Sài Gòn Có Nói Gì Đâu
Đôi khi tôi vẫn tự hỏi, mối tơ duyên giữa tôi và Sài Gòn bắt đầu từ khi nào? Từ
cái Tết đầu tiên tôi theo ba mẹ vô Sài Gòn ăn Tết với gia đình bên nội, hay từ
thuở ba tôi còn là một thiếu niên thường xuyên trốn học đi xem phim ở rạp Văn
Cầm, Phú Nhuận. Hay xa xăm hơn nữa, từ năm 1941, khi chàng trai trẻ - là ông
nội tôi - lặn lội từ Quảng Bình vô Sài Gòn làm cậu chạy việc cho các bà phước ở
dòng tu kín sau Nhà Bưu điện Thành phố, ít lâu sau lại trở thành anh bồi của một
gia đình người Pháp trên đường Catinat với mức lương 40 đồng bạc Đông
Dương?
Dù thế nào, tôi với Sài Gòn hẳn đã có duyên, trước khi tôi về làm dâu một
gia đình miền Nam lâu đời.
Nhưng có một điều lạ lùng, đó là càng ngày tôi lại càng cảm thấy mình
không phải là “người Sài Gòn”.
Đó là một cảm giác hơi khó lý giải, bởi đối với tôi, khái niệm “người Sài
Gòn” không hề được đóng trong một cái khung nhỏ hẹp nào. Không cần bạn phải
sinh ra ở Sài Gòn, chỉ cần bạn cảm thấy mình là người Sài Gòn thì bạn chính là
người Sài Gòn. Thế thôi!
Vậy thì tại sao sau nhiều năm sống trong lòng thành phố mà tôi vẫn chưa
cảm thấy Sài Gòn thuộc về mình, và ngược lại?
Ảnh: Alex Lapuerta Mediavilla
Đó là vì càng tiếp xúc với những thế hệ tiếp nối từng sinh ra, lớn lên và
thậm chí chưa bao giờ bứt mình khỏi mảnh đất này trong suốt vài thế hệ thì tôi
lại càng nhận ra rằng cái chất Sài Gòn của người Sài Gòn không dễ nắm bắt như
những từ ngữ mà tôi thỉnh thoảng vẫn đọc đâu đó.
Có lẽ chính vì vậy mà nhiều năm qua tôi vẫn luôn tự hỏi: cuối cùng thì linh
hồn Sài Gòn nằm ở đâu? Vẻ đẹp của vùng đất này? Cái tinh thần cốt lõi của
người Sài Gòn nằm ở đâu? Ở lối sống đô thị phóng khoáng của những năm trước
1975 hay vẻ lịch lãm duyên dáng vẫn còn đọng lại trong những hồi tưởng về thời
thuộc địa? Hay chính là lối sống vội vã náo nhiệt và luôn biến đổi của thời hiện
tại?
Những câu hỏi đó, có thể nói là tôi đã tự trả lời được khi đọc xong bản thảo
của tập sách này. Không hẳn là một tập tản văn hay sách ảnh, càng không mang
tính nghiên cứu, nhưng Sài Gòn - Chuyện đời của phố lại chứa đựng rất nhiều
hình ảnh, cảm xúc, đồng thời đầy ắp những tư liệu mới lạ.
Bất kể sự e dè lẽ ra phải có khi nhận xét về tác phẩm của “người nhà”, tôi
phải thừa nhận đây là một cuốn sách về Sài Gòn có giá trị và đáng đọc.
Tác giả không phải là nhà văn mà là một nhà báo. Vì vậy độc giả sẽ gặp
phải đôi chút bất lợi, nhưng bù lại, được tận hưởng khá nhiều phần thưởng từ
điều đó.
Bạn sẽ không tìm thấy những câu viết ngọt ngào về một “Sài Gòn chợt mưa
chợt nắng” hay “những con đường có lá me bay”. Không có những quán cà phê
sang trọng và lãng mạn. Những cảm xúc không được bày ra trên câu chữ mà chỉ
lẩn khuất đâu đó giữa những câu chuyện kể.
Đúng vậy, cuốn sách này đầy ắp những câu chuyện kể.
Với sự tò mò cố hữu và kinh nghiệm 30 năm làm báo, tác giả đã ghi lại
được nhiều câu chuyện thú vị nhằm trả lời cho những câu hỏi mà chính bản thân
anh, cũng như không ít người sinh sống ở Sài Gòn nhiều năm từng thắc mắc:
người được đặt tên cho Ngã ba Ông Tạ là ai? Họa sĩ ký tên Duy Liêm trên những
bìa nhạc tờ được yêu thích trước đây đã sống và làm việc như thế nào? Lịch sử
một gia tộc đã và đang sống ở Sài Gòn suốt nhiều đời nay?... Câu trả lời được
ghi lại qua những cuộc gặp gỡ và trao đổi với các nhân chứng cụ thể chứ không
chỉ nhờ tra cứu sách báo. Chính điều đó tạo nên giá trị về mặt tư liệu cho cuốn
sách.
Và có thể, bạn sẽ nhận ra rằng người Sài Gòn không chỉ là những người đã
ra đi, hay trở về, mà còn là những người ở lại và chưa bao giờ rời xa.
Người Sài Gòn, không chỉ là giới thượng lưu thường xuất hiện quanh
những đoạn đường sang trọng khu quận Nhứt, mà còn là phần đông bình dân
sống trong những con hẻm nhỏ ở Đa Kao, Thị Nghè, Phú Nhuận hay Chợ Lớn...
Người Sài Gòn, không chỉ là các nghệ sĩ nổi danh thong dong tụ tập trong
quán cà phê thời thượng, bàn chuyện thi văn nhạc họa, hay những cô gái xinh
đẹp dạo phố trong tà áo lụa, mà còn là những con người không xuất hiện trước
đám đông, chỉ lặng lẽ âm thầm dâng tặng đời mình cho thành phố này qua mấy
thế kỷ thăng trầm.
Người Sài Gòn không cống hiến tài năng hay công sức của mình cho thành
phố như một lý tưởng. Họ cống hiến một cách tình cờ vì đã làm việc tất phải
làm đến nơi đến chốn.
Người Sài Gòn, họ không màng thổ lộ cho ai hay mình yêu sâu đậm ra sao
và nhớ da diết thành phố của mình như thế nào.
Người Sài Gòn, không để ý đến việc bạn viết “Sài Gòn” hay “Saigon”, cũng
không quan tâm bạn nói giọng miền nào, miễn hiểu nhau là được.
Người Sài Gòn không nhất thiết bắt bạn phải gọi đường phố theo tên mới
hay cũ, miễn sao tìm thấy nhà là được.
Bởi với họ, chẳng có gì phải cực đoan.
Với những người Sài Gòn mà tôi biết, nếu có điều gì cực đoan thì đó chính
là nghĩa khí. Đất Sài Gòn ưa chuộng những con người đàng hoàng và có nghĩa
khí. Có nghĩa khí là sống làm sao để những người mà mình xem trọng không coi
thường mình. Có nghĩa khí là dám nói dám làm. Dám làm dám chịu.
Càng hiểu sâu về một Sài Gòn không nằm trên bề mặt của những bảng tên
đường hay nhà hàng quán xá thì tôi càng thấy Sài Gòn giống một kim tự tháp,
nếu đứng từ xa bạn chỉ nhìn thấy cái chóp nhọn, phần cao nhất nhưng có diện
tích nhỏ nhất. Chỉ khi đến thật gần, thậm chí bước vào bên trong, bạn mới nhận
ra phần chân đế của nó rộng lớn chừng nào. Nếu chúng ta nhìn Sài Gòn và chỉ
thấy đỉnh cao lấp lánh ở ngay trước mắt, nghĩa là ta còn chưa đến đủ gần.
Giống như phần chìm của một tảng băng, chính cuộc sống lặng lẽ trong dân
gian lại chứa đựng cái chất Sài Gòn đậm đặc nhất. Bắt nguồn từ tấm linh hồn
của đất Gia Định thuở xa xưa, nó vẫn đang âm thầm chảy như một mạch nguồn
mạnh mẽ của đời sống Sài Gòn hôm nay, dù không dễ vẽ nên hình hài và cũng
không mấy ai nhận thấy.
Chắc chắn có một chút dáng dấp của “chất Sài Gòn” ấy trong cuốn sách này.
Sự phong phú của các chi tiết cũng như giọng kể có chút lan man đời thường đôi
khi khiến ta lạc lối. Không trau chuốt về câu chữ, nhưng bù lại, chất liệu thực tế
ngồn ngộn bên cạnh những tấm ảnh hay tranh minh họa cũ, mới được sưu tập
công phu, khiến cho việc đọc sách giống như bạn đang ngồi trong quán cà phê
đầu hẻm, vừa nhìn cuộc đời trôi qua vừa nghe một người già kể những câu
chuyện xưa nay, dắt dây nhau theo một cách khó ngờ. Trong đó, có người lạ và
có cả người quen, có chuyện hấp dẫn, có chuyện lê thê. Nhưng chắc là không hề
nhàm chán.
