Ta
nói
không
cần,
tốt
nhất
là
nói
ngay
ra
điều
cần
nói
với
nhau.
Anh
sục
cả
hai
tay
vào
trong
xắc
rút
ra
bao
thuốc
lá.
Ta
đưa
diêm
cho
anh,
hy
vọng
anh
châm
nhanh
thuốc
rồi
nói
xem
cần
gì.
Anh
ấp
úng
nói
anh
viết
một
chuyện
chân
thực.
Ta
ngắt
lời
nói
rõ
ta
không
phải
nhà
báo,
ta
không
thú
gì
cái
chân
thực.
Càng
lúng
búng
hơn,
anh
nói
anh
biết
văn
học
không
giống
phóng
sự
báo
chí.
Cái
anh
viết
đúng
là
một
tiểu
thuyết
dựa
trên
sự
việc
và
nhân
vật
có
thật,
với
hư
cấu
cần
thiết.
Anh
mong
ta
nói
xem
liệu
tiểu
thuyết
này
có
xuất
bản
được
không.
Ta
nói
ta
không
phải
nhà
xuất
bản.
Anh
bảo
anh
biết
rõ
thế,
anh
chỉ
muốn
ta
khuyên
bảo
anh
và
sửa
bản
thảo
cho
anh.
Nếu
ta
bằng
lòng,
ta
có
thể
thêm
cả
tên
ta
vào,
cái
đó
như
thể
một
sự
cộng
tác
vậy.
Dĩ
nhiên
tên
anh
sẽ
được
đặt
dưới
tên
ta
ở
bìa
sách.
Ta
nói
ta
sợ
nếu
thêm
tên
ta
vào
lại
càng
khó
xuất
bản.
-‐‑
Tại
sao?
-‐‑
Vì
để
xuất
bản
tác
phẩm
của
tôi,
tôi
gặp
phải
nhiều
khó
khăn
lắm.
Anh
ừ
một
tiếng
chứng
tỏ
rằng
anh
hiểu.
Tuy
thế
ta
vẫn
sợ
anh
chưa
hiểu
hoàn
toàn,
ta
nói
tốt
hơn
cả
là
anh
tự
tìm
lấy
người
biên
tập.
Anh
im
lặng,
phân
vân.
Lo
xa,
ta
hỏi
anh:
anh
có
thể
mang
bản
thảo
đi
được
không?
-‐‑
Anh
có
thể
chuyển
hộ
nó
tới
một
nhà
xuất
bản
được
không?
-‐‑
Anh
mở
to
mắt
hỏi
lại.
-‐‑
Tốt
hơn
là
anh
trực
tiếp
gửi
nó,
như
thế
chắc
chắn
tránh
được
cho
anh
các
sự
phiền
hà.
Ta
nhoẻn
một
nụ
cười
rộng.
Anh
cũng
cười,
cất
bản
thảo
vào
trong
xắc,
ấp
úng
vài
câu
cảm
ơn.
-‐‑
Không,
chính
tôi
phải
cảm
ơn
anh.
Lại
có
tiếng
gõ
cữa
nhưng
ta
không
có
ý
mở
cửa
nữa.
351
Chương
80
Hổn
hển,
từng
bước
một,
bất
chấp
nghìn
khó
khăn,
mi
đi
đến
núi
băng.
Con
sông
băng
mầu
xanh
ngọc
thạch,
tối
thẫm
và
trong
suốt.
Dưới
băng
như
đang
uốn
lượn
những
mạch
ngọc
bích
mênh
mang,
xanh
đen.
Mi
trược
trên
bề
mặt
trơn
bóng,
cái
lạnh
làm
tê
cứng
má
mi,
mi
phát
hiện
ra
ở
trước
mắt
mi
những
giọt
băng
óng
a
óng
ánh
muôn
nghìn
ánh
lửa.
Hơi
thở
từ
miệng
mi
lập
tức
tụ
thành
lớp
sương
mù
nơi
lông
mày.
Một
cô
quạnh
bao
la
bủa
vây
mi.
Lòng
sông
nổi
nhô
lên,
sông
băng
dịch
chuyển
dần
dần,
tốc
độ
không
thể
đo
đếm,
cảm
thấy,
chừng
vài
mét
hay
vài
chục
mét
mỗi
năm
Mi
ngược
sông
băng
lên,
như
một
côn
trùng
sắp
bị
bất
động,
đông
cứng
đi
vì
giá
lạnh.
Đằng
trước,
trong
bóng
tối
mà
nắng
không
tới,
dựng
lên
một
bức
tường
băng
gió
thổi
thốc
vào.
Khi
gió
thổi
lên
trên
một
trăm
mét
một
giây,
nó
mài
bóng
cái
bức
trường
thành
đã
hoàn
toàn
nhẵn
mịn
này.
Giữa
các
vách
tinh
thể
băng
này,
mi
bất
động
mà
cũng
không
thể
thở.
Phổi
mi
đau
nhói,
óc
mi
gần
như
hoàn
toàn
đông
lại,
mi
không
thể
nghĩ
được
nữa,
cái
trống
không
trắng
toàn
vẹn
này,
phải
chăng
là
cái
trạng
huống
mi
đang
tìm
kiếm?
Một
trạng
huống
như
cái
thế
giới
băng
này
tạo
nên
bằng
những
hình
ảnh
mơ
hồ,
làm
nên
bằng
những
bóng
tối
không
nói
ra
cái
gì,
không
có
một
nghĩa
nào,
không
thể
nhận
ra
nổi:
sự
cô
quạnh
hoàn
toàn
chết.
Mỗi
bước
mi
lại
suýt
ngã,
không
hề
gì,
mi
tiếp
tục
trườn,
tay
chân
mi
từ
lâu
đã
mất
hết
cảm
giác.
Trên
bằng,
lớp
tuyết
ngày
một
nhỏ
mịn,
nó
chỉ
vương
vào
các
góc
khuất
gió.
Tuyết
rắn
chắc,
bề
mặt
mềm
mại
của
nó
nén
lại
trong
vỏ
cứng
của
các
tinh
thể
băng.
Dưới
chân
mi,
trong
vực
băng,
một
con
đại
bàng
hói
lượn
tròn;
một
đời
sống
khác
ngoài
đời
của
mi,
mi
không
biết
có
phải
đó
chỉ
là
ấn
tượng
mà
thôi
không,
quan
trọng
là
mi
vẫn
còn
nhìn
thấy.
