiền công, cũng không mặc
cảm cái vị trí nhỏ nhoi của mình, cô cứ ngang phè vậy. Có những
ngày trống rỗng, con đến trường, chồng đi công tác, chị chủ buồn
quá vô bếp nấu món này món nọ. Chị không cho Bế làm gì nhưng
cô cứ lẻo đẻo đi theo. Trời, cháy chảo tôi hết rồi. Sao để khói dữ
vậy, đen mấy cái đít nồi. Cái này bằng thủy tinh đó chị Hai, nhẹ tay
giùm em cái. Hủ đường không phải để chỗ đó… Bế đứng đằng sau,
tay chống nạnh, luôn miệng càu nhàu, như gian bếp này là của cô,
những vật dụng kia là của cô, thắc thỏm như thiên đường của mình
bị kẻ lạ xới tung lên. Chị chủ thì nhễ nhại mồ hôi, tóc rối xù lên, mặt
mũi bê bết bột, trứng. Nho mắc cười, thấy chị gái mình giờ trở
thành người giúp việc, bị hiếp đáp, cơ cực đáng thương.

Nho đi sớm về khuya, mấy lúc hiếm hoi ở nhà gác sách lên bụng
nghe Bế đưa võng rọt rẹt phía sau, ca “Lá trầu xanh”. Đến câu cuối
cùng, “mưa thu lạnh buốt khung trời, anh phụ em rồi em còn biết tin
ai…” thì lần nào cũng vậy, nghe hụt hơi, nghe có chút nghẹn ngào.
Có lần chị chủ hỏi sao buồn vậy, Bế nói, “bài buồn phải ca giọng
buồn…”. Chị chủ cười, hay là nhớ người yêu dưới quê rồi. Bế đủng
đỉnh đứng dậy, phủi đít vài ba cái, nói đi lau cầu thang, bụi quá sức.

Bế giữ trong lòng một vài bí mật, ngoài chuyện ai cũng biết: ba
mươi hai tuổi, nhà trong đập Láng Cháo, cách thành phố này bốn
giờ đi đò, thêm nửa giờ lội bộ. Chưa chồng, có vẻ ghét đàn ông.
Không may Nho cũng nằm trong số đó, nên hay gặp phiền phức nếu
lỡ đặt đôi giày không đúng chỗ, quần áo lộn xộn, sách vở để lung
tung. Có lúc Nho cố tình bừa bộn để nghe Bế càm ràm cho vui. Nho
cho rằng, chỉ có ai đó ôm ghì lấy Bế một lần, thì mới mong cô hết
quay quắt, khắt khe. Trên đường qua chợ, ý nghĩ đó làm Nho buồn
cười. Bế không hay gì hết, vẫn chị chị em em, ra vẻ người lớn, “bữa
nay chờ hơi lâu nghen, cậu vô quán uống nước đi…”. Rất chị. Cũng
phải, già hơn hai tuổi mà.

Bế vào chợ một mình, trong lòng bực bội đã tiêu tan. Cứ thấy
những chị trong đồng ra, buôn bán thật thà, mặt mũi lam lũ là cô
cảm giác đang ở quê nhà. Nên cái chỗ eo sèo đông đúc này cô coi
như nơi chơi giỡn, như mọi khi. Và cũng như mọi khi, cô lơ đãng
giẫm lên chân một chị, trong lúc lùi lại chỗ bán thớt mù u mà cô vô
tình đi qua khỏi. Chị kia cong cái môi màu trái giếc lên, hỏi mắt để ở
đâu. Thường thì nó ở trên mặt, nhưng giờ mắt Bế dán vô chỗ người
đàn ông đang ngồi với những thớ gỗ tươi còn dính dấp mùn cưa,
đứa bé gái ngồi dựa vào hông anh tay vịn chặt buồng dừa nước.
Chỗ của họ còn bày thêm mấy nải chuối xiêm vừa chín tới. Bế hỏi
vống lên, “chuối này bán sao đây?, sau khi dựng vai lên, cô nhận
thấy nó chảy xuống thiểu não quá, không đẹp.

Anh nọ ngẩng lên, cúi xuống, lại ngẩng lên, rồi lần này thì cúi xuống
lâu hơn, nói giá tiền lục bục đâu đó trong miệng. Bế trả giá bằng
giọng xẵng lè, nhận được một cái lắc đầu. Bế lại nhón ngón tay ấn
miết vô một tấm thớt, như đây là con cá chứ không phải là gỗ, chưa
hỏi giá cô đã ngang phè chê đắt. Mặt cô tỉnh bơ có vẻ không tha
thiết mua. Mặt anh nọ cũng lầm lì không tha thiết bán. Chỉ đứa nhỏ
nhìn Bế, nó hỏi giọng đờ đẫn và khẽ khàng, mua dừa không cô?

Tất nhiên là không rồi, sáng nay Bế đi chợ để tìm lá chùm ruột non
để ăn kèm món mắm lóc trộn thịt, nếu có bông so đũa thì mua một
mớ về nấu canh chua. Bế không biết làm gì với dừa nước, với thớt

mù u và những nải chuối xiêm thưa trái kia. Nhưng Bế không nỡ lắc
đầu khi nhìn đứa nhỏ, cô nói:

- Mới năm sáu tuổi mà lanh quá… Giống ai mà lanh vậy con?

- Giống má.

- Ủa, má đâu không thấy?

Con nhỏ định há miệng ra trả lời thì người đàn ông xốc nách dựng
thẳng nó dậy. Nó đờ ra, quên luôn. Bế không hỏi lại, cô muốn bỏ đi
đi tìm lá chùm ruột, vì thím bán khoai lang ngồi cạnh đó đang ngó
cô cười:

- Đừng thấy đàn ông ngồi chợ là xáp lại chọc ghẹo nghen…

Bế cũng cười, thấy lưng mỏi rã ra, vì đã phải dựng lên lâu quá, cô
muốn thả nó trôi xuôi. Nhưng như vậy thì cô sẽ không có cái dáng
dấp thong dong thành thị, cô lại ưỡn ngực và thẳng lưng lên. Bế giữ
cái dáng đi mà cô cho là sang trọng, đủng đa đủng đỉnh ngược hết
chợ, rồi lại quay xuống. Cô ngơ ngác ngiêng ngó, đâm sầm vào vài
người trước mặt mình. Hôm nay chợ đông, và cô cứ bị xô tới, xô tới
chỗ hai cha con anh thớt mù u. Cô thấy họ đang lóng ngóng dường
như muốn dọn hàng đi. Bế kêu lên:

- Ủa, sao bỏ về sớm vậy? Tôi muốn mua cái thớt mà. Anh bào gọt
kỹ giùm. Bao nhiêu tiền cũng được…

Người đàn ông ngó trân vào Bế một thoáng, có lẽ nhận ra cô không
nói chơi, anh trùng trình ngồi lại, lục lọi cây bào cóc. Cái thớt xù xì,
vỏ cây còn bọc quanh (để cho người ta tin đây chính là mù u thứ
thiệt) đã giữ người đàn ông nán lại thêm chút nữa. Bế hài lòng,
chẳng tỏ ra nôn nóng, dù nắng đang lên, dù bao nhiêu công việc
đang chờ cô ở nhà. Cô thản nhiên ngó quanh, lúc nhìn xuống chân
bỗng dưng thấy tiếc. Sáng nay cô chỉ mang đôi dép nhựa. Sáng nay
cô mặc bộ đồ thu tím rẻ tiền. Lẽ ra cô thay quần jean, áo thun, chân
mang giày. Và điện thoại đi động nữa, lạ thiệt, sáng giờ không ai gọi
cho cô (mà có ai ngoài chị chủ đâu). Bế nghĩ, giờ mà điện thoại cô
reo một cái, cô sẽ tặng cho người gọi vài triệu xài chơi. Bế muốn gọi
cho ai đó, sực nhớ từ ngày chị chủ cho lại cái điện thoại cũ này, Bế

chỉ dùng chơi game và… nghe. Tài khoản trống rỗng, không còn
tiền gọi đi. Nhưng Bế vẫn nhẩn nha rút điện thoại trong túi ra, nhón
mấy ngón tay bấm vài phím bất kỳ, nhẩn nha nói với chính mình,
em đây, em còn ở chợ, chút nữa em về, đừng có trông, vậy nghen.

Bế nhận ra mình chỉ có một khán giả duy nhất, là con bé gầy gò kia.
Nó nhìn cô đăm đăm, mắt dại đi. Không phải vì say mê, mà nó đang
sốt, đến đờ đẫn. Đôi môi nó đỏ nhừ, khô căng, như sắp rỉ máu ra.
Bế kêu trời đất ơi, con nhỏ bệnh hả? Anh nọ day qua nhìn con, lặng
lẽ cúi đầu. Bế lại trời đất ơi, anh làm cha kiểu gì vậy? Có cho nó
uống thuốc chưa? Sáng giờ ăn uống gì chưa? Người đàn ông lại cúi
đầu sâu hơn. Như thể anh mà ngước lên thì ánh nhìn Bế sẽ làm
anh cháy mất, biến thành tro mất.

Bế khẳng khái kéo con bé lại với mình, cô xốc nó đi tới một hiệu
thuốc chếch bên kia đường. Cô đi xấp xãi, lưng cong và vai xuôi.
Con bé cứ nhìn cô rồi ngoái lại nhìn cha nó. Anh ta không chạy theo
níu lại, anh ta chỉ trố mắt ngó theo. Bế mặc kệ, cô nắm bàn tay nhỏ
nhắn và nóng ran của nó đi len giữa người, giữa xe, giữa ồn ả, giữa
xô đẩy. Cô không cười khi nghe ông dược sỹ hỏi “Con chị bị làm
sao? Ấm đầu bao lâu rồi?”.

Nho đứng bên đường, né nắng chỗ mái hiên của cây xăng, âm thầm
coi kịch. Nữ diễn viên chính không thèm diễn vai thị dân nửa mùa
nữa, để lại cái sân khấu là buổi chợ nghiêng nghiêng nắng, nháo
nhác những gương mặt người. Lát sau, Bế quay lại với đứa bé đã
hơi tươi tỉnh, sau khi ăn cháo, uống thuốc. Lúc ở quán nó còn bắt
chuyện với cô, vẫn nhớ đã nợ cô một câu trả lời:

- Má con ở nhà, mới sanh em bé nhỏ xíu.

Bế ờ ờ, lúc đầu Bế tưởng má nó đã bỏ đi. Chuyện này hay xảy ra
trong phim, vì không chịu được nghèo khó, chật vật, không chịu
được những va chạm vụn vặt nên vợ bỏ nhà, để lại vài đứa con
nheo nhóc. Chồng hối hận lắm, vừa nuôi con vừa nhớ tiếc mấy
người con gái mình đã từng thương. Chồng thấy phải mình lấy cô
kia thì may phước quá. Cô đó có xấu chút xíu, nhưng nghèo khó
chịu quen rồi. Cô đó chắc lẳn, gọn lỏn như hột mít…

Bế thấy xao xuyến, bỗng dưng nhân vật tưởng tượng trong phim đó
sao mà giống… cô. Cô còn tính chút nữa cô sẽ xuống chiếc ghe
nhỏ, cùng về với cha con họ... Ý nghĩ kỳ cục làm cô bật cười trong
lúc dùng mấy ngón tay chải tóc lại cho con nhỏ. Trao nó lại cho anh,
cô thấy đôi mắt đứa nhỏ giống hệt ba, cả đôi mày rậm rì như có hai
con sâu róm đen thủi bò ngang qua trán. Bế bỗng nói:

- Thôi cứ ngồi lại buôn bán đi, đừng để ý tôi, tự ái khỉ khô gì – Cô
hất mặt về bên kia sông – Tôi đi về.