Ít nhất, nếu bạn cũng giống tôi.
Tôi không phải là người Sài Gòn. Dù giữa tôi và Sài Gòn có một mối tơ
duyên.
Tôi không hiểu hết Sài Gòn. Dù tôi đã sống với Sài Gòn rất nhiều năm
tháng. Chính vì lẽ đó mà tôi luôn muốn lắng nghe, lắng nghe, những câu chuyện
đời thường của phố. Kể cả khi tôi biết rằng, thực ra thì Sài Gòn có nói gì đâu,
chỉ có tôi - một người từ nơi khác đến - mới thường gán cho Sài Gòn những cái
nhãn “thế này” hay “thế nọ”.
Sài Gòn có nói gì đâu.
Vài thế kỷ đã trôi qua trên mảnh đất này, và Sài Gòn chỉ âm thầm sống.
Đặng Nguyễn Đông Vy
Lời Ngỏ
Khi sắp hoàn tất cuốn sách này, tôi đọc được một tập sách nhỏ nhan đề Những
xóm bình dân trong vùng Sài Gòn - Chợ Lớn xuất bản đúng 60 năm trước. Tác
giả cho biết Sài Gòn lúc đó chỉ có khoảng 1,6 triệu người, trong đó xấp xỉ 1 triệu
dân lao động sống dưới mức nghèo khổ. Phần lớn dân nghèo sống chen chúc
trong các xóm bình dân như khu Bàn Cờ, xóm Cầu Muối, xóm Vĩnh Hội, xóm
Lách, xóm Sở chữa lửa, xóm Chợ Đũi và xóm Đình Phú Thạnh… Họ sống rất
gần trung tâm thành phố hoa lệ nhưng vẫn ở trong căn nhà lá hay vách ván,
không có nhà vệ sinh riêng, hẻm ngõ thì bùn lầy nước đọng, điện câu nhờ, nước
câu nhờ hay xài nước giếng.
Tác giả tập sách xưa đã đặt câu hỏi cho 55 gia đình: Nếu hòa bình trở lại
trên đất nước, họ sẽ ở lại đất Sài Gòn hay quay về quê hương?
Trong hoàn cảnh đó, chỉ có 10 gia đình được khảo sát tỏ ý muốn ở lại, trong
khi 31 gia đình mong mỏi trở về nguyên quán. Số còn lại đang lưỡng lự chuyện
ở hay về.
Xóm nhỏ nơi tôi sống thuộc vùng Phú Nhuận, nằm trong khoảng đường từ
Đình Phú Nhuận đi tới chợ Lò Đúc mà cuốn sách có nhắc. Ba tôi, khắc khoải
giữa cuộc sống đô thị tất bật, đã luôn mơ đến ngày về quê cũ, nơi từng được gọi
là Nông Nại Đại phố trên sông Đồng Nai. Những tâm sự của ông bên chén rượu
Ngũ Gia Bì với mấy ông bạn gốc Bắc, gốc Quảng Ngãi trong xóm đều giống
nhau, mơ ước về cuộc sống êm đềm bên con sông quê hương mình.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, chúng tôi lớn lên, chứng kiến cuộc sống dần thay
đổi. Nhà cửa ai nấy đã khang trang hơn, điện nước đầy đủ, trẻ nhỏ được đi học
đàng hoàng. Suốt thời gian dài đăng đẵng đó, không có mấy người trở về quê cũ
trừ khi hoàn cảnh bức bách lắm.
Sài Gòn đã tìm cách giữ họ lại, những cư dân cũ. Hay họ đã tìm cách làm
cho cuộc sống quanh họ tốt dần lên. Qua bao biến động, có lúc đến nỗi phải bỏ
nước ra đi, nhiều người dân Sài Gòn có gốc gác tứ xứ khi từ nước ngoài quay về
Tổ quốc vẫn nghĩ mình là dân Sài Gòn, chứ ít khi nhắc đến gốc gác xa nữa. Dù
không là nguyên quán, Sài Gòn đã chính là quê hương của họ để quay về.
Tôi tin hầu hết con cháu của 45 gia đình trong cuộc khảo sát khi xưa, đã
từng lưỡng lự muốn ở lại hay rời Sài Gòn về quê, nếu sau 1975 không ra nước
ngoài sinh sống thì có lẽ vẫn đang sống trên mảnh đất đô thị này. Bởi vì không
dễ gì bỏ Sài Gòn ra đi nếu anh đã từng sống ở đây.
Ở Sài Gòn lâu năm, dễ thấy khi người ta vỗ ngực xưng tên, có thể tự hào
mình là “dân Cầu Muối”, “dân khu Mả Lạng”, “dân hẻm Cây Điệp”, “dân chơi
Cầu Ba Cẳng” hay “dân Xóm Mới”, “dân Thủ Thiêm”… Không mấy ai xưng
mình là “dân Sài Gòn” như một niềm tự hào, như một thứ giá trị. Người lục tỉnh
khi nói về Sài Gòn, cũng chỉ gọi là “thành phố”: đi thành phố, về thành phố…
Và ai đó lìa bỏ quê nhà để lên Sài Gòn sống, khi quay về cố hương có thể bị, hay
được gọi là dân “Sè ghềnh” rồi. Thực ra, cũng không có gì là quan trọng!
Nên có chút bất ngờ khi giá trị “người Sài Gòn” bây giờ càng lúc càng được
bàn luận và đề cao nhiều như vậy, chẳng khác gì các niềm tự hào khác, như
người Hà Nội, người Cố đô…
Sài Gòn, bây giờ là Thành phố Hồ Chí Minh, lâu nay và sau này vẫn sẽ là
một nơi tụ hội để sinh sống, làm việc, vui chơi, tìm kiếm cơ hội thành công và
trốn lánh những hệ lụy nặng nề của cuộc sống từ những nơi khác, để có thể làm
lại cuộc đời. Có những giá trị cũ của Sài Gòn đã mai một, nhưng những giá trị
mới vẫn đang hình thành và lớn dần. Cũng có những thứ kệch cỡm lố lăng cũ
mất đi, thay vào đó là những thứ tương tự về tính chất, chỉ khác cách biểu hiện.
Nhưng rất nhiều điều căn bản đã được giữ lại, ai cũng biết nên chẳng cần kể ra…
Khi xem những tấm ảnh cũ ghi lại hình ảnh người dân đi lại trên đường phố
Sài Gòn năm 1961, năm tôi sinh ra ở Phú Nhuận, tôi thấy lòng nao nao. Năm đó,
má tôi rời bỏ căn nhà êm ấm của tuổi thơ được dựng lên từ nhiều đời của dòng
họ Nguyễn ở vùng Khánh Hội, quận 4 để về Phú Nhuận sinh sống. Ba tôi xa quê
Cù lao Phố, hòa nhập từ lâu vào cuộc sống Sài Gòn trong công việc thư ký Hiệu
buôn Kim Phát ở chợ Bến Thành. Lúc đó, ông ngoại tôi, thư ký của văn phòng
Sở Hỏa xa Đông Dương trên Đại lộ De la Somme (đường Hàm Nghi bây giờ)
vừa mất không lâu.
Trong mấy tấm ảnh đó, người Sài Gòn hiện ra thanh lịch nhiều và lam lũ
cũng lắm. Số đông trên đường phố vẫn là người làm công ăn lương, buôn thúng
bán bưng, phu khuân vác, đạp xích lô và đánh giày. Tất cả phảng phất hình ảnh
những người thân của tôi đang kiếm sống mỗi ngày.
Người thanh kẻ lịch được chụp ảnh trên đường phố trung tâm, đại diện cho
một tầng lớp nhỏ trung lưu trở lên. Họ góp phần giữ tính cách của người Sài
Gòn trong kinh doanh buôn bán và gìn giữ nếp sống lịch lãm nhưng không quá
xa hoa, biết hưởng thụ nhưng có óc thực tế, vừa phải. Nhưng giới cần lao, đông
đảo hơn mới chính là những người giữ lại các giá trị quan trọng như “kiến nghĩa
bất vi vô dõng giả”, “trọng nghĩa khinh tài”, ghét thói “coi đồng tiền to như bánh
xe bò” hay “làm ăn chụp giựt không có trước sau”… Họ lặng lẽ sống trong các
xóm nhỏ, ban ngày ra đường kiếm sống, tối nằm nghe cải lương hay tin chiến
sự. Họ sống giản đơn, sẵn sàng giúp nhau, đùm bọc nhau khi người cùng xóm
gặp chuyện bất trắc. Họ là lực lượng chính khi muốn thay đổi cuộc sống bất
công… Họ vô danh, nhưng sẵn sàng thể hiện sự chính trực của mình khi có
chuyện trên đường, thể hiện quan điểm của mình trong một tiệm nước hay tiệm
hớt tóc…
Vì những điều được trải nghiệm trong suốt mấy chục năm sống trên mảnh
đất chôn nhau này, tôi luôn thấy tò mò về Sài Gòn, thành phố gắn bó cả đời
mình. Những vẻ đẹp của một bức tranh từng mê mải ngắm nhìn, giai điệu âm
thanh từng nghe thấy, một ngôi nhà đẹp vẫn thường qua lại, một địa danh hay tên
người gợi nhiều điều gần gũi, thúc giục tôi tìm hiểu như một hành trình tìm lại
những cảm xúc hồi mới lớn, và thành những câu chuyện kể.