Mi
leo,
hết
vòng
này
sang
vòng
khác
nhưng
trong
các
vòng
ấy,
giữa
cái
sống
và
cái
chết,
mi
vẫn
vật
vã.
Mi
cứ
tồn
tại,
bởi
lẽ
trong
huyết
quản
mi,
máu
đang
chảy,
cuộc
sống
của
mi
chưa
ngừng
lại.
Trong
im
lặng
mênh
mang
này,
hình
như
mi
nghe
thấy
một
âm
thanh
pha
lê,
âm
thanh
nhỏ
bé
của
một
quả
chuông
con,
tựa
như
ai
gõ
lên
băng
vậy.
Những
áng
mây
tím
hiện
lên
trên
sông
băng,
báo
hiệu
dông
tố
đang
quay
cuồng.
Rìa
mây
tơi
tả
cho
thấy
sức
mạnh
của
dông
bão.
Âm
thanh
ngày
một
rõ
của
quả
chuông
con
đã
đánh
thức
trái
tim
tê
dại
của
mi.
Mi
thấy
một
người
đàn
bà
trên
lưng
ngựa.
Đầu
con
vật
và
hình
bóng
người
đàn
bà
nổi
bật
trên
chân
trời
ngập
tuyết.
Một
vực
thẳm
trải
dài
ra.
Hình
như
mi
nghe
thấy
một
bài
hát
có
tiếng
nhạc
ngựa
đệm
theo.
352
Người
đàn
bà
đến
từ
Xương
Đô,
Bím
tóc
mảnh
mai
trên
đầu
như
dải
lụa
Những
bông
hoa
ngọc
lục
tùng
ở
tai,
Những
xuyến
bạc
phóng
ra
nghìn
tia
lửa
ở
tay,
Tấm
thắt
lưng
nhiều
mầu
ở
eo
áo
dài…
Hình
như
mi
đã
trông
thấy
một
phụ
nữ
Tây
Tạng
trên
ngựa
đi
ngang
qua
cây
cột
tín
hiệu
trắc
địa
trồng
cạnh
đường
cái
lớn,
đánh
dấu
độ
cao
năm
nghìn
sáu
trăm
mét
khi
mi
đi
trong
dãy
Đại
Tuyết
Sơn.
Nàng
quay
lại
cười
với
mi,
dụ
mi
đi
vào
trong
vực
tăm
tối
và
vào
lúc
đó
mi
không
thể
ngăn
được
mi
đi
về
phía
nàng…
Nhưng
đó
chỉ
là
những
kỉ
niệm,
âm
thanh
của
quả
chuông
con
ở
chính
trong
con
người
mi,
tựa
như
nó
ngân
vang
lên
ở
trán,
cơn
đau
xé
rách
phổi
là
không
thể
nào
chịu
nổi,
tim
đập
như
điên
loạn,
đầu
sắp
vỡ
tung.
Khi
máu
mi
đông
tụ
lại
trong
mạch,
đầu
sẽ
vỡ
toang,
lặng
lẽ.
Cuộc
đời
mong
manh
nhưng
nó
vật
lộn
dùng
mãnh,
một
ngoan
cố
của
bản
năng
hoàn
toàn
rõ
nét,
ánh
sáng
ấy
lọt
vào
mây,
di
chuyển
trong
mây,
biến
thành
một
đám
tinh
vân
giống
như
sương
mù
rồi
nó
lại
thay
đổi
và
đông
cứng
lại
để
hóa
thành
mặt
trời
tròn
tăm
tối
phát
ra
thứ
ánh
sáng
le
lói
mầu
lam,
một
mặt
trời
trong
mặt
trời,
ngả
sang
mầu
tím,
rồi
mở
ra,
tâm
đông
cứng,
nó
biến
sang
mầu
đỏ
tối
và
phát
ra
ánh
sáng
khuếch
tán
mầu
tía
đỏ,
mi
nhắm
mắt
để
ngăn
các
tia
của
nó
phạm
tới
mi
nhưng
mi
không
làm
được,
những
run
rẩy
và
những
dục
vọng
dâng
lên
ở
trong
tim
mi,
bên
bờ
những
bóng
đen,
mi
nghe
thấy
âm
nhạc,
cái
âm
thanh
đang
thành
hình
kia
đang
khuếch
đại
lên,
kéo
dài
ra,
đi
qua
mi,
không
thể
biết
ở
đâu,
cái
âm
thanh
pha
lê
và
chói
sắc
ấy
xâm
chiếm
khắp
cơ
thể
mi,
một
tần
số
ngắn
hơn
hòa
vào
đó
mà
mi
không
tài
nào
nắm
bắt
được
tiết
tấu
nhưng
mi
cảm
nhận
thấy
độ
cao,
gắn
với
một
âm
thanh
khác
mà
nó
tan
lẫn
vào,
lan
tràn,
trở
thành
một
dòng
sông
biến
đi
rồi
lại
trở
lại,
trở
lại
rồi
lại
biến
đi,
mặt
trời
mầu
lam
tối
tăm
quay
trong
một
mặt
trăng
còn
tăm
tối
hơn
thế,
mi
nén
thở
và
ngừng
suy
nghĩ,
mi
đã
mất
hơi
thở,
mi
đang
đến
đầu
cùng
của
cuộc
đời,
nhưng
các
con
sóng
ầm
vang
lại
mỗi
lúc
một
mạnh,
chúng
nhấn
chìm
mi,
đẩy
mi
tới
cực
điểm,
cơn
khoái
cảm
tuyệt
đỉnh
thuần
túy
trí
não,
trước
mắt
mi
và
trong
tim
mi
và
trong
cơ
thể
mi
mà
mi
không
biết
mi
đang
sống
ở
trong
xó
xỉnh
nào
của
nó,
ánh
mặt
trời
trong
mặt
trăng
tăm
tối,
trong
một
mớ
âm
thanh
hỗn
độn
tuôn
trào
mỗi
lúc
một
mạnh,
lớn
lên
lớn
lên
lớn
lên
lớn
lên,
phóng
đại
phóng
đại
phóng
đại
phóng
đại
rồi
nổ…
Lại
im
lặng
tuyệt
đối,
mi
chìm
vào
một
bóng
tối
còn
dầy
đặc
hơn,
mi
cứ
vẫn
cảm
thấy
nhịp
đập
của
tim
mi,
cái
đau
thể
xác,
nỗi
sợ
trước
chết
của
cái
cơ
thể
đang
sống
này
là
cụ
thể,
cái
cơ
thể
mà
mi
không
sao
lìa
bỏ
này
đang
phục
hồi
ý
thức
của
nó.