Người đàn ông chìa cho cô thớ gỗ, anh nói anh biết sự xuất hiện
của mình đã làm cô mất vui, “Khỏi trả tiền, em đem về, lúc nào rảnh
rỗi lấy dao ra băm nó như băm… thằng nào làm em buồn…”.

Bế ngó anh ta ỏ ẻ cười, hỏi nhỏ, ủa, làm vậy là hết buồn hả? Dễ ợt
vậy sao? Nhưng cô vẫn sẽ sàng nhận lấy, cầm về, coi như kỷ niệm
về một buổi chợ, kỷ niệm của hai cha con một người ở quê ra mà
cô tình cờ gặp, kỷ niệm về một vùng đất xa xôi nào đó, có những
cây mù u mọc hoang dại trong những bờ vườn, bãi sông, có những
người con trai con gái e ấp khắc lên cây lời thề nguyện vợ chồng...
Cô nhìn người đàn ông lần nữa, dịu dàng vuốt má con bé, chào tạm
biệt nó rồi đưa tay ngoắc Nho.

Chở cô một đoạn, khi xe xuống dốc cầu, Nho bắt chuyện:

- Lúc nãy gặp lại người yêu cũ hả?

- Ủa, sao biết hay vậy? – Đang sững sốt, Bế bỗng trở giọng – Đâu
phải.

“Giỡn chơi. Không phải thì thôi”, Nho nói, cảm giác gáy mình buồn
buồn. Bế đằng sau thở ngập ngừng từng lát, từng lát mỏng. Bàn tay
vịn vai Nho rất lạnh và hơi run. Ôi những người đàn bà, hễ mặt mũi
xấu thì tay chân đẹp, cổ xấu thì lưng đẹp, người xấu thì tâm hồn
đẹp. Bằng cách này hay cách khác, họ cứ phải đẹp. Lúc buồn cũng
đẹp.

Hôm đó Nho lại nằm gối tay lên đầu lẩn thẩn lắng nghe trong bếp Bế
nói dịu dàng, Bế cười nhẹ nhỏm. Trong cô có nỗi vui nào đó đang
ngấm đầy dần, đầy dần. Buổi chiều, Nho giúp Bế bắc cái giàn cho

mấy dây thiên lý leo qua khoảng sân, chợt cô nói nhỏ, “cây mù u ở
góc ao mà chị với ảnh hay hẹn ra ngồi nói chuyện, ảnh cũng đốn rồi,
thì chị còn nhớ thương chi nữa…”.

Từ đó, Nho không còn nghe Bế ca “Lá trầu xanh”.

TÌNH LƠ

1

Lâu rồi, má tôi có đi coi phim Công lý báo thù người ta chiếu đằng
sân Xã ủy. Dượng Bảy (lúc chưa phải là dượng Bảy) bữa đó cũng
coi chung, ngồi kế bên má, gần cái phông vải lớn. Coi hát thì chỗ
này là ngon lành nhất, nhìn đào kép rõ, mụt ruồi giả của họ bị rớt,
hoặc áo vua rách mình cũng thấy, nhưng đây là chiếu bóng, cái
phim từ đầu tới cuối chỉ ca hát với đánh nhau. Cứ mỗi lần nhân vật
ra đòn là má tôi né, thấy máu má tôi che mắt kêu trời, tới cảnh mấy
con trăn rắn lớn bò tới thì khán giả đều sụt lùi ngã rạp sắp lớp lên
nhau la ó ré. Má tôi sợ tới quên trời đất, dúi mặt vô lưng người
thanh niên lạ hoắc bên cạnh, tức dượng Bảy. Khi phim gần hết, nam
nữ chính múa hát ứ ư thì dượng Bảy đã chính thức chạm vào ngón
tay út của má.

Hết phim má tôi để lại một cái lông ngỗng, em là cháu ông xã
Nghiệp, rồi chìm mất vào dòng người. Năm bữa sau dượng Bảy (lúc
đó sắp là dượng Bảy) nhờ một người bạn của ông ngoại tới nhà.
Bữa đó má tôi chở mía đi lò đường để ép, dì Bảy ở nhà nấu cơm.
Bạn già của ông ngoại khều dượng Bảy hỏi, “mầy thương đứa đó hả
?”. Dượng ngó cái người thấp thoáng trong bếp, thấy cái eo thon,
đuôi tóc dài, gương mặt nhỏ nhắn xinh xẻo, trên môi lúc nào cũng
nhoẻn cười , dượng tưởng người quen liền gật đầu. Tới đám ăn trầu
uống rượu mới hay dì Bảy có người chị sinh đôi, tức là má tôi. Hai
người giống nhau đến mức khó mà phân biệt được, nên đã nhiều
người há hốc, “Ủa, mới thấy con Bảy xách giỏ đi chợ cái độp giờ
sao nó làm cỏ ở nhà rồi ?” Dượng Bảy cũng cầm khay rượu há hốc
ra, hết nhìn cô chị rồi tới cô em. Bẽ bàng. Lỡ làng.

2

- Cô không phải người tôi thương.

Dượng Bảy phũ phàng nói thẳng trong một tối say mèm, say đến
nỗi thay vì chỉ thẳng dì Bảy thì dượng dứ dứ vô cái gối. Dì Bảy mắc

cười quá, khẽ khều sườn chồng, nhỏ nhẻ, em bên này nè anh. “Tôi
nhớ em từ bữa đi coi chiếu bóng tới giờ…”, dượng nói sau khi day
lại ôm dì, sau khi cầm ngón út nhỏ nhắn của dì nắn mãi. Dì kệ, để
tay mình ở đó, mặt héo lòng hon bỡi bàng hoàng, phải như bình
thường dì đã thanh minh giòn giã, “Đây Bảy à nghen, con Bảy,
không phải Sáu…” Nhưng dì biết nói gì cũng muộn, người nhầm lẫn
là chồng dì, tối đó đúng tối tân hôn.

Bữa sau ra vườn đắp mấy họng đìa, hồn vía để đâu mà dượng xắn
lưỡi dá vô chân, máu chảy đầm đìa. Dì Bảy bứt lá chuối non nhai
nghiến ngấu đắp lên vết thương của dượng, máu trôi bả chuối này
dì đắp lên bã chuối khác, miệng không hay chát. Dượng lắc đầu nói,
cô không phải người tôi thương, người ta kia thấy máu trên phim
còn không dám nhìn…

Hôm gặt, dì đẩy xuồng lúa bó trên mương ruộng cạn, mồ hôi này
chưa khô mồ hôi kia lại tươm bê bết, lúc ăn cơm dượng ngồi gần
nhăn mặt, cô không phải người tôi thương, đàn bà gì đâu mà chua
lè, người ta kia thơm phức như múi mít…

Năm sau vợ chồng cãi nhau, bữa đó chồng có rượu nói ngang, tức
quá vợ đá vô ống quyển của dượng rồi té chạy. Chồng rượt sát
đằng sau. Lọt qua cây quao che khuất tầm nhìn, vợ liền xõa tóc
đủng đỉnh đi ngược lại, hỏi lớn, “dượng Bảy, cầm chổi chà chạy đâu
gấp vậy ?”. Chồng tưởng chị vợ tới chơi, khựng lại sượng trân, “à,
tôi.. tôi đuổi mấy con gà…” rồi mời vợ vô nhà, rót nước cho vợ
uống, hỏi vợ đói bụng không để chồng nấu cơm. Vợ nằm chờ cơm
đòng đưa trên võng, ngó dượng chổng mông thổi lửa, mắc cười
nhưng buồn quá, không cười được. Tối đó chồng chắc lưỡi hít hà
xoa dầu gió vô chỗ chân bầm tím, chồng nói cô không phải người tôi
thương, người ta kia thấy đánh nhau trong phim còn sợ...

Năm sau dì sinh con gái đầu lòng, tóc rụng xơ xác, dượng Bảy ngó
lom lom vào đỉnh đầu trống trãi nói, cô không phải người tôi thương,
người ta kia tóc nắm môt vốc, mướt rượt…

Cô không phải là người tôi thương, sau này dượng còn nhắc đi nhắc
lại câu này, mỗi khi say. Mà nghề thợ mộc cất nhà của dượng thiếu

gì dịp say. Dỡ gỗ, nhậu. Lên đòn dông, nhậu. Lợp nhà, nhậu.
Nhưng say nhất là về đám giỗ bên vợ, phải ngượng ngập gặp chị vợ
lúc này cũng đã có chồng, phải nhớ lại mùi tóc, làn da, ngón tay nhỏ
xíu nóng rẫy năm xưa. Nhưng đáp lại cái câu tạt mặt phũ phàng vô
duyên vô dùng là một cái nhoẻn cười, cũng đôi khi dì Bảy hỏi lại,
“chắc không à?”, mà dượng có lần dõng dạc nói chắc, dì vặn ngay,
‘vậy sao hồi hôm ôm tui ?”. Dượng Bảy không biết trả lời sao, đành
ngoẹo đầu ngáy o o.

Có lần dượng đi đám giỗ ba bữa chưa về, dì lấy tờ giấy vẽ bản đồ
nhà mình, vẽ sông Cái Tàu cong cong ẹo ẹo qua rạch Giồng Ông,
vẽ chòm cây trâm bầu dưới bến, vẽ cái nhà có bàn ông Thiên đằng
trước, ghi chú rõ ràng “Nhà Hai Hiệp”. Trâm bầu thì dì viết chữ
“trâm bầu”, không thôi người ta nói đó là so đũa sao. Xong dì sai
con đem tờ giấy cho dượng. Đi te te về, dượng nạt, ý cô nói tui đi
nhậu không biết đường về nhà hả ? Cô sâu cay hết biết. Thiệt là…
cô không phải người tôi thương, người ta kia mủ mỉ thật thà…

3

Ba mươi năm sau, dượng Bảy đột quỵ. Chân yếu, miệng méo, xãi
lai nằm một chỗ, mỗi khi dì dìu đỡ vào nhà tắm, giặt khăn với nước
ấm lau khắp người, thay quần áo cho, dượng mắc cỡ quá nói câu gì
đó, dì Bảy phiên dịch là, “cô đâu phải người tôi thương. Người ta kia
kín đáo, ý tứ tới cái tên còn không dám nói thẳng ra…”. Dượng
nghe chảy nước mắt. Dì hết hồn, hớt hãi nhắn xuống xóm Rẫy kêu
má tôi qua, để an ủi tinh thần dượng.