Những người già trên bảy mươi hay tám mươi tuổi, đang sống ở Sài Gòn
hay đã xa xứ từ lâu, kể cho tôi nghe những câu chuyện xưa lắc mà với họ như
vừa mới đây. Chỉ là những câu chuyện cũ, không hề thể hiện chút gì tự hào quá
mức, nhưng trong đó có hào khí, tích tụ từ cuộc sống dám làm dám chịu, lạc
quan yêu đời, biết làm ăn giỏi giang và từng vượt qua thất bại để tồn tại.
Tất cả những điều đó làm nên cuốn sách này, kết nối qua những bài viết từ
những góc nhìn riêng hạn hẹp, với mong muốn nhỏ là cùng với bạn đọc lưu giữ
thêm một chút ký ức về Sài Gòn, thành phố thân thương này, những ký ức mà
khi viết ra được, chỉ mong sẽ không bị chìm lấp như bao vẻ đẹp đã mai một dần
ở thành phố này.
Phạm Công Luận
Phú Nhuận, 2013
Trong quá trình thực hiện cuốn sách nhỏ này, chúng tôi đã nhận được rất
nhiều sự hỗ trợ về tư liệu, hình ảnh từ nhiều nguồn trong nước và hải ngoại. Xin
trân trọng cảm ơn các quý vị, thân hữu đã dành thời gian để tiếp chuyện, trả lời
thư, đọc và góp ý bản thảo:
Nhà nghiên cứu Lý Lược Tam, tức Lý Tân Thới (Chợ Mới, An Giang)
Nhà nhiếp ảnh Đinh Tiến Mậu (Quận 3, TP.HCM)
Họa sĩ Nguyễn Văn Tuyền (Thủ Dầu Một, Bình Dương)
Họa sĩ Phạm Cung (Phú Nhuận, TP.HCM)
Ông Trần Duy Sĩ (Hoa Kỳ) và gia đình họa sĩ Duy Liêm.
Họa sĩ Phi Mai (Hoa Kỳ)
Gia đình họ Nguyễn ở Ngã tư Bình Hòa (Bình Thạnh, TP.HCM): Bà
Nguyễn Thị Gấm, ông Nguyễn Văn Luận, em Nguyễn Ánh Ngọc. Đặc biệt
cảm ơn ông Nguyễn Hữu Danh (Hoa Kỳ).
Gia đình cụ Nguyễn Khánh Đàm, đặc biệt là anh Nguyễn Lương Dân (Hà
Nội)
Anh Phan Anh Tấn (Hội An, Quảng Nam)
Tác giả
Nét thanh lịch của thiếu nữ Việt trong mẫu quảng cáo nữ trang của cửa
hàng Harmacie Centrale số 153 đường Catinat (nay là Đồng Khởi), đăng trên
tập san Xuân Việt Nam - Quý Tỵ - do Thư xã Đẹp Sài Gòn và Nùng Sơn thư xã
Hà Nội xuất bản năm 1953.
Con Đường Ký Ức
Đường Lê Công Kiều nằm trên một góc khuất ở quận 1 và có thể tin rằng nhiều
người sinh ra ở Sài Gòn vẫn chưa từng đến, dù nó rất gần chợ Bến Thành. Con
đường nhỏ, lề hẹp, êm đềm vì không có mấy xe cộ. Đi trên đường Lê Công Kiều,
dễ hoài nhớ con phố Tô Tịch ở Hà Nội, yên tĩnh và lặng lẽ dù sát bên phố Hàng
Bông sầm uất.
Những người sống ở con phố này vẫn nhớ ngày một vị Tổng thống tóc vàng
đến từ đất nước hùng mạnh nhất thế giới đi dọc con phố để xem chợ đồ cổ bày
dọc vỉa hè và trong các tiệm nhỏ. Tấm ảnh chụp ông Clinton trên phố vẫn còn
gài phía trong tủ kính của dì Tám tóc bạc bày trên vỉa hè gần đường Nguyễn
Thái Bình, sát bên mấy cái chung trà Arita, Noritake còn lại từ thập niên 1970,
vốn dành cho sĩ quan Mỹ mua về làm quà sau khi mãn nhiệm. Chuyến đi dạo
ngắn ngủi của ông đã góp phần tạo nên thương hiệu cho con phố nhỏ này.
Dù nhiều bài báo cho rằng có tới tám mươi phần trăm số tiệm ở phố Lê
Công Kiều bán những món gốm sứ hay tranh pháo giả cổ, giới sưu tầm cổ vật và
yêu thích mỹ thuật vẫn xem đây là thiên đường của mình, bất kể việc họ từng
nếm trải cảm giác “khi vò chín khúc, khi chau đôi mày” trước một món cổ vật
thứ thiệt nhưng quá đắt tiền, hay một món gieo đầy hoang mang nhưng đã lỡ
tiền trao cháo múc.
Cổ vật luôn thu hút, nhưng những món phỏng cổ, giả cổ cũng có sức hấp
dẫn vì đa dạng và được chế tác tinh xảo. Có thể thấy dấu ấn văn hóa khắp thế
giới trên đồ bày bán ở đây. Đồ cổ Trung Hoa luôn ngự trị như một ông vua
không ngai - nhiều nhất vẫn là dòng đồ non đầu thế kỷ 20 thời mạt Thanh - đặc
biệt là sứ xanh trắng vì vẻ đẹp trong trẻo nhưng thu hút, lộng lẫy nhưng chân
phương. Thỉnh thoảng, có thể bắt gặp gốm, sứ phương Tây lạ mắt, tuyệt đẹp như
đồ Wedgwood xanh lam nhạt với những chi tiết chạm khắc tinh tế hay gốm Nhật
Bản Imari, Satsuma đầy màu sắc.
Đồ gỗ xưa ở đây không bày ngồn ngộn như khu bán đồ gỗ trên đường
Pasteur đối diện café Terrace, nhưng lại có những món tinh túy nhất, được cẩn
ốc xà cừ đẹp nhất, thường chỉ đặt trong một góc kín khuất dành cho khách quen
xem. Tủ Huế được giao dịch riêng, vừa chạm lộng vừa cẩn xà cừ, có khi cẩn ngà,
giá lên nhiều trăm triệu một cái tủ chia ô. Bộ bàn ghế Louis đầu thế kỷ 20 với
những chi tiết chạm khắc đậm chất Nam bộ với trái điều, khổ qua, mít hay sầu
riêng… lưu lạc từ những ngôi nhà xưa cùng niên đại với Huỳnh Phủ ở Bến Tre
hay nhà cổ Bình Thủy, bàn bạc nhanh chóng qua điện thoại và xem hàng tại nhà.
Một thế giới xưa cũ ngồn ngộn phơi bày, bàn toán Chợ Lớn và đèn măng-
xông Đức, dọc tẩu hút thuốc phiện và máy hát dĩa than đá. Nó kích thích những
người hoài cổ từng chìm đắm trong những trang sách về văn hóa hay đã từng
biết về một quá khứ huy hoàng của cha ông.
Dăm ông về hưu xách tiền bán đất mua liền một loạt đồ sứ ký kiểu từ triều
đình Huế đặt bên Tàu thế kỷ 18, 19 và có khi là “tân ký kiểu”, miệng lẩm nhẩm
như đang ngà ngà say, đọc dăm câu thơ “Mó rận luận chơi thời sự, ngả lừa
mừng thuở thái bình” hay bài Tam Thai Thính Triều, Phong Kiều Dạ Bạc… và
mơ màng chuyện tham gia triển lãm với danh hiệu “Nhà sưu tầm cổ vật”. Vài
người săn lùng tranh Thành Lễ trước 1975, và rước về được bức sơn mài rất đẹp
“dội khẩu” từ năm Mỹ đánh Irac, có chữ ký Thành Lễ còn tươi mới.
Đường Lê Công Kiều “xuất khẩu” niềm vui, sự hiếu kỳ, nỗi đam mê và vẻ
đẹp ngất ngây. Ở đó có đủ “người tốt, kẻ xấu và tên vô lại” như trong một bộ
phim cao bồi. Và nhân vật thứ ba thì luôn luôn có nhiều ở đây, ngồi đâu đó nơi
quán cà phê cóc phía cột đèn góc Lê Công Kiều - Nguyễn Thái Bình hay cà phê
Bảo tàng Mỹ thuật bên đường Phó Đức Chính, luôn quan sát những người nho
nhã mới lân la ra phố. Họ sẽ dẫn dắt, nhận mua giúp và bày vẽ một số dấu hiệu
nhận dạng đồ cổ ở cấp thấp nhất cho đến khi con mồi mắc bẫy ở những món đồ
khủng mới sản xuất, nhưng được phủ một lớp thời gian giả mạo “tưởng như
trăm năm” bằng các kỹ thuật độc đáo.