Trong
đêm
tối,
trong
góc
gian
phòng,
trên
máy
ghi
âm
đèn
báo
cường
độ
âm
thanh
nhấp
nháy
liên
hồi.
353
Chương
81
Qua
cửa
sổ
ta
nhìn
thấy
một
con
ếch
con
trên
mặt
đất
phủ
đầy
tuyết.
Một
mắt
nháy,
một
mắt
mở.
Không
động
đậy,
con
ếch
quan
sát
ta.
Ta
hiểu
đó
là
Thượng
đế.
Thượng
đế
hiện
ra
như
thế
trước
mặt
ta,
nhìn
xem
ta
có
nhận
được
sự
ngộ
hay
không.
Người
dùng
mắt,
một
nhắm
một
mở,
nói
chuyện
với
ta.
Khi
nói
với
con
người,
Thượng
đế
không
muốn
cho
người
ta
nghe
thấy
tiếng
nói
của
Người.
Ta
cũng
chẳng
thấy
ngạc
nhiên
cái
đó,
tựa
như
có
phải
là
như
thế,
tựa
hồ
Thượng
đế
vốn
dĩ
là
một
con
nhái,
mắt
tròn
thông
minh
mở
to
nhìn.
Người
sẵn
lòng
quan
chiêm
ta,
một
kẻ
đáng
thương
thế
này
là
đã
đủ
nhân
từ
rồi.
Một
mắt
của
Người,
nhắm
mở
đang
nói
với
nhân
loại
những
điều
không
cách
nào
hiểu
nổi,
ta
nên
biết
thế,
còn
như
ta
có
biết
hay
không,
cái
đó
lại
không
phải
là
việc
của
Thượng
đế.
Ta
cũng
rất
có
thể
cho
rằng
cái
nhắm
mở
mắt
kia
của
Thượng
đế
là
chẳng
có
ý
nghĩa
gì,
mà
ý
nghĩa
của
nó
có
lẽ
lại
chính
là
chỗ
không
có
ý
nghĩa.
Không
có
kỳ
tích
phép
mầu
đâu.
Thượng
đế
chính
là
nói
như
thế,
nói
với
ta,
cái
kẻ
bất
mãn
trọn
đời.
Vậy
thì
còn
có
cái
gì
đáng
truy
cầu
đây?
Ta
hỏi
Thượng
đế.
Bốn
bề
lặng
ngắt.
Tuyết
lặng
lẽ
rơi.
Ta
có
phần
ngạc
nhiên
về
sự
êm
ả
này.
Trên
thiên
đường
yên
tĩnh
như
thế
này
đây.
Cũng
chẳng
có
niềm
vui.
Niềm
vui
chỉ
tồn
tại
đối
lại
với
nỗi
buồn.
Chỉ
tuyết
đang
rơi.
Lúc
này
ta
không
biết
ta
đang
ở
đâu,
ta
không
biết
ở
thiên
đường,
cái
mảnh
đất
này
nó
từ
đâu
ra.
Ta
vọng
nhìn
bốn
phía.
Ta
không
biết
rằng
ta
chẳng
hiểu
gì
hết,
mà
cứ
lại
cho
rằng
ta
hiểu
hết
tất
cả.
Sự
việc
xảy
ra
sau
lưng
ta.
Luôn
có
một
con
mắt
bí
ẩn,
ta
chỉ
còn
cách
vờ
là
hiểu
cả.
Vờ
ra
nhưng
cần
hiểu
thì
lại
đều
chẳng
hiểu.
Ta
thật
tình
cái
gì
cũng
không
hay,
cái
gì
cũng
không
hiểu.
Là
như
thế
đấy.
Mùa
hè
1982
–
Tháng
Chín
1989
Bắc
Kinh
–
Paris
CAO
HÀNH
KIỆN
354
‘Với
tôi,
Trung
Quốc
là
quá
khứ’
Được
ngợi
ca
ở
phương
Tây
nhưng
bị
ghẻ
lạnh,
hắt
hủi
và
cấm
đoán
ngay
trên
chính
quê
hương
mình,
tiểu
thuyết
gia
đoạt
giải
Nobel
2000
ngậm
ngùi
nói
về
đất
nước
đã
sinh
ra
ông
rằng:
“Tôi
coi
Trung
Quốc
như
trang
sách
đã
lật
xong”.
Một
người
bạn
của
tác
giả
Linh
sơn
gần
đây
đã
tìm
được
bản
in
lậu
tác
phẩm
của
ông
tại
một
hiệu
sách
dưới
ga
xe
điện
ngầm
ở
Trung
Quốc.
Sách
của
Cao
Hành
Kiện
từ
lâu
vốn
đã
trôi
nổi
trên
thị
trường
chợ
đen
nước
này
nhưng
ông
bạn
nhà
văn
rất
ngạc
nhiên
khi
hình
ảnh
được
cho
là
tác
giả
trên
trang
bìa
lại
là
ảnh
một
người
khác.
"Tôi
thấy
rất
buồn
cười.
Tôi
làm
việc
này
vì
muốn
có
bộ
sưu
tập
các
cuốn
sách
bị
in
lậu
để
đưa
vào
thư
viện
cá
nhân”,
người
bạn
68
tuổi
của
Cao
Hành
Kiện
cho
biết.
Kể
từ
khi
Cao
Hành
Kiện
đoạt
giải
thưởng
văn
chương
danh
giá
nhất
vào
năm
2000,
tác
phẩm
của
ông
đã
được
dịch
ra
hơn
30
ngôn
ngữ
trên
thế
giới.
Tuy
nhiên,
đến
nay
ông
vẫn
là
tâm
điểm
của
những
lời
chỉ
trích,
cáo
buộc
từ
phía
những
người
đồng
bào.