Buổi đó nhá nhem, đèn đỏ ối, dượng Bảy nhìn má tôi rồi ngơ ngác
ngó quanh tìm dì, rướn cái cổ lên dượng nói từng chữ lục cà lục
cục, “chị không phải người tôi thương…”

CẢM GIÁC TRÊN DÂY

Cô Nghĩa vừa qua tuổi bốn mươi sáu, suốt từ lúc trẻ đến giờ chỉ yêu
và cưới đúng một người, sinh cho chồng hai thằng con trai đẹp như
cha chúng. Mười tám năm nay cô dạy lịch sử cấp ba ở trường Phù
Đổng, mười tám năm cô tới trường đúng giờ, kiểu thời trang ưa
thích là áo dài, tóc dài. Cô ăn nói nhỏ nhẹ, cười khẽ khàng, vui lắm
cũng không thành tiếng. Đề tài ưa thích của cô khi tán gẫu với đồng
nghiệp là chuyện cải cách sách giáo khoa và giá cá, rau đang lên.
Cô không thỏa hiệp với những lời nói đùa kiểu như “cô đẹp lắm…”,
cô nghĩ ai đó mỉa mai mình. Đến nỗi có thầy nói lén sau lưng, ngồi
gần cô Nghĩa không dám bật hột quẹt, sợ cháy bất tử…

Vòng vo để thấy cô không chút gì thích hợp với lời tỏ tình của thằng
nhỏ học trò mới mười bảy tuổi. Chiều hôm qua nó chờ cô trong nhà
xe dành cho giáo viên, và nói em yêu cô. Nhìn thẳng vào cô, nó nói
bằng vẻ điềm tĩnh, nắm chắc và kiểm soát từng từ khi thả chúng rơi
chậm rãi vào tai cô gây âm thanh leng keng như những đồng xu.
Em – yêu – cô. Những lời yêu cô gặp nhiều hồi chưa lấy chồng,
nhưng hơn chục năm rồi ít ai nhắc tới, nghe xa lạ quá chừng. Năm
giây ngó quanh, năm giây định thần, thêm năm giây ngơ ngác, rồi
cô Nghĩa cũng tin rằng thằng nhỏ đang nói với mình.

- Em giỡn có duyên lắm – Cô nhẩn nha lúc dắt xe ra cửa - nhưng cô
đói bụng quá nên không thấy mắc cười.

Cô quay đi và nghĩ trò đùa này đã kết thúc. Ra về trong một buổi
chiều muộn của tháng ba, những con đường khô cong sau một
ngày nắng đỏ, xe trước tung bụi bay mù lấp mặt xe sau. Thời tiết
ngột ngạt nín thở chờ đợi một cơn mưa xô đổ cửa mùa. Khi cô
Nghĩa dừng xe trước đèn đỏ chỗ ngã tư quen thuộc, cô nhìn thấy
người bán bắp luộc đang ngồi ngáp. Ở vỉa hè gần đó, người ta rao
bán áo sơ mi hàng công ty tồn kho, hai mươi lăm ngàn một cái.
Chà, phải còn sớm ghé lựa áo cho mấy đứa con chơi, rẻ quá…, cô
nghĩ vậy. Cô nghĩ ngợi cho buổi chiều này bình thường như mọi

buổi chiều đã trôi đi không tăm tích trong cuộc đời mình, những buổi
chiều không có ai đó nói yêu cô.

Nhưng chủ nhân của câu nói đó mới mười bảy tuổi. Con nhà giàu,
học dở, thủ lĩnh một băng hơn chục đứa con nhà giàu học dở khác.
Nó không chỉ sáng tạo ra những cuộc chơi bất tận mà còn đi đầu
trong bộ điệu, làm sao phải thật nổi bật giữa đám đông nổi bật. Bữa
nay tóc nó vuốt keo dựng đứng như ngựa hoang bờm sửng lên
trong gió, thì bữa sau nó chải tóc xước ra đằng sau, ướt rượt và
bóng lộn như công tử Bạc Liêu thời xưa bôi dầu dừa, thoắt cái lại
thấy nó nhuộm chòm nâu chòm đỏ. Buổi nghỉ giữa giờ nó với đám
bạn hay ngồi đồng ở căn tin, rú lên từng hồi man rợ. Đó là lúc có
đứa con gái đẹp, cô giáo trẻ, hay bạn học trò quê mùa (mà học giỏi)
ngang qua, hoặc một đứa trong tụi nó đang bàn chuyện “phức tạp”.
Hoặc chẳng cơn cớ gì, cứ hú hét cho sướng, cho nổi bật, cho đỡ
chán chường khi nghĩ tới tiết sau, cho đói để tan học đi tiệc tùng…
Mấy giáo viên ngồi nói với nhau, tiến hóa mấy triệu năm khỉ mới
thành người, còn tụi ôn con này từ người thành khỉ cái một.

Giờ khỉ đầu đàn chắc lại làm trò khỉ, sau vụ nó dùng điện thoại di
động chụp hình cô Nghĩa rồi dán hình lên mông mình đi đủng đỉnh
trong trường, vụ nó dùng sơn đỏ vẽ hình đôi môi lên ghế cô ngồi
làm mông cô lãnh trọn nụ hôn cháy bỏng… Thường, cô giận rất phải
cách, mím miệng xăm xăm lên văn phòng. Năm phút sau thầy giám
thị tới lôi thằng nhỏ đem đính vào cột cờ lộng gió. Đám bạn nó
ngưỡng mộ nó hơn, căm ghét môn lịch sử hơn, tình hình các nước
tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế giới có mắc mớ gì tới cuộc đời
tụi nó? Có lần cuộc phá phách lên đến cao trào khi nó giả bộ trượt
té và chụp lấy vạt áo dài của cô làm nút áo bứt tung. Phản ứng
ngoại lệ, cô vừa khóc vừa tát nó một cái rát mặt.

Chuyện đó xảy ra vào tháng trước, nối thêm dây oán càng dài, giờ
thằng nhỏ trở mặt nói yêu cô lắm. Ai mà tin. Cô Nghĩa càng không,
thằng này mà ho hoặc gãi đầu cũng là những hành động có âm
mưu. Coi như đã quên chuyện xảy ra ở nhà xe rồi, những khi bước
vào lớp nó học, cô dửng dưng lướt mắt qua cuối dãy, nơi nó ngồi.
Dạo này nó thay đổi lạ lùng, lúc nào cũng ngước nhìn cô với vẻ

buồn rượi, chân thành, như uống như nuốt từng lời, từng cử chỉ
nhỏ. Đôi lúc cô thấy nhột ran cả gáy, băn khoăn đằng sau chắc tóc
bạc nhiều, hay lúc chải đầu mình cặp tóc không ngay ngắn.

Tuần sau nó lại xuất hiện ở nhà xe lúc vắng người, trực tiếp trao
cho cô lá thơ, nói “cô đọc xong rồi xé cũng được, nhưng cô phải
đọc, mỗi chữ trong này là một đọi máu của em…”.

Chữ nó xấu như gà bới, chuyện này thì cô biết rồi, những bài kiểm
tra bao giờ cô cũng trừ điểm vì viết xấu, sai chính tả. Cô chỉ chưa
biết là nó chọt phá cô vì iu cô (chữ nó viết vậy), vì muốn cô chú ý,
nghĩ về nó nhiều hơn. Nó yêu cô từ năm học lớp mười, khi lần đầu
tiên cô bước vào lớp với áo dài tiếm, tóc vẫn còn ướt, mặt tran nhả.
Đằng sau vẻ ngim nghị khô khan của cô là sự ấm áp, ân cần, nó
nhìn thấy cả nỗi cô đơn chới với. Và nó bắt đầu nhen mối tình căm,
thấy ghen tuông kinh khủng khiếp mỗi lần thấy cô được chồng chại
xe tới trường đưa đón, bàn tay cô mơng man trên eo chồng, ngực
cô dán vào lưng chồng, ghen tuông cả khi thấy những cô giáo khác
quàng vai, vuốt tóc trong lúc tán gẫu với cô. “Em biết tình yêu của
mình là tiệt dộng, nhưng không kiềm chế được cảm xút”, nó viết
vậy.

Thêm một chuyện cô chưa biết: nó sắp đi xa đến nửa vòng trái đất,
nên nó quyết định bày tỏ với cô những tình cảm cháy bỏng của
mình. Cô gấp lá thư lại nghĩ, thằng nhỏ chơi trò này công phu quá.
Lúc trả lại thư, cô nói nhỏ nhẻ, “em có năng khiếu văn học lắm,
nhưng rèn chính tả thêm, tệ quá…”. Mặt nó chảy xuống, nhưng ánh
nhìn vẫn rát bỏng.

Làm như nó yêu thiệt vậy, cô Nghĩa hơi mắc cười. Như nó yêu thiệt
vậy, ý nghĩ đó mấy bữa sau quay quắt trong đầu cô, khi buổi sáng
thấy trên mảng tường đầu hẻm xuất hiện những con chữ bằng sơn
đỏ “tôi iu Nghĩa”. Mạnh mẽ. Tự tin. Sòng phẳng. Chuyện này là tình
yêu của tôi với Nghĩa, không thầy trò gì hết. Xen giữa mớ chữ hổn
độn là mấy trái tim ú mềm bị tên xuyên qua, máu tuôn giọt giọt.
Thằng con lớn của cô đi học sớm nhìn thấy đầu tiên, nó quay xe trở
lại hào hển, “Mẹ, ai yêu mẹ ngoài hẻm kìa…”. Ba nó đang cạo râu,
xách cái cằm đầy bọt chạy ra coi, lúc quay lại như cắn phải lưỡi,

“ngoài đó thiệt là có ai yêu em”. Lúc cô Nghĩa ra tới nơi, đã có năm
bảy người xúm lại chỉ trỏ, sau lưng cô thêm năm bảy người nữa
nườm nượp chạy theo như đi coi đụng xe.

Cô Nghĩa nhìn tên mình lấp loáng trên tường, cố tỏ vẻ bình thản. Ý
nghĩ đầu tiên là thằng nhỏ lại sai chính tả nữa rồi. Sau đó thấp
thoáng những ý nghĩ khác, mình sẽ phải chiến đấu với thằng con nít
quỷ này dài dài, sẽ dài dài làm mồi ngon thơm tho đậm đà cho
những bữa cơm của hàng xóm, con mình sẽ hết hồn dài dài, không
biết sáng nay nó học sao trong tâm trạng bớ xớ như vậy. Còn nữa,
chồng có tin lời mình kể không, rằng chuyện này là do một đứa học
trò quậy phá ngỗ ngược làm… Trở về với món trứng chiên sống
nhăn trên bếp, cô thấy chồng đang ngồi chờ, mặt chồng biến mất,
chỉ còn dấu chấm hỏi gắn trên cổ lúc lắc. Cô nuốt khan, giải thích
mà nghe từng lời mỏi rã.

Câu chuyện làm cả hai người cảm giác như mình bị trói chặt trong
một niềm tiếc nuối. Như họ đã để một kẻ xa lạ nào vào đào được
vàng ở mảnh vườn của mình và chính mình bỏ hoang. Họ nghĩ yêu
thì cần gì nói, tự hiểu thôi. Mấy tiếng em yêu anh hay anh yêu em
tưởng sến rện, thừa thãi họ cứ để đó từ hồi cưới, chưa thử lần nào
thì bị một đứa trẻ nhảy vào lủm mất, hóa ra chúng rất ngọt ngào.
Họ thấy mật rỉ ra từ miệng đứa trẻ đó, và thoảng ra một mùi hương
mê dụ. Cô Nghĩa nghe như trong cô có chút gì giận dữ, sao người
nói câu yêu mình không phải là cha của hai đứa con mình?