Tuy nhiên cũng đừng nên bi quan. Bà Sáu H. - một người bán vỉa hè, cánh
cửa nhập môn cho người mới chơi - sẵn sàng trao đổi dăm ba câu dù có chua
chát nhưng có thể giúp người mới đến tỉnh táo lại. Và hai mươi phần trăm chủ
tiệm còn lại - đa số thích trông mặt bắt hình dong khách mới ra “Kiều” (một
cách gọi con phố này) để không mất thời giờ với những người vô bổ và ít tiền -
luôn thẳng thắn “phán” về giá trị món đồ một cách rạch ròi. Mặc dù không dễ
nhận ra họ khi bạn ra phố với tâm trạng đầy hoang mang và nghi ngờ, nhưng tin
tôi đi, khi đã kết thân với một người chủ tiệm nằm trong số này, cuộc sống của
bạn sẽ thú vị hơn rất nhiều khi có dịp vừa uống ly cà phê nóng buổi sáng cuối
năm vừa nhẩn nha nói về vẻ đẹp của một bộ ấm chén ký kiểu hay cái dĩa
Celadon Nguyên với màu xanh ngọc hút hồn.
Đã lâu rồi, đường Lê Công Kiều thưa vắng những phụ nữ tay đeo túi xách
đựng dăm món đồ lam Huế mua từ đất Bình Định, được cho là từ quân Tây Sơn
đưa về sau khi ra Thăng Long cùng Vua Quang Trung. Họ mang đến đây nhiều
ấm trà tuyệt đẹp tuy có chút sứt mẻ ở đầu vòi, miệng ấm nhưng giá rất khủng.
Từ đây hình thành một lớp người săn lùng ngồi uống cà phê đầu đường Nguyễn
Thái Bình từ sớm để canh mua những món đồ đẹp, trước khi người bán chào
mời các chủ tiệm mạnh vốn. Có lúc nổi lên ở phố Lê Công Kiều cơn sốt mua cổ
vật vớt từ các con tàu chìm vài trăm năm trước, đồ Khang Hy ở Vũng Tàu, đồ
Minh phố ở biển Bình Thuận, sứ Ung Chính nhà Thanh ở vùng biển Cà Mau, đồ
Chu Đậu thời Trần ở cù lao Chàm. Đây là dòng gốm sứ mậu dịch nên số lượng
nhiều, được các mối lái từ miền Trung, miền Tây mang ra bán. Trừ những món
đồ độc có số lượng ít, đa phần đồ biển có giá vừa phải nên giới chơi cổ vật gom
được khá nhiều món có tuổi, như tách và ấm trà Ung Chính, dĩa Chu Đậu hình
chim hoa hoặc dĩa lớn Minh phố…
Ảnh: Nguyễn Đình
Đó là thời gian vui vẻ đầu những năm 2000, người chơi có đồ đẹp để mua
hằng tuần, không sợ gặp phải đồ giả. Dần dần đồ cạn kiệt do cuộc thu gom của
các đại gia và nhà nước tăng cường chống thất thoát. Thị trường Lê Công Kiều
im ắng và uể oải với đồ sứt mẻ, non tuổi.
Cơn sốt gần đây nhất là đồ Biên Hòa với chủ lực là dòng đồ Trường Mỹ
nghệ Biên Hòa trước thập niên 60 với những món lên tới ngàn đô, thu hút cả
giới chơi cổ vật từ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Đây là một xu hướng mới
nhưng dễ hiểu khi dòng đồ cổ Tàu cạn kiệt vì được người Trung Quốc qua thu
gom, hoặc đã vào nhà người chơi nhưng mấy ai bán ra, và giới chủ tiệm đã phải
sang Thái Lan, Campuchia mua về bán lại cho dân sưu tầm Việt. Đồ Biên Hòa
thuần Việt lên ngôi là điều đáng mừng, nhưng vẫn là một xu hướng chơi mới cần
có thời gian chiêm nghiệm.
Tôi đi ngang qua phố Lê Công Kiều từ những năm 80 để sửa máy ảnh ở
tiệm Phạm Thê rất nổi tiếng ở đây. Lúc đó đồ cổ không bán rầm rộ. Những năm
cuối 1990, đầu 2000 có thể nói là thời hoàng kim của chợ đồ cổ Lê Công Kiều
khi kinh tế khấm khá, khách du lịch đến nhiều và các cuộc triển lãm cổ vật ở bảo
tàng đã kích thích người ta tìm về cổ vật như một thú chơi cao cấp.
Bây giờ đường Lê Công Kiều im ắng hơn, và ngồi trong quán cà phê ngó ra
đường phố, tôi mới nhìn sâu con phố nhỏ này. Dãy phố vẫn còn một ít nhà xây
kiểu Tây từ thời còn mang tên đường Reims trước 1945. Đâu rồi nhà in Thạnh
Thị Mậu, nơi học nghề của danh ca Sáu Thoòng “chuyên trị” vọng cổ một thời?
Và đâu là tòa soạn báo Đại Việt tập chí (tập, không phải tạp) ở nhà số 5 của cụ
Hồ Biểu Chánh những năm 1940, nơi cụ làm việc hàng ngày và có lần hứng chí
mời anh em tòa soạn đi ăn ở đường Pellerin (Pasteur) gần đó. Thấp thoáng hình
bóng cụ Phan Khôi lúc làm báo ở Sài Gòn xưa, năm 1924, tay cắp cặp, lơn tơn
ghé vô nhà người quen rủ đi uống trà Bạch Mao hay Kỳ Chưởng.
Con phố bán đồ cổ này không hề được nhắc trong mấy quyển sách viết về
thú chơi đồ cổ của cụ Vương Hồng Sển, nhưng có thể đây là con đường mà tên
cụ được nhắc đến nhiều nhất từ những đồ đệ tự nguyện của cụ.
Lê Công Kiều, một con phố độc đáo và có khi là độc nhất ở Việt Nam, luôn
bị nghi ngờ, có khi dè bỉu, nhưng vẫn luôn hấp dẫn như một huyền thoại, không
ngừng làm gạch nối từ quá khứ đến hiện tại trong mắt khách vãng lai. Dù sao, nó
vẫn là một trong những con phố đậm chất Sài Gòn nhất để nhớ về, cho những ai
từng biết nó, khi đã xa Sài Gòn.
Cụ Vương Hồng Sển tiếp khách phương Tây đến thăm Cụ và bộ sưu tập.
Ảnh chụp lại tại nhà Cụ Sển trên đường Nguyễn Thiện Thuật, Bình Thạnh.
Hồn Đô Thị
Trong muôn vạn bàn chân chen phố thị
Ai thừa giờ nhớ một kẻ đi xa...
(Nguyễn Nam Trân)
Năm cùng tháng tận, chỉ còn dăm ngày nữa là Tết, người Sài Gòn thấy chộn
rộn trong lòng một nỗi man mác khi nghe có gió chướng se lạnh thổi về. Xe bán
dĩa nhạc có gắn loa đẩy vào các hẻm, nỉ non những bài hát xưa cũ lại khơi dậy
cảm xúc mới, tưởng chừng như chìm sâu từ lâu trong cuộc sống lầm lụi.
Sài Gòn thay đổi nhanh đến nỗi không kịp giữ lại những sắc màu làm nên
chính nó. Đã phảng phất hình ảnh một góc Singapore ở Phú Mỹ Hưng, một góc
Paris ở đâu đó quận Nhứt hay một khu phố thương mại sáng choang không kém
Âu Mỹ.
Giới trẻ nao nức về chúng, nhưng khi ra nước ngoài, ngụp lặn trong các khu
thương mại lớn, ngoái lại nhìn thành phố của mình, họ tìm thấy được điều gì ở
Sài Gòn để mà nhớ nhung?
Tết sắp đến, sao tôi luôn nghĩ đến những người già. Nhớ ông Sơn Nam khi
còn sống. Ông nhắc đến một câu chuyện khi mới về Sài Gòn kiếm sống sau
1954. Trong những ngày ông chưa có việc làm, vợ ông lên tìm và bảo:
“Con bé ở nhà tội nghiệp, tôi dắt nó đi chợ. Đi ngang một cái tiệm có bán
radio, nó đưa tui mấy đồng xu nói: Má ơi, con có tiền để dành, má mua cho con
một miếng radio để Tết nghe cải lương”.
Người cha tha hương thấy lòng se thắt trong cảnh ăn đong kiếm tiền gửi về
cho vợ con ở quê nhà.
Sài Gòn xưa cũ với vẻ hào nhoáng chỉ nằm trong ký ức của tầng lớp trung
và thượng lưu. Những người nghèo chăm chỉ kiếm sống lang thang trên hè phố,
ăn cơm rabiot (lâm vố) tức cơm thừa của lính Pháp được xào lại. Và họ cày cục
kiếm tiền mướt mồ hôi sôi nước mắt.