Nhiều
người
Trung
Quốc
cho
rằng,
Cao
Hành
Kiện
đoạt
giải
Nobel
chỉ
vì
ông
đã
công
khai
phê
phán
đất
nước
mình.
Nhà
văn
cho
biết,
ông
không
quan
tâm
đến
sự
công
kích
đó.
"Những
lời
bình
phẩm
ấy
chủ
yếu
mang
tính
chính
trị.
Kẻ
chỉ
trích
không
bao
giờ
đọc
tác
phẩm
của
tôi
nên
chúng
không
đáng
để
tôi
phải
bận
tâm.
Tôi
cũng
không
biết
là
độc
giả
có
thể
đọc
được
sách
của
tôi
ở
Trung
Quốc
hay
không.
Thực
sự
thì
ngay
cả
điều
đó
tôi
cũng
không
để
ý.
Vì
tôi
còn
quá
nhiều
việc
khác
phải
làm”,
Cao
Hành
Kiện
nói.
Sinh
năm
1940
tại
Giang
Tây,
Trung
Quốc,
như
nhiều
trí
thức
đương
thời,
Cao
Hành
Kiện
bị
bắt
đi
cải
tạo
vào
thời
kỳ
Cách
mạng
Văn
hóa
những
năm
1960.
10
năm
bị
đày
ải
đi
lao
động
để
lọc
“máu
tiểu
tư
sản”
đã
khiến
nhà
văn
bị
ám
ảnh
nặng
nề.
Lo
sợ
cho
sự
an
toàn
của
mình,
Cao
Hành
Kiện
đã
bí
mật
đốt
hết
một
vali
đầy
bản
thảo
mà
ông
từng
phải
lén
lút
viết
ra.
“Tôi
không
bao
giờ
nghĩ
những
gì
tôi
viết
ra
lại
mang
đến
cho
mình
nhiều
rắc
rối
như
vậy”,
nhà
văn
chia
sẻ.
Sau
Cách
mạng
Văn
hóa,
Trung
Quốc
bước
vào
thời
kỳ
cải
cách
sửa
đổi,
Cao
Hành
Kiện
từng
bước
tạo
dựng
tên
tuổi
cho
mình
với
tư
cách
là
một
tiểu
thuyết
gia,
nhà
viết
kịch,
nhà
phê
bình
có
sức
viết
dồi
dào.
Nhưng
vạ
bút
nhanh
chóng
ập
đến
với
Cao
Hành
Kiện
khi
vở
kịch
Trạm
xe
của
ông
bị
một
quan
chức
nhà
nước
nhận
định
là
“sản
phẩm
độc
hại
nhất
kể
từ
khi
thành
lập
nước
Cộng
hòa
Nhân
dân
Trung
Hoa”.
Xuất
bản
năm
1983,
Trạm
xe
là
câu
chuyện
về
một
nhóm
trí
thức
có
nghề
nghiệp
và
cuộc
sống
khác
nhau,
cùng
gặp
nhau
tại
một
trạm
xe
buýt.
Họ
cùng
chờ
đợi
một
chuyến
xe
không
đến
bao
giờ.
Vở
kịch
ngay
lập
tức
bị
cấm
diễn.
Để
tránh
hệ
lụy,
nhà
văn
đành
đơn
độc
thực
hiện
chuyến
đi
lênh
đênh
trên
dòng
Trường
Giang
năm
1983.
Những
điều
mắt
thấy
tai
nghe
và
sự
cảm
nhận
về
chính
số
phận
của
mình
từ
hành
trình
này
đã
giúp
ông
viết
nên
cuốn
tiểu
thuyết
để
đời
Linh
sơn
-‐‑
câu
chuyện
về
chuyến
tìm
đến
nguồn
cội,
sự
yên
ổn
trong
tâm
hồn
và
tự
do
của
một
con
người
cá
nhân.
Sách
xuất
bản
năm
1990
tại
Đài
Loan.
Linh
Sơn
được
ngợi
ca
trong
Lời
tuyên
dương
của
Viện
Hàn
lâm
Thụy
Điển
khi
trao
giải
Nobel
cho
ông.
Viện
Hàn
lâm
đánh
giá,
đây
là
tác
phẩm
“có
tầm
cỡ
thế
giới,
mang
dấu
ấn
đắng
cay
trong
tư
tưởng
và
sự
tinh
tế
của
ngôn
từ,
mở
ra
những
lối
đi
mới
cho
tiểu
thuyết
và
nghệ
thuật
kịch
Trung
Quốc”.
Biết
rõ
sách
của
mình
sẽ
không
bao
giờ
còn
được
xuất
bản
ở
Trung
Quốc,
Cao
Hành
Kiện
sang
Pháp
năm
1987
và
trở
thành
tâm
điểm
tranh
cãi
vài
năm
sau,
khi
ông
công
bố
vở
kịch
Đào
vong
viết
về
sự
biến
Thiên
An
Môn
xảy
ra
ở
Bắc
Kinh
năm
1989.
355
"Tôi
nghĩ,
nhà
văn
phải
tránh
xa
mọi
hình
thức
công
nhận
hoặc
áp
đặt
mang
tính
chính
trị.
Vì
tiếng
nói
của
anh
phải
là
tiếng
nói
của
cá
nhân.
Chỉ
như
thế,
anh
mới
cất
lên
được
những
tiếng
nói
trung
thực”,
nhà
văn
khẳng
định.
Sau
khi
rời
khỏi
Trung
Quốc,
Cao
Hành
Kiện
không
còn
được
quê
nhà
chào
đón,
toàn
bộ
tác
phẩm
của
ông
bị
cấm
xuất
bản
ở
quê
hương.
Nhưng
nhà
văn
cho
biết,
ông
không
hối
tiếc,
cũng
không
mong
ước
được
trở
về
nơi
chôn
nhau
cắt
rốn.
"Với
tôi,
Trung
Quốc
như
một
trang
sách
đã
lật
xong.
Nó
đã
là
quá
khứ”,
nhà
văn
nói.
Hiện
tại,
ông
ở
Pháp,
mang
quốc
tịch
Pháp
và
hài
lòng
với
cuộc
sống
ở
đây.
"Tôi
không
bao
giờ
cưỡng
lại
văn
hóa
phương
Tây,
không
bao
giờ
coi
các
nhân
vật
chính
trong
tiểu
thuyết
phương
Tây
như
những
người
ngoại
quốc.