Cô đi tới nhà thằng nhỏ nhà giàu học dở. Cô cố nghĩ ra cách nói
nhã nhặn nào có giá trị tương đương với mớ từ sỗ sàng đang chật
cứng trong đầu mình, “làm ơn bỏ chút thời giờ dạy con trai mấy
người, nó quậy tôi vô phương…”. Đó là cô tưởng tượng gặp được
mẹ, hoặc ba nó, hoặc cả hai người thì may phước. Tất nhiên họ sẽ
hỏi lại nó quậy làm sao, tất nhiên cô sẽ kể chuyện nó nói yêu mình,
và tất nhiên họ sẽ kêu lên, trời, đâu có được… Không biết cô có nén
được hay lập tức vặn lại, tại sao không?

Cô Nghĩa thấy căng thẳng, cô chưa từng gặp phụ huynh học sinh để
nói một chuyện giống như vầy. Mấy cuốn sách giáo khoa lịch sử
không giúp gì được cho cô, lịch sử chưa bao giờ nhắc tới tình yêu,

chỉ chiến tranh, thanh trừng, xung đột. Tuổi tác cũng không giúp
được khi đây là lần trải nghiệm đầu. Dò dẫm quanh quẹo qua mấy
con đường, tới trước cỗng nhà nó rồi, cô chợt nghĩ hay là thôi. Biết
đâu ba mẹ nó đùng đùng buộc nó chuyển trường, nhốt nó trong
nhà, biết đâu cô sẽ không còn thấy nó nghinh ngang đi với những
kiểu tóc kỳ lạ, nó không thể xuất hiện thảng thốt ở nhà xe, sẽ vắng
tiếng nó rú man rợ giữa giờ chơi như những tiếng kêu bầy.

Cô bần thần trước chỗ gọi chuông, rốt cuộc cơn giận dữ lúc sáng
cũng quay trở lại, nó cầm tay cô ấn lên cái nút màu trắng đó. Có
người đi ngang qua, nói, nhà không có ai đâu, muốn gặp người nhà
thì lại đằng chỗ gốc cây me đằng đó, chỗ bán chuối nướng hột vịt
lộn đó, hỏi cô Mận. Chị tên Mận trạc tuổi cô Nghĩa, dáng người
cũng hao hao như cái trứng lộn chị mới khẻ mỏ, tay giơ cây muỗng
gần miệng trứng nhưng mãi há hốc hóng chuyện đánh ghen. Cô
Nghĩa hỏi tới lần thứ ba cây muỗng mới đổi thế xua ngang:

- Trời trời, tui ở mướn thôi, hong dám làm má thằng ôn dịch đó, đẻ
nó để đẻ hột gà sướng hơn. Má nó đi Mỹ rồi, cưới Mỹ, tính rước nó
qua đó luôn. Ba nó làm gỗ trên Tây Nguyên, đi suốt. Chị là cô giáo?
Chắc thằng đó làm chuyện gì động trời gì rồi. Nó mà đòi cưỡng hiếp
chị tui cũng không ngạc nhiên đâu à, nó hăm dọa tui hoài chớ gì.
Ghê lắm, sợ bữa nào nó nổi khùng đè tui lột quần áo ra chắc tui cắn
lưỡi tự vận quá.

Cô Nghĩa chăm chú vào cái muỗng nhỏ dùng để ăn trứng nằm trên
tay chị Mận, nó đảo lên rơi xuống, vo ve gần cái miệng trứng rồi lại
tiếp tục chao liệng. Mãi nhìn nó nên cô nghe lỏm bỏm, cả buổi tóm
gọn lại là cô không thể gặp người thân của thằng nhỏ học trò vì hiện
giờ nó không có người thân nào ngoài chị giúp việc có sở thích ngồi
ngoài đường ăn hàng. Có một chi tiết đáng giá, chị Mận nhớ ra cậu
chủ có dán ảnh cô giáo này trong phòng ngủ, bên cạnh ảnh má nó.
“Thằng ôn dịch có viết chữ nước ngoài lên hình nữa, không biết nó
viết gì, tiếng Việt tui còn nuốt không trôi…”

Cô Nghĩa ngẩn ngơ. Cô hình dung ra cảnh thằng nhỏ nằm giữa bốn
bề hiu quạnh, cô độc, lủi thủi, lầm lì. Như con chó hoang không

được một ai xoa đầu, thèm một lần mừng chủ, thằng nhỏ thèm yêu
thương, thèm hơi ấm con người, thèm một bờ vai…

Tội nghiệp. Cô nghĩ tới hai từ đó suốt đường về, nhưng đi tới đầu
hẻm thì mất hết cảm giác. Chồng với hai thằng con trai đang lui cui
quét nước sơn lên xóa đi những lời tỏ tình. Cô Nghĩa nghe một đứa
bàn, “hay là mình viết trả mấy chữ “Cảm ơn, cô giáo Nghĩa chỉ yêu
chồng!”…”. Thì sao, đêm nay những trái tim bị trúng tên sẽ xuất
hiện lại thôi mà, không hiểu sao cô nghĩ vậy.

Đúng như cô đoán, sáng sớm thằng con chạy ra đầu hẻm, lúc quay
lại đầy vẻ thất vọng, “bữa nay mắc sơn lại nữa rồi ba ơi…”. Cô
Nghĩa đang cài nút áo dài, mỉm cười rồi không hiểu sao mình lại
cười mà không tức tối, khó chịu, bị quấy rối mà, bị đem ra làm trò
đùa mà, nhất thiết phải giận.

“Em đừng phí công phá tôi, không ăn thua gì đâu”, cô định gặp nó
để dằn mặt, nhưng thằng nhỏ đã tự tới tìm. Lúc nào cũng chủ động.

- Em biết lý do cô tới nhà em, chắc cô thất vọng lắm. Giờ cô tính
sao, lôi em ra giữa buổi lễ chào cờ cảnh cáo trước toàn trường vì
yêu cô? Yêu cô là tội?

Không, trong cô có tiếng trả lời, nhưng khi ra khỏi môi, nó biến
dạng, “Trò đùa của em ngày càng quá quắt, tôi…”. Thằng khỉ cắt lời
cô bằng cách sấn tới làm cô phải lùi lại mấy bước, tưởng nó nhào
vô ôm mình ở ngay hành lang này giữa giờ chơi này chắc cô chết
quá. “Em phải làm sao để cô tin em thật lòng?”, lại cái kiểu thả đồng
xu khua tinh tang vang động vào lòng cô.

Nhưng dù cô tin nó thì sao? Chuyện này không đi tới đâu hết. Cô
Nghĩa bỗng nghĩ vậy. Một bữa, nửa đêm cô thức dậy ra ngoài lấy
nước uống, tình cờ nhìn qua cửa sổ đằng trước, cô thấy nó, trời ơi,
đúng là đứa học trò con nhà giàu học dở, nó đang đứng dưới đường
ngước nhìn lên. Ngọn đèn đằng kia đổ xuống nó một cái bóng dài,
gầy guộc, quái dị. Cô vừa chực thấy nó là nép ngay vô rèm, lén ngó
nó ngồi nhẫn nại ngồi dưới sương đêm ngóng chờ một điều vô
vọng, cô nghĩ thằng nhỏ này sến quá. Khi cô hiện ra trên khung
cửa, cô nghĩ dù vậy nên bù đắp cho nó chút gì, thí dụ như mớ máu

bị mất đi bởi bầy muỗi đói. Dưới kia nó hí hửng ra mặt, ngoác miệng
cười.

Cô mất ngủ. Cứ tới nửa đêm là nghe như có ai đó gọi mình, dù nó
không tới nữa, dù cô nói với nó cô mệt mỏi rồi. Cô giảng lịch sử Việt
Nam mà lơ ngơ tưởng Hoàng Hoa Thám và Đề Thám là hai người,
chểnh mảng ủi quần áo cho chồng, lẫn lộn tên của hai đứa con, nấu
canh chua lại bỏ nước màu dừa. Gương mặt của ba gã đàn ông
trong nhà cô dần biến mất nhường chỗ cho những dấu chấm hỏi.
Bây giờ mọi hành động của cô, như thở dài, đứng dựa cửa sổ ngó
mây bay, chiêm bao ú ớ, soi gương lâu, may áo mới… đều liên
quan gắn bó với vụ tỏ tình ngoài đầu hẻm. Những ánh mắt nghi
hoặc ngờ ngợ ngày càng làm cô khó thở. Cô vốn đã thấy bị rời ra
trong đám đàn ông con trai lộc ngộc, giờ cô độc, hoang mang hơn.
Bỗng dưng buồn bã vì một sợi tóc bạc, thấy đau đáu vì một nếp
nhăn mới, thấy u ám bởi da trên cổ nhão. “Dù em thiệt hay giỡn thì
cũng thôi đi - cô nói với vẻ chán chường – chuyện này không đi tới
đâu hết, em biết mà”. (Nhưng cô muốn đi tới đâu? tới đâu là tới
đâu? – ý nghĩ đó làm cô giật mình)

Nó hẹn gặp cô trong cái thư viện nhỏ vắng vẻ của trường, trong
giấy ghi là “lần cuối, em thề…”. Cô không tới thì tội nghiệp nó uổng
công đợi (Đàn bà thường vậy, một nửa là quản giáo nửa kia là mẹ).
Khỉ đầu đàn, không biết vì động lòng trước vẻ hao gầy của cô hay
chấp nhận được sự thật tình này không có hậu, nó chỉ yêu cầu cô
Nghĩa cho nó ôm một lần. Như đứa con ôm người mẹ đã xa lâu,
như em trai ôm tiễn chị gái lấy chồng, ôm đơn giản thôi, tức là cả
hai đều đứng và tay nó vòng qua lưng cô, ngực nó áp vào ngực cô.
Đầu giờ chiều không có người nào khác trong phòng sách. Mùi
thuốc chống mốc xộc lên ngộp thở. Nghĩ sao mà ôm nhau chỗ này
trời, cô nghĩ. Nhưng thằng nhỏ đã bước tới giang tay bọc lấy cô
giáo, làm cả người cô như tê rần. Đậu miết vào cổ cô là một đôi môi
dày, ẩm ướt, những cơn sóng từ đó loang ra tưới tắm làm cơ thể cô
như mềm nhũn đi, như sắp tan rã tới nơi rồi. Bằng những chuyển
động da diết, khẽ khàng, đôi môi đó để trôi ra những lời nóng bỏng,
“bà già, bà nên biết là không nên bợp tai làm nhục tôi giữa đám
đông…”.