Những ngày giáp Tết thời tuổi nhỏ, theo ba đi lấy hàng ở Chợ Lớn, tôi
thường thấy thấp thoáng những người đi bán dạo đồ “lạp vị”. Đó là món ăn mùa
đông bên Tàu nhưng mấy chục, mấy trăm năm qua sống ở xứ nhiệt đới, người
Hoa vẫn thèm nhớ hương vị quê hương. Ông chệt già, cao lòng khòng kiểu vóc
người Quảng Đông bán hàng xâu vịt lạp, lạp xưởng gan, hay ba rọi phơi khô.
Ông bán cả cải bẹ trắng phơi khô dùng để nấu canh. Một tay ông xách giỏ mây
đựng đồ bán, tay kia ông cầm đùi vịt giơ cao. Vịt lạp có khi là nguyên con vịt
ướp phơi khô, mở banh ra rất hấp dẫn. Có khi chỉ toàn đùi vịt ướp mật ong phơi
khô, giá cao hơn nguyên con vịt. Lạp xưởng gan màu đen, nhẩn nhẩn khó ăn
nhưng béo, là miếng gan heo nhét miếng mỡ, phơi khô hay miếng gan nhét bên
trong khúc ruột già. Loại này về ăn ngay, để lâu sẽ hôi dầu. Loại đồ ăn bán dạo
này dành cho giới bình dân, như nhà tôi, chứ không mấy khi ba tôi bỏ tiền mua
đồ lạp vị ở mấy tiệm nổi tiếng hơn như tiệm Xảo Ích ở góc Nguyễn Trãi hay ở
khu Đèn Năm ngọn, Soái Kình Lâm.
Đi ngang qua khu Đề Thám, khu ngã tư quốc tế đầy khách du lịch Tây ba lô
mà xưa kia dày đặc Tòa soạn báo tư nhân, tôi còn nhớ bà bán hột vịt lộn to lớn
vẫn vung tay qua lại khu vực này. Bà này có chiều cao đáng nể, to lừng lững như
một ông Tây với kích thước một mét chín, đã vậy trên đầu còn đội một cái thúng
cao nghệu đựng hột vịt lộn và bì cuốn đã làm sẵn. Hai tay bà vung vẩy theo nhịp
đi, miệng rao mà ai cũng cam đoan nghe đúng là “Ai… vật lộn không!!!”. Bà đi
trước ông bán bánh tráng kẹo với giọng rao khàn khàn “Ai… chén kiểu
không!!!”. Còn buổi chiều, một ông đẩy cái xe bán Chí mà phũ (Chi ma: mè.
Phũ: nát) hay Lục tàu xá (đậu xanh nấu bột báng). Họ nấu bằng đường tán, ngọt
thơm và không trộn bột vào chè như bây giờ.
Nhưng đáng nhớ là những thiếu phụ người Tàu Thường Phước. Má tôi, dì
tôi khi còn trẻ có se lông mặt chỗ họ trong những dịp nghỉ ngơi sau buổi chợ.
Một bác sống ở Sài Gòn thuở đó kể rằng ở Trung Quốc có một huyện gọi là
Thường Phước, thuộc tỉnh Quảng Đông có nhiều phụ nữ không chồng. Từ đầu
thế kỷ 20, sau các biến động bên đó, họ tràn qua Sài Gòn sinh sống. Nghề chính
của cộng đồng nhỏ này là đi làm thuê giúp việc nhà và giữ con nít cho giới nhà
giàu, nhiều nhất là nhà mấy ông Tây... Họ là những người giúp việc chuyên
nghiệp, sạch sẽ và trung thực, luôn mặc một kiểu trang phục giống nhau là áo
xẩm dài gần đầu gối. Chỉ có những người giàu có ở Sài Gòn trước 1954 mới có
thể mướn họ, ngoài dân Tây là số viên chức Việt làm cho Tây hay giới thương
gia.
Về già, các bà Thường Phước không đi làm thuê nữa mà sắm một cái rương
nhiều ngăn bằng thiếc có mặt kiếng thủy tinh để đi bán dạo. Đây là gánh hàng
xén mà họ gọi là “Hàng phá quải xí” (Hàng hóa quải thị - hàng hóa gánh ra
chợ). Họ chỉ lang thang đi bán vào buổi sáng, chiều nghỉ. Bên trong những ngăn
tủ của họ là kem đánh răng, gương lược, kim, chỉ, vòng đá cẩm thạch… Khi đi
bán, họ bận áo vải đen dài.
Do cùng hoàn cảnh tha hương, cùng số phận phụ nữ không chồng lạc loài
kiếm ăn xứ người, họ gắn bó thương yêu nhau như ruột thịt. Họ hùn nhau mua
một dãy phố trên lầu gần ngã tư Nguyễn Tri Phương – Trần Phú (Nguyễn Hoàng
cũ), gần khu tẩm liệm Nhà thương Quảng Đông (nay là bệnh viện Nguyễn Tri
Phương) và ở chung với nhau. Phía mặt tiền nhà, họ cho đúc hai chữ “Phát chân”
như muốn thể hiện phương châm sống và làm việc cả đời của họ…
Ngoài nghề chính là bán tạp hóa lúc tuổi xế chiều, các bà Thường Phước
còn nghề phụ là se lông mặt cho những phụ nữ thích làm đẹp quanh khu vực
giáp quận Nhứt và quận 5. Khi hành nghề, họ có một cục phấn dùng thoa lên mặt
khách hàng cho nổi lông mặt, dùng sợi chỉ kéo căng ra và rà trên da mặt. Sợi chỉ
khi kéo căng hay chùng sẽ tự xoắn lại và cuốn đi lông tơ trên mặt khách. Cứ thế,
họ sống quanh quẩn trên đường phố giữa hai quận phồn thịnh nhất Sài Gòn cũ,
cho đến lúc già yếu, qua đời trong sự chăm sóc của những người đàn bà Tàu
đồng hương, không mơ gì có lần về lại cố quốc.
Có những buổi trưa, đi qua phố là một ông đi chiếc xe đạp sừng trâu, mang
theo một ống sáo thổi te te, loại ống sáo thẳng chứ không phải ống sáo ngang. Ai
cũng biết đó là ông chuyên thiến heo. Một ông khác chưa thấy mặt đã nghe tiếng
trống lắc tùng tùng của ông. Lão nhân này luôn mặc đồ đen, vai gánh một cái
thùng vuông bằng gỗ. Đây là ông thợ nhuộm. Khi có khách, ông nấu thuốc
nhuộm trong cái thùng có vỏ ngoài bằng gỗ bọc một thùng thiếc bên trong. Ông
có hai cái cây bằng gỗ để trộn quần áo, xong dùng hai cây đó vớt ra để vắt đồ sau
đó bỏ ra thau để xả. Nước nhuộm từ thảo mộc, luôn có mùi dễ chịu, không gắt
nồng và sặc mùi hóa chất độc hại như bây giờ.
Khi đến thăm bảo tàng tượng sáp ở Singapore tái tạo hình ảnh cuộc sống
của người lao động thuở đảo quốc giàu có này đang tìm đường phát triển, tôi xúc
động như thấy lại chính những người tha hương kiếm sống trên đường phố hay
sông rạch Sài Gòn. Với thúng mủng quang gánh, nét mặt chân chất và cam chịu,
họ lưu thông hàng hóa đi các nơi, nhận phần lợi về mình rất ít. Họ đông đảo
nhưng âm thầm, đan dệt, tạo nên từng ngày cuộc sống thịnh vượng của đô thị.
Tất cả như các nhân vật của đèn kéo quân, đi diễu hành trên sân khấu cuộc
đời rồi biến mất ở góc khuất của chiếc đèn. Và khi họ quay lại, chỉ trên một
mảnh ký ức hiếm hoi của ai đó.
Khách thương hồ mang hàng hóa về Sài Gòn. Đến lúc nào đó, họ lên bờ và
ở lại, thành công dân trên mảnh đất này, như một điều tự nhiên. Ảnh: Nguyễn
Đình
Nhà Cổ Ven Đường
Đó là một căn biệt thự xưa rất đẹp nằm trên đường Nơ Trang Long, gần
giáp đường Trần Quý Cáp, quận Bình Thạnh. Từ ngoài nhìn vô, nhà xây theo
kiến trúc Tây phương kiểu thuộc địa với hành lang quanh nhà, nền cao, sảnh đón
khách phía trước là nơi giao nhau của hai bậc thang uốn cong đi vào từ hai bên
nhà. Vách tường nhà loang lổ qua thời gian, lấp ló những ô gạch men trang trí
hình kỷ hà. Một hàng rào cây dày đặc che bớt những đôi mắt tò mò nhìn vào
nhà. Thỉnh thoảng, có dáng một ông cụ bận đồ bà ba màu nâu đi chầm chậm qua
lại bên trong, có khi mở cánh cửa gỗ nhìn ra ngoài rồi đóng lại.
Dì Út của tôi, nay đã hơn bảy mươi tuổi, nhớ lại những năm cuối thập niên
1950, vẫn có vài người đàn ông xách súng đến rủ cha chồng của dì đi săn bắn
trên rừng Lộc Ninh, Hớn Quản. Họ là những người con của ông Lê Minh Tri,
chủ nhân căn nhà đó từ gần trăm năm trước. Con cháu cất nhiều căn nhà gần
nhau sống trên khu đất dài cả ngàn mét của ông Tri, kéo từ ngã ba Trung Thành
(Nơ Trang Long - Trần Quý Cáp) cho đến tận cầu Băng Ky.