Họ
chạm
đến
trái
tim
tôi
vì
đều
là
con
người.
Tính
người
vượt
qua
mọi
biên
giới
về
quốc
gia,
văn
hóa
và
ngôn
ngữ.
Tôi
thường
nói
đùa,
tôi
là
‘gã
du
mục
toàn
cầu’.
Tôi
đi
khắp
nơi
trên
thế
giới
để
viết
và
làm
rất
nhiều
công
việc
khác”,
Cao
Hành
Kiện
nói
về
quá
trình
hội
nhập
không
mấy
khó
khăn
của
mình
trên
đất
khách.
Tuy
nhiên,
nhà
văn
cho
biết,
danh
tiếng
là
vấn
đề
khiến
ông
đau
đầu
nhất
hiện
nay.
Ông
mong
muốn
độc
giả
biết
đến
mình
qua
trang
viết
chứ
không
phải
qua
cuộc
sống
cá
nhân.
"Giải
Nobel
Văn
học
rất
quan
trọng
đối
với
tôi.
Nhưng
đồng
thời,
nó
cũng
tạo
ra
nhiều
áp
lực.
Bây
giờ
thật
khó
mà
lắc
đầu
với
một
lời
mời
nào,
vì
chúng
đều
đến
từ
những
người
bạn
của
tôi”,
nhà
văn
tâm
sự.
(Nguồn:
AFP)
HÀ
LINH
356
Cao
Hành
Kiện
và
cuộc
hành
trình
riêng
tư
Tác
giả
của
Linh
sơn
có
lẽ
được
nhiều
người
biết
đến
nhất
như
người
đoạt
giải
Nobel
Văn
học
năm
2000
gây
nhiều
tranh
cãi
-‐‑
lần
đầu
tiên
giải
thưởng
được
trao
cho
một
nhà
văn
Trung
Quốc.
Nhưng
ông
còn
là
một
họa
sĩ,
nhà
thơ
và
nhà
viết
kịch
thành
công.
Các
tác
phẩm
của
ông
thường
đề
cập
tới
phẩm
cách
cá
nhân,
một
môtip
khiến
thế
giới
tôn
trọng
ông
như
một
họa
sĩ
và
cũng
khiến
ông
chịu
nhiều
khổ
sở
trên
mảnh
đất
lâu
nay
ca
ngợi
tính
tập
thể.
Cao
Hành
Kiện
hướng
mọi
khả
năng
đa
dạng
và
những
chủ
đề
ưa
thích
của
ông
vào
Bóng/Bóng
tối,
một
bộ
phim
mới
hoàn
thành.
Bóng/Bóng
tối
không
có
một
cốt
truyện
truyền
thống
mà
lần
theo
cuộc
hành
trình
riêng
tư
của
Cao
Hành
Kiện
đi
vào
thế
giới
siêu
hình.
Người
xem
sẽ
thấy
ông,
trong
trạng
thái
xuất
thần
của
Đạo
giáo,
đang
vẽ
với
bút
sậy
và
sơn
trên
những
tấm
giấy
to.
Nhà
họa
sĩ
đi
tới
đi
lui
trước
ống
kính
máy
quay
phim
nhưng
hầu
như
không
nói
gì
suốt
bộ
phim
90
phút.
Đó
là
sự
thử
nghiệm
về
các
kết
cấu
thị
giác,
đan
dệt
những
cảnh
đẹp
như
mơ
với
những
thước
phim
tài
liệu,
hiện
gần
rồi
xa
thấp
thoáng
giữa
màu
sắc
và
những
họa
phẩm
đen
trắng
nổi
tiếng
của
ông.
Tháng
11-‐‑2007,
ông
tung
ra
một
cuốn
sách
có
cùng
tựa
đề
để
giúp
tuyệt
tác
của
ông
được
biết
đến
chút
ít,
và
để
giải
thích
về
bộ
phim
bằng
các
tiểu
luận,
nhiếp
ảnh
và
thơ.
"Ông
luôn
cảm
thấy
đây
có
thể
là
một
trong
những
công
trình
cuối
cùng
của
ông"
-‐‑
Fiona
Sze
Lorrain,
bạn
của
Cao
Hành
Kiện
và
là
người
biên
tập
cuốn
sách,
cho
biết.
Thật
vậy,
một
cây
bút
sậy
tỉ
mỉ
cùng
với
đạo
lý
đã
sinh
ra
tác
phẩm
mới.
Từ
năm
2003
-‐‑
là
"Năm
Cao
Hành
Kiện"
như
tuyên
bố
của
thành
phố
Marseille
(Pháp),
nơi
ông
là
công
dân
từ
năm
1998
-‐‑
Cao
Hành
Kiện,
67
tuổi,
phải
trải
qua
hai
lần
mổ
tim.
Bệnh
tật
đã
làm
giảm
sút
đáng
kể
việc
sáng
tác
của
ông
nhưng
lại
thôi
thúc
ông
đến
với
công
việc
nhỏ,
tự
đầu
tư
này.
Hiện
nay,
với
nguồn
sinh
lực
của
một
người
được
trao
một
cơ
hội
khác
trong
đời,
Cao
Hành
Kiện
khỏe
mạnh
hơn
đang
lôi
cuốn
cái
nhìn
của
công
chúng
một
lần
nữa.
Đầu
năm
2007,
ông
có
mặt
ở
Đức
trong
một
cuộc
triển
lãm
tranh
của
ông.
Vào
tháng
chín
ông
đến
Mỹ
dự
một
hội
thảo
học
thuật
về
tác
phẩm
của
ông.
Tháng
mười
một
ông
đến
Singapore
lần
đầu
tiên
trong
gần
hai
tuần
để
tặng
một
bức
tranh
cho
viện
bảo
tàng.
Năm
nay
Hong
Kong
sẽ
tổ
chức
một
liên
hoan
lớn
để
vinh
danh
ông;
Cao
Hành
Kiện
sẽ
chủ
tọa
một
diễn
đàn
tại
thư
viện
công
cộng,
ít
nhất
có
một
phòng
tranh
đang
chuẩn
bị
một
triển
lãm,
các
vở
kịch
của
ông
sẽ
được
trình
diễn
và
bộ
phim
của
ông
sẽ
được
chiếu
tại
nhà
nghệ
thuật
cho
nhiều
người
xem.