Và chuyện xảy ra tiếp theo là những gì mà ban giám hiệu, hội đồng
sư phạm nhà trường được xem trong đoạn phim quay bằng điện
thoại di động của một đứa bạn nó (hết sức tình cờ) chứng kiến.
Thằng nhỏ cố thoát khỏi vòng tay cô và vùng vẫy hét lên, “không,
em sẽ không đổi tình lấy điểm, em mới mười bảy tuổi thôi mà, em
xin cô buông tha cho em đi…”, mà cô thì chới với, chết sững ở đó.
Nghĩ, thằng nhỏ giỡn chơi mà cũng kỳ công quá. Nghĩ trời đất ơi
hên thiệt, thằng nhỏ giỡn chơi thôi, phải yêu thật thì nó sẽ khổ tâm
lâu lắm, cô hơn nó tới hai mươi bốn tuổi, tình này sẽ không đi tới
đâu hết…

Nhưng cô muốn tới đâu? Tới đâu là tới đâu? Tới một chỗ nào?

MỘ GIÓ

Hồi ấy chị lên mười ba, em nhỏ hơn hai tuổi.

Mười bảy tháng Mười năm đó, ba má đi đám giỗ, để hai chị em lại
nhà. Lúc xách cặp chèo ra cửa má ngoái lại dặn chị :

- Ở nhà coi chừng em...

Chị dạ. Má rải lời dặn dò nằm lển nghển khắp nơi. Chị ngó ngoài
sân thấy “Coi chừng ông trời chuyển mưa thì đem củi vô nhà“ và
”Đóng cái cổng rào lại” đứng dựa hàng bông lồng đèn kêu cọt kẹt,
bước vô nhà vấp “Lấy chổi rơm quét mạng nhện trên bàn thờ” và
“Nhà hết gạo rồi, con lội bộ lại đằng tiệm mua nấu đỡ” thì nằm nép
trong góc bếp. Ở sàn lãn gió thổi xập xòe làm “Còn mấy con cá rô
đem kho tiêu” đập đuôi xao xác vách thùng.

Một mình chị làm bao nhiêu chuyện đó cũng xong, nhưng em cứ cà
nhổng chạy chơi với chuồn chuồn thì ức. Ba hay nói phải chia việc
mà làm, “mỗi người có một bổn phận...”. Con trai kiếm cá con gái
hái rau, con trai ra ruộng rẫy con gái vùi đầu trong xó bếp. Bao giờ
con trai trở thành đàn ông nó có bổn phận đưa tay đánh, còn con
gái (giờ đã là đàn bà) thì giơ thân ra chịu đòn. Vụ đó ba không dạy,
hai chị em tự biết thôi.

Những bài học về bổn phận chị thuộc nằm lòng, nên khi em đòi đi
tiệm mua gạo thay vì bắc ghế quét mạng nhện bàn thờ, chị buộc
lòng gật đầu. Làm chị phải nhường em.

Chị thích được đi tiệm để săm soi mấy cây kẹp tóc thèm chơi.
Nhưng tiệm cũng là thiên đường của em, với những cục kẹo sặc sỡ
như những cái bong bóng sặc sỡ. Dù mỗi lần em đi tiệm dường như
răng lại mòn hơn, dù em hay chểnh mảng kiểu như mua đường cát
về tới nhà thấy cát nhiều hơn đường, còn lẫn lộn thêm mấy con
cuốn chiếu. Bữa trước đi mua đậu trắng em về với cái túi không,
đậu chảy theo cái lỗ thủng rải dọc đường như cô công chúa Mỵ
Châu để lại dấu vết cho chồng. Bữa trước nữa em lội sông mang
gạo về, má phải đem mớ gạo ướt mèm xay bột.

Sẽ xảy ra vài kịch tính ở quãng đường giữa nhà và tiệm tạp hóa bà
Tư Mốt: một nhánh cây gãy lộ ra ổ ong mật, một con diều của ai đó
mắc kẹt trên đọt so đũa, một tiếng chim hót nghe gần... cũng làm
chân em chậm lại mươi phút hay vài giờ hay hết phim, nếu nhà bà
Tư Mốt đang mở một cái phim võ thuật kiểu như Ngôi chùa Thiếu
Lâm tự.

Nên trưa ấy quá bữa rồi mà gạo chưa về tới nhà, chị tưởng em còn
hóng hớt đâu đó. Cái mẻ kho nằm nguội ngắt chờ cơm.

Nhiều ngày sau đó, khi xóm nhỏ nháo nhác vì một cư dân mười một
tuổi đã biến mất, chị vẫn nghĩ em đang chơi đâu đó. Chị giận sôi
những người đã tỏ ra thất vọng khi không tìm thấy thi thể em, ở
ngoài đồng hay dưới đáy sông. Một câu đố không tìm ra câu trả lời,
ông trời cà chớn quá.

Nhiều tháng sau đó, khi ba má vẫn vật vã rã rượi, chị vẫn nghĩ em
đi chơi đâu đó sẽ về. Cho tới khi má rọi cái ảnh em hồi mười tuổi
đặt lên bàn thờ, đứng chung với mấy ông bà già u mặc. Trong ảnh,
em mặc áo thun vàng đồng phục của đội bóng nhi đồng trường lúc
đang nhận giải ba cấp huyện, mặt em nghiêng về trái khoe mụt ruồi
lớn như con ve chó, giống như hình ảnh cuối cùng của buổi sáng ấy
chị ngó thấy em chạy vù đi.

Cái ảnh là kết cuộc cho những chờ đợi nhưng hi vọng đã bay hơi
theo ánh mặt trời. Má sực nhớ biết đâu thi thể thằng nhỏ trôi ra biển
hay bị kẹt dưới chân cầu nào, rồi âm thầm tan rã. Biết đâu giờ hồn
nó vất vơ vất vưởng đói ăn. Ba má bắt đầu kêu em về trong những
bữa cơm. Có lần chị quên không dọn dư ra một cái chén, ba bợp tai
chị cắm đầu, nói “đã kêu mày coi chừng em rồi mà...”.

Coi như chị đã được định tội xong, và định sẵn cho mọi lỗi lầm dù
chẳng mấy liên quan như chuột cắn ổ gà, dông làm ngã cây đu đủ...
Nếu mỗi lần đau trên người chị mọc sợi lông, thì những lần má ngồi
khóc bên sông, những lần ba buông đũa giữa bữa cơm bởi tiếng
bầy trẻ trai đi bắn chim ngang nhà, những cái tết lặng lờ qua, những
khói nhang tối tối, những lần giở quần áo em ra giũ bụi... đã biến chị
thành con khỉ.

Và nếu mỗi lần đau là một giọt nước, một hạt cát thì chị thành sông,
thành đồi cát năm ba mươi tuổi.

Chị sống một mình. Mỗi khi định cười giòn thì chợt nhớ mình đã để
mất đứa em. Mỗi khi định lấy ai đó làm chồng thì nhớ trong cơn mê
sảng má thảng thốt kêu Võ, Võ ơi. Mỗi khi định sống cho ra con
người thì nhớ ba lúc lâm chung vuốt mãi mắt mới chịu nhắm.

Chị vẫn tin em đi chơi đâu đó. Nhà vẫn cặm trên nền cũ, vườn cũ,
kiểu cũ. Cây nào chết thì trồng lại y giống cây đó. Đoạn rào nào gãy
thì được thay giống hệt. Chị chôn chị chỗ buổi sáng em guộn mấy
tờ giấy bạc mua gạo vô dây lưng quần cộc xanh dương, áo màu
xám tro lấm lem mủ chuối vẫy tay rẽ trái chạy vù về phía tiệm tạp
hóa bà Tư Mốt. Lúc đi em không đóng cửa rào làm mấy con gà đi
qua nhà hàng xóm bươi tơi bời giồng cải họ mới gieo.

Một bữa chị qua hàng xóm mượn trẻ con nhổ tóc ngứa, đang ngủ
gà gật, đang lúc hờn hờn cái thân mình chẳng có đứa nhỏ để sai
vặt, chợt nghe bên nhà chó sủa. Chị hỏi vóng qua hào ranh. Người
đó ngập ngừng:

- Cho tôi hỏi nhà chú Mười Hưng.

- Phải rồi, nhà ba tui đó, cậu kiếm ai?

- Em Võ nè, chị Hai...

Người đó nói vậy. Chị không biết cách nào mình đã về đến nhà, bay,
hay bò lết, hay nhảy ào xuống hào càn qua những dây rau muống.
Chỉ biết chị phải về sụp xuống trước bàn thờ, để thưa:

- Đó, ba má thấy chưa, con đã nói là thằng Võ đi chơi mà...

Chị quỵ ở đó rất lâu, tóc xấp xải trải xòe ra đất, lưng khum khum
như một ngôi mộ. Chị không hỏi em đã đi đâu, chẳng ích gì... Đàn
ông rong ruổi đường xa, đàn bà vạ vật ngồi canh cửa, đời phân
công vậy mà...

HIỂU LẦM NHỎ VỀ GIA TÀI CỦA CÔ GÁI NHỎ

"Chút tui lấy cái quý giá nhất của con nhỏ ho lao đó xài đỡ…", thằng
Giang Hồ Con nói, thèm khát tươm ra mắt ướt ròng khi nó ngó vuốt
theo bóng đứa gái chấp chới vào con hẻm tối. Ông già đang ăn bữa
chiều với cháo trắng cùng trứng muối, chực nghẹn. Ông nạt nhỏ,
giọng đuối như sắp khóc :

- Bậy, mầy. Con nhỏ đó coi bộ hiền. Tội nghiệp…

Nhưng dân giang hồ tuyệt không biết tới hai từ "tội nghiệp…", nhất
là thằng Giang Hồ Con. Hồi mới lảng vảng ở địa bàn này, nó vỗ
ngực xưng Năm Thẹo, Bảy Búa... Những cái tên oai hùng rùng rợn
đó là nó tự sáng tạo cho kêu, cho thấy trong người nó chỉ chảy độc
một dòng máu lạnh. Nhưng có vỗ ngực xưng ông trời thì với ông già
từng dầm dề sương gió đường phố, thằng nhỏ vẫn là Giang Hồ
Con. Bằng chứng là nó đang đói meo từ sáng giờ, sau khi lên xuống
bao nhiêu xe buýt. Vào một ngày người ta bỗng dưng đầy cảnh
giác, chẳng để lộ chút sơ hở nào. Vào một ngày chỉ một gói xôi năm
ngàn đồng bạc còn kiếm không ra để lót lòng cho qua bữa, đừng nói
tới chuyện teo phê tê mê.

Buồn tình, Giang Hồ Con vạ vật chỗ ông già, bòn mót từng điếu
thuốc. Khói không đủ no. Nhưng không đủ tắt đi dục vọng bỗng
dưng bùng cháy trong người nó. Thằng nhỏ túng tiền, không tiền thì
làm gì cho hết cái đêm thênh thang này ? Tình cờ đứa con gái kia
chạy xe qua, tình cờ Giang Hồ Con nhìn thấy chút le lói của niềm
vui chiếm đoạt. Nó liếm môi rạo rực nhắc lại lần nữa, lấy cái quý giá
nhất của con nhỏ.