Lúc đó, nhà của ông Lê Minh Tri, được xây cao trên nền đất đắp từ hàng
ngàn xe bò chở đất, là căn nhà tráng lệ, đẹp đẽ nhất ở khu vực Ngã Năm Bình
Hòa. Gia đình này được truyền tụng là giàu có nhất vùng, nhà xây kiểu phương
Tây từ đầu thế kỷ 20 trong khi các nhà khá giả khác gần đó như nhà ông Bang
biện Nguyễn Văn Chỏi vẫn làm nhà gỗ ba gian.
Giữa sáng mùa hè năm 2013, ông Lê Thành Công, tức Sáu Nhỏ, hiện là chủ
nhân ngôi nhà, tiếp tôi ở phòng khách nhìn ra khoảnh vườn nhỏ tiếp giáp mặt
đường Nơ Trang Long.
Ông Sáu sinh năm 1931, tức 82 tuổi nhưng vẫn được hưởng phước là sống
với mẹ ruột cho đến khi bà mất vài năm trước đây, thọ tới 103 tuổi. Ông nói:
“Nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá . Đó là nghề mang lại sự khá giả, nhưng
không kéo được lâu vì rất nghiệt. Ông nội và cha tôi làm nghề khai thác lâm sản,
có lúc hưng thịnh nhưng cũng có khi lao đao vì tranh chấp với những người có
chức quyền thời Pháp thuộc và chế độ cũ đến nỗi suýt phải tù tội. Đến đời tôi thì
không theo nghề đó nữa, có lẽ nhờ vậy mà còn giữ được căn nhà. Những đồng
nghiệp của ông, cha tôi hầu như đều khánh tận, sạt nghiệp”.
Ông Sáu còn nhớ lúc lên bảy tám tuổi, tuy là con nhà có của nhưng vẫn phải
ăn mặc giản dị với quần ngắn, áo bà ba trắng đi học ở trường Tổng. Mỗi ngày,
ông ra trước nhà đứng đợi xe bò, xe ngựa đi qua và xin quá giang đến trường.
Gần đó là một cái hồ tắm và vui chơi của lính Pháp, xây hàng rào kín mít và
không cho người Việt bén mảng tới. Có lần mẹ của ông phát hiện có cướp vào
nhà, bà sợ hãi nên la thật to và lính Tây đang giải trí ở hồ bơi vác súng chạy đến
khiến cướp sợ chạy mất. Ban ngày, chung quanh mát mẻ với cây cối xanh um,
gần đó còn có vườn cao su và cái nghĩa địa lớn được đồn đại là rất nhiều ma.
Tuổi thơ của ông đầy ắp chuyện ma, từ chuyện kể của anh cắt cỏ cho gia đình,
rằng vẫn nghe tiếng hú từ khu mồ mả của người Tàu sau nhà, cho đến câu
chuyện rất nhiều người tin là thỉnh thoảng có một cô đúng giờ Ngọ lại xuất hiện,
ngoắc xe ngựa đi, luôn im lặng cúi đầu suốt chuyến đi, tóc xõa dài che mặt và trả
bằng tiền vàng mã khiến mấy người xà ích không ai dám hỏi câu nào.
Lớn lên, ông Sáu chứng kiến bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc từ căn nhà
này, có lúc ông và cả gia đình phải rời xa nó. Do là căn nhà lớn và kiên cố trên
con đường đi từ Bà Chiểu, thủ phủ Gia Định tới khu Đồng Ông Cộ, hết lính Nhật
rồi tới lính Pháp mấy phen chiếm giữ ngôi nhà này để đóng quân kiểm soát một
cửa ngõ vào Sài Gòn và ngăn chận du kích từ Đồng Ông Cộ đánh ra. Sau khi
Pháp rút, nhiều năm gia đình ông vẫn chưa về được ngôi nhà, khi lính Cộng hòa
trưng dụng. Sau năm 1975, gia đình ông mới trở về sống trên căn nhà của ông
cha từ đó đến nay.
Như mọi người già còn tỉnh táo, ông Sáu sống vui bằng cách ôn lại dĩ vãng
đã qua. Ông nhắc lại món phở bò thật ngon mà bây giờ không thấy ai nấu kiểu
như vậy nữa. Đó là món phở từ chiếc xe đẩy đậu bán ở chợ Tân Định đầu năm
1950 của một người Bắc, phở bò tái chín thơm ngon nấu với cà chua và rau răm.
Ông nhớ nhất cây mai vàng trước sân nhà, vươn cao qua hàng rào. Cây lão
mai, gốc to, hoa vàng dày đặc tuyệt đẹp mỗi độ xuân về và Tết nào cũng vậy,
nhiều lượt người đến nhà ông, chỉ xin chụp ảnh với cây mai vàng. Vài năm
trước, cây mai bị mục ruỗng từ bên trong và chết.
Nghe đến chuyện cây mai, tôi nhìn lên trần nhà. Ngôi nhà bên ngoài đẹp đẽ
nhưng nhìn kỹ đã có những mảng tường nứt phải vá lại bằng xi măng. Trần nhà
nay đã rụng lớp xi măng, lộ ra sườn gỗ cũng đã mục, tưởng chừng có thể sớm
sập bất cứ lúc nào. Trong nhà không còn mấy đồ nội thất mang dáng dấp của
một thời phong lưu xưa kia. Ông Sáu cho biết do đang đợi xác định quy hoạch lộ
giới con đường trước mặt nên gia đình vẫn chưa thể bắt tay vào sửa chữa lại.
Căn cứ vào hiện trạng ngôi nhà, việc đó sẽ ngốn rất nhiều tiền của nếu muốn
phục chế cho đàng hoàng.
Khi bước ra khỏi cánh cổng, đọng lại trong tôi là cảm giác tiếc nuối và
bâng khuâng. Một di tích vẫn còn rất đẹp, nhưng với những điều bất cập hiện
nay, liệu còn có thể giữ được nguyên vẹn, dù tôi biết gia đình ông Sáu rất mong
muốn điều ấy. Dường như có những mảnh linh hồn của đất Gia Định xưa dần
mai một, khó mà giữ lại được trong xã hội tưởng chừng hiện đại nhưng xô bồ,
thiếu cái nhìn sâu xa về duy dưỡng văn hóa này.
Ảnh trong bài: Nguyễn Đình.
Tìm Lại Giấc Mơ
Căn nhà ngang độ bốn mét. Mặt tiền đá rửa, cầu thang đá mài. Giữa nhà, bộ
sa lông gỗ gõ đỏ đóng theo kiểu hộp đơn giản, ngồi hơi ngả ra phía sau. Gạch
bông mỗi cạnh hai tấc, hoa văn màu nâu đỏ, trầm lạnh nhưng sang trọng. Trên
tường là bức sơn mài của hãng Trần Hà ở Bình Dương vẽ bầy nai thơ thẩn dưới
những gốc cây tùng. Cái ti vi cửa lùa đứng vững chãi trên bốn chân đặt bên phải.
Cuối phòng khách là bức tường ngang che cầu thang, kê sát tường là cái tủ buýp
phê bằng cẩm lai cửa kính lùa, hai cánh cửa hai bên xoáy tròn những vân của gỗ
Nu. Trên tủ đặt cái bình bông gốm Biên Hòa vẽ hình những cô gái áo dài tha
thướt đi lễ lăng Ông Bà Chiểu và cái máy hát dĩa.
Chủ nhà đặt cái dĩa hát lên mâm và cho kim xoay. Tiếng hát Phương Dung
nghe như nức nở: “Mười năm mơ kết mây thành hoa trắng… mây vỡ hoa tan tàn
giấc mơ hoa”. Anh bảo: “Từ khi quá tuổi bốn mươi tôi lại thích nghe những bài
hát bị gọi là sến, mà ông Sơn Nam gọi là thứ Vọng cổ tân thời này. Nó làm tôi
nhớ rất nhiều...”
Căn nhà tôi đang ngồi không nằm trong một khu dân cư cũ ở khu Ngã Năm
Bình Hòa, khu xóm Gà hay chợ Đa Kao. Nó mới mọc lên dăm năm ở một khu
đất mới vốn là đất trồng hoa ở Gò Vấp. Nhưng khi ngồi vào chiếc ghế cũ kỹ, một
cảm giác êm đềm của thời thơ trẻ sống ở Sài Gòn hơn bốn mươi năm trước trở
lại. Nó gợi nhớ những căn nhà hồi xưa được xem là khá giả vì “nhà lót gạch
bông, mái bằng, tường đá rửa…”, từ những bức tranh lạ treo trên tường không
hề giống mớ lịch tờ lòe loẹt mà những nhà nghèo treo đầy tường từ dịp Tết. Chủ
nhà pha trà ướp hoa lài, rót vào những cái tách Arita trắng in hình bông hồng đỏ
nhạt đặt trên cái dĩa cùng bộ.