Thời
kỳ
đầu,
sự
tập
trung
không
khoan
nhượng
cho
kỹ
xảo
đã
biến
ông
thành
một
trong
những
họa
sĩ
khiêu
khích
nhất
ở
Trung
Hoa.
Với
tư
cách
một
trí
thức,
ông
bị
đưa
về
nông
thôn
để
cải
tạo
trong
thời
kỳ
cách
mạng
văn
hóa.
Khi
trở
về,
ông
bắt
đầu
nổi
tiếng
với
các
vở
kịch
hiện
đại,
thể
nghiệm
lấy
cảm
hứng
từ
Brecht
và
Beckett.
Ông
bị
cấm
đoán
sau
khi
các
quan
chức
cho
rằng
vở
kịch
Trạm
xe
buýt
viết
năm
1983
của
ông
chỉ
trích
chính
quyền.
Bị
chẩn
đoán
sai
là
mắc
bệnh
ung
thư
phổi
và
nghe
đồn
rằng
ông
sẽ
bị
đưa
vào
trại
cải
tạo
lao
động,
ông
bắt
đầu
cuộc
đi
bộ
dọc
theo
sông
Dương
Tử
gần
một
năm;
chuyến
đi
sau
đó
biến
thành
Linh
sơn,
cuốn
tiểu
thuyết
đưa
ông
đến
giải
Nobel.
Năm
1989,
ông
sang
Pháp
định
cư,
và
trong
những
năm
đầu
sống
lưu
vong
ở
Paris,
ông
kiếm
sống
bằng
cách
bán
các
bức
tranh
của
mình.
357
Các
họa
sĩ
khác
rời
Trung
Quốc
vào
thập
niên
1980
đã
quay
về.
Họ
giữ
hộ
chiếu
Hoa
Kỳ
hay
châu
Âu
nhưng
về
sống
vài
tháng
mỗi
năm
ở
Trung
Quốc,
nơi
"các
ngành
kinh
doanh
văn
hóa",
như
cách
mọi
người
gọi
nghệ
thuật,
đang
nở
rộ.
Nhưng
đó
không
phải
là
chọn
lựa
đối
với
Cao
Hành
Kiện.
Ông
Gilbert
Fong
Chee
Fun
ở
Đại
học
Trung
Quốc
tại
Hong
Kong
nói
thêm:
"Ông
làm
bộ
phim
Bóng/Bóng
tối
bởi
vì
nếu
bạn
nói
lên
một
điều
gì,
bạn
tồn
tại".
Ngay
cả
khi
bạn
nói
điều
đó
chủ
yếu
thông
qua
những
hình
ảnh
bí
ẩn.
MAI
SƠN
dịch
(Theo
Newsweek)
358
Cao
Hành
Kiện
không
đọc
văn
học
Trung
Quốc
Tự
nhận
mình
là
một
công
dân
thế
giới,
từ
khi
rời
khỏi
quê
hương,
tiểu
thuyết
gia
đoạt
giải
Nobel
2000
vẫn
đều
đặn
viết,
trước
hết
và
trên
hết
là
cho
bản
thân.
Văn
chương,
với
ông,
phải
vượt
lên
khỏi
biên
giới
quốc
gia
và
lãnh
thổ.
Dưới
đây
là
những
chia
sẻ
của
nhà
văn
Cao
Hành
Kiện.
Sylvia
Li-‐‑chun
Lin
-‐‑
Trong
diễn
từ
Nobel,
ông
trình
bày
rất
rõ
quan
điểm
của
mình
về
vai
trò
và
trách
nhiệm
của
nhà
văn.
Quan
điểm
này
rõ
ràng
đã
dẫn
đường
cho
những
nỗ
lực
sáng
tạo
của
ông
trong
các
lĩnh
vực
nghệ
thuật
khác
như
hội
họa
và
phim
ảnh.
Ông
có
thể
vui
lòng
nhắc
lại
một
lần
nữa?
-‐‑
Tôi
không
cho
rằng
văn
học
hoặc
các
sáng
tạo
nghệ
thuật
lại
cần
phải
dính
líu
đến
chính
trị.
Một
nghệ
sĩ
cần
phải
đứng
cao
hơn
những
ràng
buộc
chính
trị
và
sự
cám
dỗ
của
thị
trường
để
đạt
được
tự
do
và
độc
lập
trong
tư
tưởng.
Nhà
văn
không
phải
là
chiến
binh,
nhiệm
vụ
của
văn
học
không
phải
là
phê
phán
hay
cải
tạo
xã
hội.
Đồng
ý
là
mỗi
nhà
văn
đều
có
quan
điểm
chính
trị
riêng,
nhưng
quan
điểm
của
họ
không
nhất
thiết
phải
tuyên
bố
trong
tác
phẩm.
Tôi
tin
rằng,
các
nhà
văn
chỉ
cần
thành
thực
với
chính
mình
khi
viết
về
với
những
vấn
đề
cá
nhân
nhỏ
nhoi
và
mong
manh.
Mỗi
con
người
thường
phải
đối
diện
với
rất
nhiều
sức
ép
trong
xã
hội.
Họ
sẽ
bị
dìm
trong
đám
đông
hỗn
tạp
hoặc
sẽ
chế
ngự
được
sự
lấn
át
của
các
thế
lực.
Thật
là
một
thử
thách
dễ
khiến
người
ta
nản
chí
khi
phải
thể
hiện
lập
trường
của
mình
trong
những
hoàn
cảnh
như
vậy.
Mỗi
cá
nhân
khẳng
định
sự
tồn
tại
của
mình
qua
những
thử
thách
từ
môi
trường
sống.
Nhìn
từ
góc
độ
này,
có
thể
thấy,
văn
học
không
phải
là
vũ
khí
để
phê
phán
mà
là
tấm
vé
chứng
thực
sự
tồn
tại.
Mỗi
nhà
văn
là
một
chứng
nhân
cho
thời
đại
anh
ta
sống
và
văn
học
trở
thành
bằng
chứng
mạnh
mẽ,
sống
động
cho
sự
tồn
tại
của
loài
người.