Đó là đứa con gái xanh, mảnh như nhánh trúc. Mỗi lần thấy con nhỏ
đạp xe từ con hẻm Từ Hải tuôn ra là ông già thót ruột, cảm giác
chút xíu nữa gió bụi trên đường Kiều sẽ làm cô tan vụn. Nhưng cô
không tan, chỉ ngày càng gầy gò do vừa học vừa làm ở xưởng tàu
hủ đâu đó trong hẻm. Cả lúc đi học con nhỏ cũng tranh thủ kiếm
tiền thêm bằng cách chở theo lặc lè mấy giỏ tàu hủ, sữa đậu nành
bỏ mối. Hôm nào nó cũng cắm đầu đi le te, ngang qua ông già theo

kiểu tờ giấy quyến bay, lắt lay lắt lay. Mấy đứa giang hồ la cà ở chỗ
ông già nhận xét "con đó bịnh ban" hay “con nhỏ ho lao”.

Nhờ cái dáng vẻ bệnh hoạn mà con nhỏ sống yên trong con hẻm
dân giang hồ hay lai vãng. Ở đây khuất tối, chằng chịt, nhiều ngoắt
ngoéo nhiều ngách trổ phức tạp... nhưng không ai để ý đứa con gái
có vẻ lặng lờ trong suốt nhạt nhòa chẳng ra đẹp xấu.

Không may, đứa con gái đó chẳng tàng hình được mãi. Trong túng
quẩn răng vắt không ra bợn cơm, không biết làm gì cho đỡ buồn tay
buồn chân một thằng giang hồ vừa kết án cho cô. Dù trước đó
không lâu khi ngó đôi tay trắng dởn của con nhỏ do thường ngâm
trong nước tẩy, nó nói " thấy hết muốn ăn thịt chuột…".

Ông già thắt ruột như mỗi ngày ngó cô ùa ra gió bụi.Con nhỏ chẳng
phải quen biết thiết thân gì với ông. Chỉ là mỗi ngày ông nhìn thấy
nó ít nhất hai lần, vị chi một năm ông gặp nó bảy trăm ba chục bận,
chắc chắn nhiều hơn. Có lần con nhỏ dắt xe tới vá chỗ ông. Bữa đó
ông hỏi hai câu và con nhỏ trả lời hai câu nhưng gom lại không
được miếng nào. Hỏi bây học trường nào. Trả lời : Trường đại học.
Hỏi trọ ở chặng nào. Trả lời trong hẻm. Nhưng con nhỏ chỉ nói nhiêu
thôi, như thể nói làm nó mệt. Nhưng lúc quay đi bỗng nó kêu bữa
nào chú vô nhà con nấu lẩu mắm ăn chơi. Nhà con đằng trước có
chữ “định đẳng cấp quý tộc” với “Mì Caloso – hương vị tuyệt vời”.
Định là khẳng định đó, nhưng chữ khẳng bị rách rồi…

Con nhỏ không nói tên, cũng không cho hay là trong hẻm có tới sáu
cái nhà dừng vách bằng hương vị mì gói tuyệt vời và định đẳng cấp
quý tộc (vì nhiều lý do không khẳng được, bởi vướng thùng rác hay
bị quảng cáo yếu sinh lý dán chồng lên…). Có năm đứa sinh viên
làm thêm ở ba xưởng tàu hủ, cả năm đứa đều mỏng dờn. Một bữa
mon men vô hẻm tìm, không biết con nhỏ ở đâu ông già đứng ngẩn
ngơ rồi quay ra, nghe ngột ngạt trong mắt, trong cổ họng.

Ông cảm tình với con nhỏ, bởi gần chục năm vạ vật ở đất này chưa
ai mời ông tới nhà chơi. Giang hồ không, dân tử tế thì dè dặt với
ông bởi ông chơi với… giang hồ. Không, chính xác là ông kiếm sống
nhờ vào tụi nó : những giang hồ bệ rạc, những du đãng hết thời.

Ban ngày Bảo tàng trong kia mở cửa, ông ne nép bên gốc cây với
tủ thuốc lá và cái pit - tông vá xe, đêm tới ông chiếm dụng mái hiên
bảo tàng làm nhà làm quán với rượu trắng và vài món cá khô, trứng
vịt lộn, đậu phộng rang… Giang hồ tép riu la cà nhậu nhẹt ở chỗ
ông lấy dũng khí trước khi đánh quả hay ăn mừng thắng lợi sau đó.
Phạm trù thắng lợi cũng mênh mông, có lúc tụi nó gặt được nhiều
món nữ trang lấp lánh có lúc thắng lợi là lết được cái thân về dù cả
người tả tơi thương tích. Khi đó ông già đem bông băng thuốc đỏ ra
bán với giá cắt cổ. “Máu con người ta đâu có rẻ, tụi bây…”, ông nói
vậy trong lúc vuốt cho phẳng phiu mấy tờ giấy bạc nhoe nhoét máu,
cho vào túi quần đang mặc, sau đó cài năm cây kim tây, dù ông biết
giang hồ đè ông ra cướp bất cứ lúc nào.

Nhưng giang hồ không làm vậy, cư dân lai vãng hẻm Từ Hải cũng có
thứ đạo nghĩa riêng. Nhiều khi tụi nó cần ông ngồi đó, cho có người
hoặc gợi nhớ những hình bóng thâm tình đã xa xôi… Nhất là nửa
đêm về sáng, sau khi bay xong nằm ườn thiếp đi trên chiếc chiếu
rách dưới bàn tay tẩm quất điêu luyện của ông già cô độc. Lúc nào
cũng có vẻ buồn bã lủi thủi cúi gằm. Ging hồ với ông già tuyệt không
có cái gọi là tình nghĩa. Tiền trao rượu múc. Giang hồ nói chuyện
“làm ăn” cũng không sợ bị lộ, dù tiếng lóng ông già rành sáu câu.
Trà trộn giữa tụi nó lâu ngày ông biết mình phận mỏng lắm. Người
ta có thể bỏ mạng bởi “có cái mặt thấy ghét” theo con mắt thẩm
định của giang hồ, chuyện đó ông chứng kiến rồi. Ông muốn tiếp tục
kiếm sống ở cái vỉa hè này được chừng nào hay chừng ấy, để tìm
kiếm một người, để nói lời xin lỗi…

Ông không biết cách nào ngăn thằng Giang Hồ Con lại, dù tội
nghiệp cho đứa con gái đó. Đứa con gái từng rủ ông tới nhà chơi.
Đứa con gái vẫn cung cúc chở tàu hủ sữa đậu nành đi bỏ mối khi
húng bạn cùng trang lứa với nó đêm đêm thành bướm mọc cánh
bay ra những khách sạn bên kia đường kiếm tiền son phấn hay học
phí kỳ hai.

Con Giấy Quyến sẽ nhàu nhừ khi thằng ôn dịch này đụng vào. Ông
già nghĩ vậy khi nhìn vào cánh tay lông lá u sù đầy dấu kim của
thằng du đãng. Kéo ghế ngồi gần nó, ông thủ thỉ vài câu chuyện vẩn

vơ, cốt là câu giờ. Bỗng dưng ông nghĩ biết đâu thâm tình làm cho
con quỹ trong thằng nhỏ này thôi trỗi dậy, nên giả đò bâng quơ hỏi,
"Ông bà già mầy sống đâu ? Hỏng chừng má mầy đang chờ cửa…".
Chưa hết câu mà hối hận rào ra làm đuối lưỡi, ông ngờ rằng những
lời đó làm thằng nhỏ bỏ đi sớm hơn. Giang Hồ Con xô ghế đứng
lên, nói khuya rồi, tui tà tà vô hẻm chơi đây. Sau mỗi bước chân cái
lưng quần nó lại tụt thêm một chút, phô ra hai múi đít lỏng thỏng
thâm sì. Nó cần làm gì đó vui vui, bữa nay buồn quá.

Ông già thẩn thờ đứng nhìn theo thằng Giang Hồ Con. Nó hát ngêu
ngao "Ngày lấy chồng em tưng tưng tưng tưng…" bằng thứ giọng
phấn khởi náo nức. Rồi thì con hẻm chỉ còn tiếng huýt sáo của nó
ngắc nga ngắc ngéo trên mảng hàng rào người ta cắm đầy miểng
chai nhọn hoắc.

Ông già Khô Mực hay còn gọi là Ê Tẩm Quất hay Ê Vá Xe đã sống
ngót chục năm trên đường phố, đã từng thấy máu không biến sắc,
vết chém nào cũng đã ngó qua… bỗng hoang mang. Trong thinh
lặng ông nghe nước chảy leo lẻo bên dưới miệng cống. Âm thanh
nước chảy luôn lừa mị ông, lúc nào cũng róc rách trong veo bất kể
màu nước đen ngòm bốc mùi hôi thối. Tiếng nước nhẩn nha, lòng
ông cồn cả, cảm giác như hồi chiến nằm trốn lính trong rừng mà
ngóng về ấp chiến lược. Mấy đứa em và người con gái ông thương
kẹt lại trong đó. Người sau này là vợ ông, và đã không còn ở bên
ông từ đêm tân hôn cô thấy chồng mình hì hụi tìm dấu máu tươi
trên giường cưới.

Chiều hôm sau khi quay trở lại chỗ ông già, thằng Giang Hồ Con
nhăn nhở khoe lượm con ho lao quá dễ. Ông già nín lặng, ông biết
tấm vách gá bằng thùng giấy và những tấm nhựa quảng cáo không
ngăn nổi một cuộc cướp đoạt, giày vò. Đứa con gái đó sáng nay đã
đi qua chỗ ông. Đi bộ. Hai tay xách hai giỏ tàu hủ đậu nành lặc lè
xao xác. Chân xà bát. Vai oằn cô độc. Mất mát. Chắc con nhỏ đau
đến nỗi không ngồi lên yên xe đạp được, ông nghĩ vậy, cái thằng bất
nhân quá…

Giang Hồ Con không đọc được vận rủi của mình trong sự im lặng
của ông già. Nó không ngờ có một tối đang không ông già vấp té

hất cái pít tông ngun ngút lửa vô trong lòng nó. Thằng nhỏ không
hiểu sao dây giày của nó lại bị vướng vào nhau. Cũng không hiểu
ông già quýnh quíu kiểu gì mà đi lấy rượu dập lửa. Càng khó hiểu
mấy chữ ông grừ grừ trong họng, "chết chết, thôi rồi, cháy tiêu cái
công cụ cưỡng hiếp con gái nhà lành rồi…"

Đâu ! Hồi nào đâu ?! Nó chỉ lấy của con nhỏ chiếc xe đạp thôi mà,
đó không phải thứ quý giá nhất của con nhỏ nghèo mạt đó thì là gì
là gì ? Ông già mắc dịch tưởng là gì, giữa cái thời buổi đảo điên
này…

OSHO VÀ BỒ

“Osho nói, chữ viết làm người ta văn minh hơn nhưng cũng độc ác
hơn.”

Bồ nói và nắm bàn tay Vĩnh đang lạnh đi. Khi đó hai đứa ngồi ở nhà
chờ xe buýt, bồ vừa đọc xong một mẫu báo cũ dùng để gói bánh
mì. Trên giấy úa có cái tựa lớn “Đến thơ cũng ăn cắp?” cùng ảnh
một người đàn ông. Vĩnh nhớn nhác ngó sơ mà biết bài viết có năm
trăm mười bảy chữ, ba chữ sai lỗi chính tả, và ảnh kia là ba nó. Báo
cũ lạt mực, nhưng cũng đủ nhận ra một gương mặt xương xương
đa cảm, hơi ngước lên.