Ảnh: Đức Trí
Ảnh: Cristian Kerekes
Chủ nhà vốn là một Việt kiều đã sống nhiều năm ở nước ngoài. Lâu nay, dù
không phải là người chuyên chú chuyện sưu tầm, nhưng anh thích dành thời giờ
rảnh lang thang chợ đồ cổ Lê Công Kiều. Ngày chủ nhật, anh ra uống cà phê sớm
ở góc đường, lẳng lặng nghe những “chuyên gia” và lắm “nhà sưu tập” bàn tán,
dẫn dắt người khác vào trận địa mê hồn này. Xong cử cà phê, anh đi dọc con
đường với lòng háo hức không kém những lần anh đi mua yardsales ở nước
ngoài.
Anh nhanh chóng nhận ra trên con phố này có rất nhiều cửa hàng chưng thứ
đồ giả cổ khá trâng tráo và bày những bức tranh sơn mài mới toanh nhưng vẫn
khẳng định chắc chắn là tranh Thành Lễ. Anh thích thú nhìn cái ghế xoay bằng
gỗ, lưng tựa có gắn thêm miếng gỗ tựa đầu có thể đưa lên hạ xuống. “Đây là cái
ghế hớt tóc. Hồi nhỏ, tôi bé quá, ông thợ hớt tóc phải đặt ngang trên thành ghế
một miếng gỗ để ngồi cao lên mới hớt được.” Anh ngắm nghía những cái đôn
voi Biên Hòa. Nó mới quá và không gợi cảm chút nào. Dăm món đồ đồng khá
quen thuộc. Thú vị nhất là khi anh phát hiện và mua được mớ tượng gỗ Phi Luật
Tân. Hồi xưa gần nhà có một ông thầu khoán thường nhập về những tượng này
để trang trí cho những căn nhà mới xây. Khi chủ nhà khui thùng ở ngoài sân, anh
đứng bên hàng rào mê mẩn nhìn, thèm có được bức tượng con gấu đang bắt cá
hay tượng một nông dân vác quầy chuối. Sau này, anh thấy thỉnh thoảng có vài
cái tượng cũ giống như vậy được bày bán với giá không mắc trên vỉa hè đường
Lê Công Kiều, có sứt mẻ chút ít nhưng vẫn có thể trưng bày được.
Ảnh: Đức Trí
Đó là những tháng anh bận rộn xây và trang trí nhà. Khi về nước, anh mang
theo một số món trang trí như đèn bàn Tiffany, tượng đồng theo phong cách Art
Nouveau và dăm cái dĩa Majolica mà anh thích. Nhưng sau đó anh cất hết vào
tủ. Từ đó bắt đầu một cuộc săn lùng đồ đạc nhẩn nha nhưng quyết liệt. Trong
tầm ngắm là những món đồ trang trí nhà những năm 1960, 1970 của Sài Gòn.
Phần xây dựng căn nhà, anh tìm được ông thợ già còn nắm kỹ thuật làm đá mài,
đá rửa để hướng dẫn thợ thi công. Phần gạch bông, anh phải đặt riêng một công
ty chuyên làm gạch bông theo kiểu xưa để xuất sang Pháp.
Tất cả tạo nên vẻ đẹp của nội thất ngôi nhà mà tôi đang ngắm nhìn. Nó
không gợi cảm giác cũ kỹ và cũng không quá trầm lắng cổ xưa như bầu không
khí trong một căn nhà rường dày đặc chi tiết. Chung quanh tôi là những chi tiết
đơn giản, những đường thẳng và xiên của bàn ghế, chất mộc mạc của gốm Biên
Hòa, tranh Thành Lễ với gam màu nâu điểm vàng. Cái đèn măng sông Đức treo
lơ lửng với cái chụp trắng tinh. Tất cả tạo nên cảm giác thanh thoát, giản dị khá
dễ chịu. Trong không gian đó, anh bạn chủ nhà vẫn còn phong độ nhưng đuôi
mắt đã chớm có những nếp nhăn, ngắm nghía mãi cái vỏ dĩa hát bằng giấy bìa in
hình những ca sĩ vang bóng một thời nay đã ở tuổi sáu bảy mươi.
Nhiều khi tìm lại một giấc mơ tuổi nhỏ chỉ bằng vài tháng dạo chơi tìm
kiếm và bằng một số tiền không lớn, không phải là mắc mỏ lắm khi người ta xây
một mái nhà bình yên cho mình.
Ảnh: Đức Trí
Bìa Báo Xuân Xưa
Những người sống ở Sài Gòn cách nay trên dưới nửa thế kỷ đều nhớ tranh
của họa sĩ Lê Ngọc Trung tức Lê Trung. Ông chuyên vẽ tranh thiếu nữ và cô nào
cũng giống cô nào, với cái đẹp mỡ màng của thiếu nữ sông nước miền Nam, hơi
đậm đà ở vóc dáng, ngực nở eo thon, mắt to đen ướt rượt và sáng long lanh, môi
trái tim dày mọng và lông mi dày đen cong vút. Có người bảo đó là nét đẹp của
diễn viên Thẩm Thúy Hằng. Giới bình dân thích nét đẹp này lắm dù nó hơi siêu
thực, khó kiếm. Do độ thu hút rộng rãi, tranh của Lê Trung ngự trị trên bìa báo
Xuân miền Nam trước 1960. Hết Tết, cái bìa diễm lệ đó được dán trên vách cho
có vẻ “sang trọng” đến khi nó úa vàng vì khói bếp hay màu thời gian mà vẫn
chưa bóc ra.
Tuy nhiên, đến đầu thập niên 1960, tuy bìa báo Xuân có tranh Lê Trung vẫn
còn được ưa chuộng, nhưng một khuynh hướng mới đã bắt đầu ló dạng và lớn
dần lên, là bìa báo Xuân đăng ảnh màu của các nghệ sĩ sân khấu, ca nhạc, điện
ảnh.
Lúc đó, phong trào tân nhạc, điện ảnh và sân khấu cải lương đang phát triển
ở miền Nam, thu hút nhiều trai thanh gái lịch tham gia. Đã vậy, kỹ thuật in ấn
phát triển, các thiết bị máy ảnh, phim màu từ nước ngoài nhập về nhiều hơn nên
tạo thuận lợi cho khuynh hướng này, kéo dài cho đến 1975. Khuynh hướng đăng
ảnh nghệ sĩ trên báo chí, nhất là dịp Tết, mạnh đến nỗi, trong bài viết của thi sĩ
Đông Hồ trên tạp chí Sáng Dội Miền Nam số Tết Nhâm Dần năm 1962 có nêu
rằng: “Sách mà dám cho phát hành vào dịp áp Tết là nguy hiểm lắm, cũng bằng
tự giết mình, vì sách sẽ bị bao nhiêu mỹ nhân của tranh bìa, tranh phụ bản đè
tràn, chôn ngập mất…” (bài Chuyện câu đối Tết giữa kinh thành Sài Gòn, trang
10)
Tranh của Họa sĩ Lê Trung in trên báo Phụ Nữ Diễn Đàn giữa thập niên
1960.
Thời đó, tuy có nhiều người chụp ảnh nghệ sĩ nhưng các báo lớn ở Sài Gòn
chỉ tập trung vào hai tiệm uy tín là tiệm Bình Minh đường Bùi Thị Xuân, quận
Nhứt của đạo diễn Lê Dân học từ bên Pháp về. Tiệm thứ hai là Photo Viễn Kính
của ông Đinh Tiến Mậu ở số 277 Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu),
quận 3.
Có người còn nhớ ảnh của hai nghệ sĩ Thanh Nga và Thanh Thúy trên bìa tờ
báo Xuân Dân Tộc 1961 do tiệm Bình Minh chụp. Nghệ sĩ Thanh Nga lúc đó
mới mười chín tuổi, còn ca sĩ Thanh Thúy cũng chỉ mới mười tám. Tên của
Thanh Nga đã nổi như cồn từ tám năm trước đó và vừa mới được đưa lên bảng
hiệu thành Đoàn Thanh Minh - Thanh Nga. Còn Thanh Thúy chỉ vừa xuất hiện
tại phòng trà Việt Long của Đức Quỳnh vào cuối năm 1959 nhưng nhanh chóng
nổi lên với giọng hát liêu trai và được ca ngợi bằng các mỹ danh như Tiếng Hát
Lúc Không Giờ, Tiếng Hát Khói Sương. Chọn hai ca sĩ này làm bìa báo trong lúc
sáng danh như vậy, chính là chiêu thu hút độc giả khôn ngoan của các chủ báo.
Nhiếp Ảnh Gia Của Nghệ Sĩ Sài Gòn
Ông Đinh Tiến Mậu, chủ Photo Viễn Kính nổi tiếng nay vẫn còn khỏe mạnh
và đang sống ngay căn nhà cũ. Ông cho tôi xem những bìa báo và Lịch Xuân mà
ông đã chụp suốt những năm đó. Với máy ảnh hiệu LINHOF của Đức, ông dùng
chụp ảnh tại studio và chụp ngoại cảnh tùy theo yêu cầu của chủ báo hay nghệ sĩ.