Văn
học
thật
hơn
lịch
sử
-‐‑
thứ
được
viết
ra
dưới
ảnh
hưởng
của
quyền
lực
chính
trị.
-‐‑
Ông
từng
rất
tự
hào
khi
phải
rút
bộ
phim
"Silhouette,
sinon
l'ombre"
của
mình
khỏi
Liên
hoan
phim
Cannes
vì
Ban
giám
khảo
không
biết
xếp
nó
vào
hạng
mục
nào.
Tại
sao
họ
lại
gặp
phải
khó
khăn
khi
phân
loại
phim
của
ông
như
thế?
-‐‑
Tôi
rất
thích
làm
phim.
Cuối
cùng,
tôi
cũng
đã
làm
được
một
bộ
phim.
Nó
không
được
thị
trường
điện
ảnh
hiện
nay
chấp
nhận.
Nhưng
đó
chính
xác
là
loại
phim
mà
tôi
muốn
sản
xuất.
Nó
không
phải
là
phim
điện
ảnh
cũng
không
phải
phim
tài
liệu.
Bạn
có
thể
gọi
nó
là
một
bài
thơ
điện
ảnh
-‐‑
bài
thơ
được
viết
bằng
kỹ
thuật
làm
phim.
Phim
là
nghệ
thuật
sử
dụng
hình
ảnh
với
ngôn
ngữ
và
âm
thanh
đi
kèm
nhằm
giải
thích
hoặc
làm
nổi
bật
hình
ảnh.
Trong
phim
của
tôi,
tôi
xử
lý
hình
ảnh,
ngôn
ngữ
và
âm
thanh
như
3
thành
tố
riêng
biệt,
có
thể
tồn
tại
độc
lập
với
nhau.
Mỗi
thành
tố
có
lớp
từ
vựng
riêng.
Sự
tương
phản
và
so
sánh
được
xây
dựng
trên
quan
điểm
nền
tảng
đó,
như
vậy,
lối
trần
thuật
truyền
thống
hoàn
toàn
bị
phá
vỡ.
Các
nhà
tổ
chức
Liên
hoan
phim
Cannes
cho
rằng
nó
quá
mới/
lập
dị/
lạ.
Nhưng
tôi
không
nghĩ
thế.
Tôi
vẫn
tiếp
tục
cách
làm
này
trong
bộ
phim
sắp
tới.
Tôi
sẽ
còn
mở
rộng
và
phát
triển
hơn
hình
thức
này.
À,
bộ
phim
sẽ
được
công
chiếu
tại
Liên
hoan
nghệ
thuật
Singapore
2008
(22/5-‐‑22/6),
ở
đó,
người
ta
sẽ
nghĩ
ra
một
hạng
mục
thích
hợp
cho
nó.
-‐‑
Hiện
tại,
ông
dành
phần
lớn
thời
gian
của
mình
cho
hội
họa,
làm
phim
và
viết
kịch.
Ông
có
định
viết
thêm
tiểu
thuyết
nào
trong
tương
lai
gần?
Từ
sau
"
Linh
Sơn"
và
"Kinh
thánh
cho
một
người",
ông
chỉ
viết
được
một
số
truyện
ngắn
-‐‑
gần
đây
được
xuất
bản
bằng
tiếng
Anh
trong
tuyển
tập
"Buying
a
Fishing
rod
for
my
grandfather"
(Mua
một
cần
câu
cho
359
ông
tôi).
Nếu
viết
tiểu
thuyết,
ông
sẽ
viết
bằng
tiếng
Trung
hay
tiếng
Pháp?
Tôi
nhớ
Milan
Kundera
từng
nói,
dù
viết
tiểu
luận,
thậm
chí
là
cả
kịch
bằng
tiếng
Pháp,
nhưng
ông
chỉ
viết
được
tiểu
thuyết
bằng
tiếng
Czech.
Tất
nhiên,
chúng
ta
đều
biết
là
sau
đó
ông
đã
thay
đổi
quan
điểm
và
bắt
đầu
sáng
tác
tiểu
thuyết
bằng
tiếng
Pháp.
Phải
chăng,
so
với
các
thể
loại
khác,
tiểu
thuyết
có
những
đòi
hỏi
riêng
trong
việc
nó
được
sáng
tác
bằng
ngôn
ngữ
mẹ
đẻ
hay
bằng
ngoại
ngữ.
Ý
kiến
của
ông
thế
nào?
-‐‑
Tôi
đã
lên
kế
hoạch
viết
cuốn
tiểu
thuyết
mới
nhưng
rồi
đành
phải
bỏ
vì
lý
do
sức
khỏe.
Viết
tiểu
thuyết
rất
mất
sức,
một
phần
vì
tiếng
Pháp
không
phải
là
ngôn
ngữ
mẹ
đẻ
của
tôi.
Khi
làm
thơ
hay
viết
kịch,
tôi
có
thể
dành
nhiều
thời
gian
để
tìm
ra
một
từ
chính
xác,
vì
hai
thể
loại
này
có
dung
lượng
không
quá
dài.
Nhưng
viết
tiểu
thuyết
mà
cũng
làm
như
thế
thì
rất
mất
thời
gian.
Bên
cạnh
đó,
tôi
là
người
đặc
biệt
thận
trọng
khi
sử
dụng
từ
ngữ.
Tiểu
thuyết,
với
tôi
không
đơn
giản
chỉ
là
kể
một
câu
chuyện.
Tôi
không
còn
trẻ
nữa
và
tôi
cảm
thấy
việc
mất
thời
gian
chọn
từ,
lựa
chữ
chính
xác
để
viết
tiểu
thuyết
như
cách
tôi
đã
làm
với
kịch
hay
thơ
là
một
đòi
hỏi
quá
lớn.
-‐‑
Sau
buổi
đọc
vở
kịch
mới
nhất
của
ông
"Balade
Nocturne"
(viết
bằng
tiếng
Pháp)
tại
Đại
học
Notre
Dame,
ông
đã
được
hỏi
rằng:
có
sự
khác
biệt
nào
khi
ông
viết
vở
kịch
này
bằng
tiếng
Trung
và
tiếng
Pháp.
Ông
đã
trả
lời
như
thế
nào?
-‐‑
Balade
Nocturne
là
vở
kịch
thứ
năm
tôi
viết
bằng
tiếng
Pháp.