Tấm hình này nằm trong tập thơ riêng đầu tiên và cũng là cuối cùng
của ba Vĩnh, người ta sẵn đó chụp lại in báo. Họ không tới gặp ông.
Những quyển thơ ba nó đem đi đốt lâu rồi, và cái nhìn thẳng cũng
vắng bặt. Ở nhà chỉ còn ánh mắt khi rắn đanh, khi lầm lũi, khi u tối…
Nhưng chân dung cũ vẫn tồn tại trong những tờ báo cũ, vẫn xộc tới
bâng quơ, tình cờ như mảnh giấy gói bánh mì này.

Và tình cờ làm buổi hẹn hò của Vĩnh kết thúc. Nó ào lên chuyến xe
buýt vừa trờ tới, bỏ lại mớ ngơ ngác cho con bồ. Năm phút trước
Vĩnh nói, “tụi mình đi đâu đó chơi đi…”, và ngó bồ mừng rỡ nhoẻn
cười, Vĩnh đã nghĩ, hay là chiều nay nó sẽ đưa cô gái này vượt qua
một mê cung hẻm, tới căn ngôi nhà có cái cổng gỗ vẹo vọ đằng
trước. Bồ sẽ bất ngờ lắm khi nó ghé vào tai nói nhỏ, “má anh lãng
tai, Ái nhớ thưa lớn tiếng…”. Bồ mong đợi cuộc gặp gỡ này từ hồi
Tết, khi hỏi Vĩnh, lần đầu, “sao anh không đưa em về nhà chào ba
má?”. Câu này có nghĩa, “anh có nghiêm túc yêu em không?”.

Đôi khi bồ hoang mang, thấy Vĩnh ngồi một cục thù lù trước mặt vậy
nhưng thật khó nắm bắt, như khói vậy. Đôi khi bồ không nhớ ra ông
Osho có lời khuyên nào trúng vô trường hợp này.

- Osho nói, nghi ngại có nghĩa là đứng lại. Thằng Vĩnh nhại lại lời bồ.

Câu này Vĩnh nghe hồi nào nó không nhớ rõ, bởi bồ trích dẫn Osho
như cơm bữa. Quen nhau ở lớp sinh ngữ tối ít lâu, một bữa cô

nghiêng đầu nhìn Vĩnh, bảo, “Có ông Osho bên Ấn Độ nói, nếu buồn
không tiêu hóa được, chỉ còn cách ói nó ra, bằng lời. Ái thấy anh
buồn rượi, sao không nói cho Ái nghe, cho khỏe người…”. Vĩnh
nghe tên ông đó lạ hoắc, nhưng qua cô nhân viên của nhà sách Văn
Việt, thấy người này hơi kỳ lạ.

“Osho nói, trong đời người ta sẽ bị ném đá một vài lần, đau chút
nhưng chết vì mấy cục đá đó thì lãng quá”, Vĩnh nghe như ông
Osho này từng học chung lớp, từng nghe đám bạn mỉa mai cười
cợt, “bữa nay ba mầy lên báo nào?”…

“Osho nói, chạy trốn là dở ẹt, nhất là chạy trốn tình yêu…”, như
Osho biết tại sao Vĩnh hay lẻn ra bằng cổng phụ tránh về cùng cô
gái, tại sao Vĩnh lại phủi người ta như phủi bụi, tôi chỉ là thợ cơ khí,
nghèo lắm. Không ăn thua gì, cô gái cười, “Có sao đâu, Osho
nói…”.

Có thật Osho nói vậy? Vĩnh không biết, nó đâu có đọc sách, cứ cầm
cuốn sách là trong cổ cuộn lên tiếng ngáy. Báo thì nhà Vĩnh đã
không mua từ bảy năm trước, không một tờ nào. Nhưng cô gái bốn
mươi hai kí lô kia là có thật, cô nói nhiều câu (được cho là của
Osho) vá víu được nỗi đau âm thầm, biết Vĩnh bị thương chỗ nào
và luôn chọn một miếng đắp thích hợp. Ngay cả khi Vĩnh thắc mắc,
“tại sao tôi phải tin Osho?”

- Vì ổng không phải thánh, cũng không phải tầm thường như tụi
mình, Vĩnh thử tin đi nếu thần thánh với con người đã làm Vĩnh thất
vọng - Cô gái rụt cổ, nói thêm - Ái đọc thấy người ta viết vậy, chớ
không phải Ái nghĩ ra đâu.

Vậy có câu nào mà Ái tự nghĩ ra? - Có lần Vĩnh hỏi vặn. Cô gái day
qua ngó vào mắt Vĩnh và đôi môi nhảy múa khẽ khàng trên gương
mặt nhỏ nhắn ấm áp, “em yêu anh!”. Môi Vĩnh quen mím chặt,
thường bị răng cắn rát… không kìm được bèn áp vào đôi môi mát
lành kia, đắp lên vừa khít một vết thương.

Từ bữa đó đời gọi tên cô gái là bồ.

Bồ Vĩnh dù đọc nhiều sách trong nhà sách mà cô đang làm việc,
vẫn giản dị như đa số bồ (không đọc sách) khác, nghĩ yêu một lúc
thì nên cưới nhau rồi yêu tiếp cho chắc ăn. Bồ trông Vĩnh đưa mình
về nhà, cô sẽ sà vô bếp nấu nướng với má Vĩnh, nghe bà già kể hồi
nhỏ thằng Vĩnh ở truồng. Sau đó ra uống trà với ba Vĩnh, chuyện
trò về sách, hoặc theo người chị gái chưa chồng vào phòng, thủ thỉ
bày cho chị cách yêu.

Thiên đường đó bảy năm trước Vĩnh đã có và đã mất. Bởi hai chữ
“ăn cắp”, dù có dấu chấm hỏi đằng sau. Dấu thì mỏng mà hai chữ
kia quá trần trụi, khiêu khích, bén ngót. Chúng róc chỗ này chỗ kia
tí, nhà Vĩnh trống hoang. Đến buổi yêu ban chiều chúng còn xước
mất.

Phải không, hay chính mình đã hai tay dâng cho chúng? Vĩnh nghĩ
vậy khi bước vào căn nhà vắng. Má Vĩnh đã ngủ từ chạng vạng. Ba
nó đang coi ti vi, chương trình khuyến nông chống rầy nâu cho lúa,
một chuyện không ăn nhập gì tới cuộc đời ông. Nhưng ông vẫn ngồi
cú rủ trước ti vi cho đến khi mỏi mòn đi ngủ. Đó là lúc má Vĩnh thức,
lẹp xẹp ra ngó ti vi. Không ti vi thì làm gì bây giờ, ngoài cỗng biết
đâu người ta còn nhớ…

Vĩnh ngồi ở cầu thang nghe ngôi nhà thiu thỉu nằm đau. Nhìn ba nó
từ phía lưng, Vĩnh cảm giác ông già đang lún sâu trên ghế, và bóng
tối sắp nuốt trộng cả phần đầu. Nó muốn cứu ông, chết cũng được,
cũng phải cứu ông.

Mà làm gì đến nỗi chết, dù bồ cũng ném đá vào Vĩnh bằng vẻ thất
vọng sững sờ trước sự thật, “ba anh từng lên báo vì bị nghi ngờ ăn
cắp một bài thơ…”, dù cuộc tình dừng lại. Nhưng bồ đọc nhiều
sách, bồ chỉ phì cười, mặt mũi vừa rửa trôi mớ bụi đường, trong
veo, “Có sao đâu…”

- Đi với anh, có ông già bị thương quá trời, cần em lắm…

THỀM NẮNG SAU LƯNG

Ngày đầu tiên tới trường, Bằng lếch thếch quay về nhà với mớ sách
vở ướt mèm, bộ đồ bê bết sình đất, bà ngoại kêu trời, nói, “tại thằng
cha mầy không nên thân…”. Bằng nói không phải, do đường trơn,
bữa qua mưa lớn quá.

Bằng mười tuổi, đi đào bắt chuột với mấy đứa nhỏ trong xóm, bị tụi
nó vô tình xắn lưỡi dá vào cổ tay, máu chảy tràn, bà ngoại kêu trời,
nói, “thằng cha mầy thiệt là bất nhân…”. Bằng nói, tại thằng Kẹo
tưởng đâu tay con là con chuột…

Bằng mười sáu tuổi, đi đốn so đũa làm củi chụm, búa trật vào bàn
chân làm đứt phăng một ngón, ngoại đấm ngực kêu trời, “ông trời
ngó xuống coi, thằng cha bây có phải là người không ?”. Bằng nói,
tại con mài cây búa bén quá.

Giờ thì Bằng đã hai mươi hai tuổi, trên người thẹo vết không đếm
hết. Ngoại Bằng nói cha cậu phải chịu trách nhiệm về tất cả nỗi đau
này. Nhưng không có vết nào là do chính tay cha Bằng gây ra, nên
cậu vẫn chưa thể oán hận ông như bà ngoại và má mong muốn. Đôi
lúc cậu thấy buồn, vì mình đã làm họ thất vọng, đôi lần.

Hôm Bằng ra đời, má đã thất vọng rã người, khi phải đẻ rớt cậu trên
xuồng, giữa đường tới trạm xá. Xanh xao và mất máu, má cũng kịp
thở dài, “nhà đã có một người đẻ trôi nổi rồi, chưa đủ sao?”. Người
“đẻ trôi nổi” là ba cậu, lúc đó đang đi theo máy cày bên Đồng Ông
Lớn. Ba Bằng về thì con trai gần đầy tháng, ba rón rén nhìn đứa trẻ
được gói ngo ngoe trong chiếu, phì cười, “trời, ngộ quá hen, dài
ngoằng vầy mà sao nằm khoanh trong bụng con người ta được
vậy?”. Bằng chỉ nghe kể lại, ngay cả vụ ba bồng cậu đi chơi bên
xóm, về tới nhà trên tay chỉ còn mấy tấm khăn áo bọc ngoài, cậu thì
rơi tuột xuống đống rơm bên đường… Mới bốn tháng tuổi, Bằng
chưa có ký ức, nên cũng không nhớ là đã đau và đã khóc ra sao,
nên cũng không thể giận ông vì cái lỗi lơ đễnh đó.

Người lớn thì giận. Có lần đi mượn gạo về, má Bằng vấp chân vô
cái rễ cây, ngay lập tức má rút chiếc dép ra đập cái cây điên dại,
mếu máo “anh khốn nạn, khốn nạn lắm…”. Bữa sau ba cậu mới cặp
xuồng vô bến, mặt mũi, áo tóc nhàu nhò. Ông chở mười mấy giạ
lúa ra tới nhà máy chà, gặp thằng bạn đi qua, bạn rủ đi chợ nhậu
chơi, ông gật đầu. Ở chợ ông gặp vài người bạn nữa, họ rủ ở lại
mai về, ông lại gật đầu. Lúc về chiếc xuồng trống không, ba cậu bán
lúa đi chơi hết tiền. Má Bằng nằm day mặt vô vách, mắt mở trừng
trừng mà nước mắt cứ tuôn ra. Ông nhón chân trên nền nhà ướt
bọp bẹp, kéo tay thằng con, thôi, hai ba con mình ra vườn chơi.