Tôi
thường
viết
thêm
một
bản
tiếng
Trung
sau
khi
có
bản
tiếng
Pháp
nhưng
tôi
không
có
thời
gian
giới
thiệu
nó
trong
chuyến
thăm
Đại
học
Notre
Dame.
Tiếng
Trung
và
tiếng
Pháp,
chắc
chắn
là
hai
ngôn
ngữ
hoàn
toàn
khác
nhau,
đòi
hỏi
quá
trình
tư
duy
khác
nhau.
Dịch
thuật,
đặc
biệt
dịch
văn
học
là
công
việc
vô
cùng
khó
khăn.
Quả
là
một
thách
thức
lớn
khi
dịch
một
tác
phẩm
từ
ngôn
ngữ
này
sang
ngôn
ngữ
khác
một
cách
chính
xác,
trung
thực
và
sáng
tạo.
Với
hai
phiên
bản
của
vở
kịch
này,
tôi
không
chỉ
làm
cái
việc
dịch
thuần
túy,
đặc
biệt
là
khi
tôi
không
tìm
thấy
trong
tiếng
Trung
những
cách
diễn
đạt
tương
đương.
Thay
vào
đó,
tôi
viết
lại
thành
một
vở
kịch
tiếng
Trung.
Vì
thế,
bản
tiếng
Trung
không
chỉ
là
là
một
bản
dịch
đơn
thuần.
-‐‑
Có
thể
đúng
có
thể
sai
nhưng
phần
lớn
người
Mỹ
-‐‑
những
người
biết
tác
phẩm
của
ông
-‐‑
vẫn
coi
ông
là
một
tiểu
thuyết
gia
Trung
Quốc,
chứ
không
phải
là
nhà
viết
kịch
Pháp.
Điều
chắc
chắn
đúng,
theo
tôi,
là
ông
sinh
ra
ở
Trung
Quốc,
lớn
lên
ở
Trung
Quốc,
viết
bằng
tiếng
Trung
Quốc,
nên
hẳn
nhiên,
ông
là
nhà
văn
Trung
Quốc.
Dường
như,
quốc
tịch
đóng
vai
trò
ngày
càng
quan
trọng
trong
thời
đại
toàn
cầu
hóa.
Ông
nghĩ
sao
về
vấn
đề
này
và
ông
thích
được
nhìn
nhận
như
thế
nào?
-‐‑
Quốc
tịch
chẳng
có
ý
nghĩa
gì
cả.
Với
nhà
văn,
tác
phẩm
là
thứ
quan
trọng
nhất
mà
độc
giả
quan
tâm.
Tôi
coi
mình
là
một
công
dân
thế
giới.
Từ
khi
rời
khỏi
Trung
Quốc,
tôi
vẫn
luôn
luôn
viết,
đầu
tiên
và
trên
hết
là
cho
bản
thân
mình.
Độc
giả
của
tôi
cũng
không
bị
giới
hạn
bởi
biên
giới
lãnh
thổ.
Tôi
hài
lòng
vì
nhận
được
phản
hồi
của
độc
giả
từ
nhiều
quốc
gia
khác
nhau.
Tôi
coi
đó
là
sự
chứng
thực
cho
thành
tựu
sáng
tạo
của
mình.
-‐‑
Ông
có
thường
đọc
tiểu
thuyết
của
các
nhà
văn
đương
đại
Trung
Quốc
không?
Ông
có
quan
tâm
tới
các
hoạt
động
văn
học
diễn
ra
tại
Trung
Quốc,
Hong
Kong,
Đài
Loan?
-‐‑
Tôi
không
đọc
bất
cứ
tác
phẩm
đương
đại
nào
của
Trung
Quốc
suốt
hàng
chục
năm
nay,
từ
khi
tôi
không
còn
mối
liên
hệ
nào
với
Trung
Quốc
đại
lục
-‐‑
nơi
tác
phẩm
của
tôi
vẫn
bị
cấm
xuất
bản.
Tôi
biết
nhiều
nhà
văn
nhà
thơ
Đài
Loan
hơn
và
có
kết
bạn
với
một
vài
trong
số
họ.
Nên
tôi
có
đọc
thơ
đương
đại
Đài
Loan.
Tôi
cũng
có
biết
một
số
người
làm
trong
lĩnh
vực
sân
khấu
ở
Hong
Kong.
Một
cách
chủ
quan,
tôi
cho
rằng,
thơ
ca
đương
đại
Đài
Loan
và
kịch
Hong
Kong
rất
đáng
được
chúng
ta
quan
tâm.
Tôi
cũng
không
thường
xuyên
đọc
các
tiểu
thuyết
mới
của
Pháp
vì
tôi
phải
dành
phần
lớn
thời
gian
cho
tác
phẩm
và
các
công
việc
khác
của
mình.
Tôi
không
có
nhiều
thời
gian
để
đọc.
Khi
đọc,
tôi
dành
nhiều
ưu
tiên
cho
loại
sách
nghiên
cứu
và
triết
học.
360
-‐‑
Hiện
tại,
ông
đang
làm
gì?
-‐‑
Tôi
đang
làm
một
tuyển
tập
tiểu
luận
về
tiểu
thuyết,
kịch
và
phim
của
mình.
Công
trình
này
phải
đến
cuối
năm
mới
xong.
Sylvia
Li-‐‑chun
Lin
thực
hiện
THANH
HUYỀN
dịch
(Nguồn:
World
Literatura
Today)
Cao
Hành
Kiện
nhận
giải
Nobel
năm
2000.
361
***
Tiểu
thuyết
LINH
SƠN
Tác
giả
CAO
HÀNH
KIỆN
*
*
*
Người
dịch
Trần
Đĩnh
Biên
tập
Lê
Thanh
Minh
Trình
bày,
bìa,
tạo
Ebook
matthoigian2001@
*
*
*
Copyright
©
Rạng
Đông
giữ
Bản
quyền
362
*
*
*
tiểu
thuyết
L
I
N
H
S
Ơ
N
Tác
giả
Cao
Hành
Kiện
*
*
*
Biên
tập,
Hiệu
đính
Lê
Thanh
Minh
Trình
bày,
bìa,
tạo
Ebook
matthoigian2001@
*
*
*
Copyright
©
Rạng
Đông
giữ
Bản
quyền
363