Vườn nhỏ, nhưng rất dài, liếp nối liếp tiếp giáp với cánh đồng mênh
mông đằng xa. Ba Bằng thường trốn ra đây mỗi khi làm vợ giận.
Gác sẵn mấy cây cần câu ngoài vườn, ông ngồi câu cá trong khi
chờ má Bằng nguôi ngoai. Ông sợ nước mắt. Bằng tha thủi chơi
gần đó. Có lúc ông gọi giật giọng, “Bằng, tàu đò Rạng Đông lên tới
đầu doi kìa…”. Chuyện tàu qua làm ông dợm đứng lên, xao xuyến,
dù ông chẳng định đi đâu hết. Có lúc chờ cá cắn câu, thì con chim
tu hú kêu, ông cũng cất tiếng kêu. Tu hú tưởng tiếng đồng loại bèn
đáp lời, vậy là hai bên cứ rượt đuổi, quấn quýt, buộc vào nhau
không rời, không dứt. Cho tới mệt ngất ngư, cho tới chạng vạng,
con tu hú chắc cũng thở dốc ở đâu đó trong lùm tre, ba Bằng mới
chịu xách mấy con cá vô nhà, với vẻ mặt hớn hở và ngây ngất,
quên mất mình đã gây ra chuyện tày đình gì.

Sau này, khi ba Bằng đi rồi, cậu vẫn nhớ những buổi chiều tiếng tu
hú vờn nhau, đuổi bắt, mơn trớn, dìu dặt trong vườn. Có bữa bơi
xuồng qua nhà ngoại chở nước mưa, trên đường về nghe bìm bịp
kêu thâm u trong bờ dừa nước, cậu cũng bắc chước kêu bịp bịp. Cả
khúc sông nhói ran. Bà mẹ đợi lâu quá lội bộ đi kiếm, thấy thằng con
đang thả xuồng trôi dập dềnh bên những chùm gọng, đang nói tiếng
chim giữa chơi vơi nước lớn. Bữa đó Bằng bị trận đòn tơi tả, má
vừa đánh vừa khóc, “thằng cha đã không nên thân rồi, giờ tới thằng
con, chừng nào mầy bỏ má mà đi, hả?”.

Không, Bằng kêu trong lòng, con không bỏ má. Ba Bằng nói, nhà có
một người giang hồ là đủ khổ rồi. Hôm đó ông vừa nói vừa vò đầu

cậu. Hai ba con ngồi ở bên hè, má cậu đã lạnh lùng bơi xuồng qua
nhà ngoại, chắc là qua đó nằm khóc. Bữa đó ba cậu mới về, sau
chuyến vắng nhà ngót nửa năm. Ba ngó nghiêng vô bồ lúa, hỏi :

- Nhà mình lúc này sao?

- Cũng vậy. Lúa đủ ăn.

- Má con sao?

- Cũng vậy. Có mấy người tới, má lấy chổi quét dạt ra đường. Má
nói thấy đàn ông mắc chán.

- Trời, giờ nói vậy, mai mốt kiếm không ra à.

- Thì đó… con cũng nói vậy.

Bằng nói với ba như với ông khách mới tới nhà, như người quen lâu
lâu mới gặp. Cậu ta lẻo đẻo đi đằng sau bước chân bỡ ngỡ của
khách, lâu lâu lại nhắc “ba, coi chừng đụng đầu. Cái chái này con
mới lợp lại…”. Cuối ngày thì ba cậu đón tàu đi. Bằng hỏi, lúc này
nhà ba ở đâu. Ông cười nhỏ, vò đầu cậu:

- Nhà ba ở chỗ có người ba thương.

Bằng lại hỏi :

- Cái người tên Hường ca hay ba kể hôm trước hả?

Ba cậu cười, nửa ngượng ngiụ nửa sung sướng, cánh mũi phập
phồng, thôi rồi, ba đang thương cô Năm Phượng trồng khóm bên
Xóm Rẫy. Cô này lớn hơn ba năm tuổi, mà trẻ măng. Bằng ờ ờ, ngó
chiếc tàu đò vừa ló cái mũi qua doi trâm bầu, nói vội :

- Chừng nào rảnh ba dẫn con đi theo chơi ít bữa.

Ba vò đầu cậu lần nữa, và nói cái câu chìm sâu trong vũng ngậm
ngùi, rằng nhà mình chỉ nên có một người giang hồ thôi. Bằng nén
thở dài, thấy trùng trình nhìn tàu đi.

Hai mươi hai tuổi Bằng vẫn hay bợ cột nhà, mỗi khi tàu đò qua. Như
thể cậu đang níu, đang vịn chính mình ở lại. Những chiếc tàu nối
đầu ghềnh cuối bãi, đi tới những chân trời xa xôi, tươi mới. Cậu

muốn vẫy tay, để cùng chiếc tàu xé đôi cái viền sông xanh rợp
những lùm cây hoang dại, chui ra khỏi cái chốn quê này. Nhưng chút
nữa Bằng phải qua nhà má đốn cây, chẻ lá để vài ngày tới lợp rạp.
Hiên, con gái của dượng sắp lấy chồng.

Hiên bằng nhỏ hơn Bằng một tuổi, đó là đứa con gái hay mủi lòng.
Có lần ngoại chiên bánh xèo, sai Bằng đem qua nhà má, gặp Hiên,
Bằng nói, ngoại tao cho ba mày bánh. Con Hiên tự nhiên khóc
mướt, nó mếu máo nói sao mà anh Hai nói chuyện nghe xa lạ quá
chừng. Nó cũng cho rằng việc học hành dang dở, hay những
thương tích trên người Bằng là do Bằng không có người cha tử tế.
Bằng chỉ cười, gãi gãi cái đầu gối.

Có đôi lúc Bằng thấy đời mình hơi buồn. Bằng cố gắng giận ba về
cái việc ông giang hồ ham chơi. Nó cố gắng giận má việc bà đi bước
nữa với dượng Tư Thuần. Nhưng giận dữ và day dứt lại làm Bằng
thấy buồn hơn. Quên bỏ thì thấy nhẹ nhỏm, hớn hở. Cảm thấy
nhiều chuyện hồi nhỏ trong lòng mình vẫn nhớ, nên không gọi là
mất. Và nhiều thứ mình chưa kịp có, càng không thể gọi là mất.

Hiên, Bằng không tính là mình đã có. Đứa em này từ trên trời rơi
xuống, chưa sống chung nhà một ngày, vài ba bữa gặp nhau một
lần, nói vài ba câu. Hiên hay khóc quá, Bằng cũng sợ, vì không biết
trước được con nhỏ sẽ sụt sùi lúc nào. Hỏi má tao đâu Hiên cũng
khóc. Hỏi bên nhà mầy ăn cơm chiều chưa, Hiên cũng khóc. Hôm
nghe tin đám gã sẽ tổ chức vào rằm tháng chín này, Bằng ngồi tra
cái cán dao, nói, “mừng quá, bữa đó tao được ăn ngon…”. Con
Hiên khóc tức khóc tưởi như Bằng vừa mới đánh nó. Bằng sợ nước
mắt như ngày xưa ba nó sợ nước mắt má nó, nên bỏ ra vườn, chọc
ghẹo con tu hú, chim vừa kêu vừa bay, Bằng vừa kêu vừa đi, theo
hết chín mảnh vườn, băng qua chín hào ranh, mệt đứt hơi. Lúc
quay vô nhà con Hiên vẫn còn thút thít. Từ bữa đó, nó không nhìn
Bằng nữa.

Bằng cũng không lấy đó làm chuyện buồn lòng, cậu bận tối mắt mũi.
Lúc thì kéo cá dưới ao, lúc thì chạy xuồng đi mua nước đá, lúc chở
má đi chợ… Đôi khi bỗng nghĩ, khi nào mình cưới, chắc ba sẽ về.
Ông sẽ xớ rớ ngồi bên mép ghế, tay mân mê mép bàn, sượng sùng

nhìn quanh. Bằng sẽ ra cầm khách, mời ba ăn bánh, hay ba ăn
thêm chén cơm nữa, đừng có ngại. Bằng hình dung, má cậu sẽ giả
vờ lạnh lẽo lướt qua người đàn ông năm xưa là chồng mình, bà
không thể lấy chổi chà quét đuổi vì đó là ngày cưới. Bằng cưới, thí
dụ vậy. Có điều, lúc đó Bằng sẽ không biết ông ở đâu mà nhắn tin.
Năm ngoái chạy chiếc ghe chở than đước qua khúc sông Láng
Cháo này, ông thập thò ghé thăm Bằng. Bà ngoại mắt đã mờ, cũng
không biết ai ghé nhà, nhưng nghe cất tiếng hỏi “má khỏe không ?”
là cằn nhằn ở đâu lổn nhổn bò ra. Ba Bằng cười hề hề, kéo tay
thằng con ra sông ngồi nói chuyện chơi. Bằng không còn hỏi lúc này
ba ở chỗ nào, tự thấy chiếc ghe mui vuông đậu đằng kia là nhà ông,
nơi thấp thoáng một tà áo đỏ lúi húi vào ra.

Hôm đó, ba rờ nắn dái Bằng, hỏi :

- Ê, muốn vợ chưa mậy?

- Muốn hồi mười lăm mười sáu tuổi rồi, ông ơi! – Cậu nghe cái đó
nhộn nhạo chạo chực trong bàn tay mềm mại của ông.

- Trễ vậy? Hồi đó tao mười hai tuổi là thấy gái biết ham - Ông cười
vang. Rồi rất cố gắng, vừa sửa cái bâu áo lại, ông vừa nói với giọng
nghiêm túc - - Chừng nào cưới vợ ba lo cho một cây vàng.

Bằng cười, tự biết lời hứa này không nên chờ đợi. Người cha cũng
tẽn tò, bẻ nhánh cây xoi xoi trên mặt đất. Bằng biết ông nghèo bộng
ruột. Nghèo mà không áy náy hay lo lắng chuyện mình nghèo. Hồi đi
theo máy cày, nửa tháng ăn sương ngủ gió trên đồng, lúc về nhà chỉ
có nhúm tiền con con, má Bằng thở dài, “trên đời dưới thế chỉ có
mình anh, gặp bạn bè là quên phứt vợ con…”. Ba Bằng gãi đầu,
cười hệch, ừa, sao kỳ quá, anh tính ghé tiệm tạp hóa mua cho con
lon sữa với mấy ký đường, gặp thằng bạn cũ, nó rủ ngồi lai rai chơi.
Bữa sau tính về, bạn kéo đi đám cưới cháu vợ nó, đờn ca vui
quá…” Và trong đám người vui chơi ca hát đó có người đàn bà tên
Hường, chuyện đó thì ba cậu không kể.

Khi nhớ về người cha trôi giạt, Bằng luôn trong vai một người đứng
bên lề, nghiêng ngó. Dù khi ông rượt theo con tu hú, cậu cũng ở đó,
nhưng lại thấy mình rời ra. Chỉ mình người cha với cuộc chơi tùy


Click to View FlipBook Version