Lúc này, hãng Kodak có một đại lý bán phim chụp ảnh tại đường Tự Do (nay là
Đồng Khởi) nên ông có chỗ cung cấp phim đen trắng để chụp ảnh hằng ngày.
Đến gần Tết, nhu cầu chụp ảnh màu tăng lên, ông lấy thêm phim dương bản
Ektachrom để chụp bìa báo Xuân. Trước Tết hơn một tháng, các báo ông thường
cộng tác như Phụ Nữ Ngày Nay, Phụ Nữ Diễn Đàn... đã bắt đầu đặt hàng chụp
ảnh bìa. Vốn quen việc chụp ảnh nghệ sĩ, ông chỉ cần hẹn và chuẩn bị phim ảnh
nên công việc khá nhanh chóng. Đó là những đợt chụp tuy khá bận rộn vất vả
nhưng vui và đáng nhớ.
Cuối năm 1967, chuẩn bị cho báo Tết năm Mậu Thân 1968, ông cùng một
nhà văn lên Đà Lạt chụp ảnh nghệ sĩ Thanh Nga làm bìa báo Xuân Tia Sáng.
Điều ông nhớ nhất, dù đang là nghệ sĩ nổi tiếng hàng đầu, nghệ sĩ Thanh Nga
làm việc rất nghiêm túc. Cô luôn đến đúng hẹn, rất chịu khó tạo dáng để chụp.
Khi tạm nghỉ, cô nói chuyện vui vẻ và gần gũi với mọi người trong nhóm.
Ảnh: PCL
Giống như những lần trước chụp ở studio, cô thích bận áo dài nền nã với
nhiều màu sắc. Giọng nói của Thanh Nga vang, sang trọng nhưng dịu dàng. Đi
theo cô là một người giúp trang điểm.
Giống như Thanh Nga, nghệ sĩ Bạch Tuyết là một nghệ sĩ khá nghiêm túc
trong công việc. Cô cư xử dễ chịu, không làm cao, sẵn sàng đi chụp ngoại cảnh
khi có yêu cầu. Cô thích chụp tranh phim (có kết cấu như truyện tranh với chất
liệu là những bức ảnh chụp diễn viên đang diễn xuất).
Khi chụp ảnh trong studio thì rất thuận tiện với máy có chân chống, đèn
pha… nhưng khi ra ngoại cảnh thì khó khăn vì đang lúc chiến tranh, kiếm chỗ
vắng vẻ mà an ninh thật khó. Lúc đó, nơi lý tưởng là khu Suối Lồ Ồ ở Dĩ An gần
Biên Hòa. Bức ảnh nữ nghệ sĩ Thẩm Thúy Hằng bận áo tắm đăng trên Lịch Xuân
1967 báo Phụ Nữ Ngày Mai đã được chụp ở đây, phía sau là con suối nhòe nét.
Ngoài báo Xuân, các tờ báo còn tranh thủ dịp Tết ra Lịch sách hay Lịch tờ
để bán. Những năm như vậy, ông Mậu rất bận rộn. Năm 1966, ông chụp hàng
loạt ảnh cho Lịch báo Phụ Nữ Ngày Mai với ảnh của Minh Hiếu, Ngọc Hương,
Kim Loan (sau đổi tên Mộng Tuyền), Kim Nga… Bộ ảnh này chụp trang phục tự
do. Đến 1967, báo này ra bộ ảnh táo bạo hơn với các nghệ sĩ mặc áo tắm và bức
ảnh Thẩm Thúy Hằng nói trên làm bìa. Bên trong là ảnh diễn viên múa Thu
Thủy, nghệ sĩ Bạch Tuyết, Ánh Hoa, Tuyết Nhung, Kim Tuyến... mặc áo tắm một
hoặc hai mảnh.
Một thời đã qua. Khi nhìn lại các tờ báo Xuân, ông Mậu nhớ lại thời trẻ
làm việc hăng say của mình. Ông vẫn nhớ nét đẹp rực rỡ của ca sĩ Minh Hiếu,
mệnh danh là Liz Taylor của Việt Nam, vẻ đoan trang dịu dàng của Thanh Nga,
sang trọng của diễn viên Kiều Chinh, tươi tắn của ca sĩ Thanh Lan, nét bốc lửa
của ca sĩ Diễm Thúy. Các nam ca sĩ hầu như không hề lên bìa báo Xuân, nhưng
họ thường đến chụp ảnh tại studio của ông. Nghệ sĩ Út Trà Ôn cao to, phong độ.
Nghệ sĩ Hùng Cường vui tính, dáng điệu hào hoa. Các ngôi sao xinh đẹp ngày
xưa đã luống tuổi, dấu ấn thời gian phủ trên nhan sắc. Nhiều người không còn
nữa. Chỉ còn lại hình ảnh của họ, trong những tấm ảnh đen trắng, dăm tờ lịch cũ
mà ông còn lưu lại.
Ca sĩ Diễm Thúy
Ca sĩ Hà Thanh Nghệ sĩ Thanh Nga
Ban hợp ca Thăng Long Đệ nhất danh ca cổ nhạc Út Trà Ôn
Nghệ sĩ cải lương Thành Được, giọng ca vọng cổ đỉnh cao của sân khấu miền
Nam.
Nghệ sĩ cải lương Thanh Tú
Nghệ sĩ Hùng Cường, một tài năng bao trùm các lĩnh vực cải lương, tân nhạc và
điện ảnh miền Nam
Ban Hợp Ca Thăng Long
Bức ảnh này được ông Đinh Tiến Mậu chụp tại studio Viễn Kính. Bối cảnh chỉ là
hai giàn đèn, một bục gỗ đặt nằm ngang. Cách bố trí kẻ đứng người ngồi bên hai
chiếc đèn cao thấp tạo nên nhịp điệu cho bức ảnh. Ba nghệ sĩ, là ba anh em ruột,
đều có vóc dáng cao ráo khá lý tưởng. Thái Thanh bận áo vạt dài chứ chưa cao
lên gần đầu gối như thập niên 1970. Hoài Trung, Hoài Bắc gây ấn tượng với
phong thái gentlemen trong những bộ vest được may rất khéo, đồng hồ dây da,
giày cột dây mũi nhọn, tay áo cài khuy manchette, tóc chải ngược (kiểu tóc
Tango thịnh hành trước đây chăng?) lộ vầng trán cao, sáng đẹp.
Khi nhìn bức ảnh này, tai tôi như vẳng tiếng ngựa hí trong bản Ngựa phi
đường xa, tiếng ngân dài bất tuyệt trong bản Ô mê ly của Hoài Trung Phạm Đình
Viêm. Giọng ca Thái Thanh, với tiếng ca trong vắt cao vút trữ tình là giọng ca
duy nhất xứng đáng với từ Diva, không thể tranh cãi được. Nhạc sĩ Phạm Đình
Chương tức Hoài Bắc, với chất giọng "trầm ấm và dội sâu", "hơi nhừa nhựa như
phảng phất men rượu và khói thuốc"[1], tuy chỉ viết hơn 50 ca khúc nhưng tài
năng có thể sánh ngang với những nhạc sĩ nổi tiếng nhất với nhiều bài tuyệt hay
như Người đi qua đời tôi, Nửa hồn thương đau, Đêm cuối cùng, Ly rượu mừng...
và Trường ca bất hủ Hội trùng dương. Thành lập từ thời kháng chiến chống
Pháp, sau đó vào Sài Gòn, ban Thăng Long đã "tạo một luồng sinh khí mới cực
kỳ phong phú và tràn ngập tinh thần sáng tạo"[2]. Đến đầu thập niên 1960, ban
Thăng Long cùng với ban kịch Dân Nam là hai nhóm biểu diễn nghệ thuật nổi
như cồn và thu hút dân Sài Gòn nhiều nhất.
Sài Gòn tự hào từng có ban hợp ca sáng chói từ những người gốc Bắc xa
quê hương, góp phần quan trọng tạo nên diện mạo một âm nhạc của Sài Gòn. Và
tôi tin họ đã luôn yêu quý Sài Gòn trong suốt cuộc đời họ.
Một Cuộc Thi Hoa Hậu
Năm 1960, báo Phụ Nữ Ngày Mai ở Sài Gòn có tổ chức cuộc thi Hoa hậu
bằng hình ảnh. Báo này do ông Nguyễn Đức Khiết làm chủ nhiệm, đứng ra tổ
chức nhằm mục đích tuyển lựa hình ảnh một thiếu nữ Việt duyên dáng và ăn ảnh
nhất. Người dự thi phải gửi về tòa báo hai ảnh bán thân 6x9 phía sau ghi rõ họ
tên, biệt hiệu và tuổi, kèm theo phiếu dự thi. Ảnh dự thi được đăng báo, độc giả
gửi phiếu bầu chọn về.
Tối ngày 1 tháng 9 năm 1960, vương miện đã được trao cho các thí sinh
đoạt giải tại Câu lạc bộ Báo chí Sài Gòn. Người được giải cao nhất là cô Nguyễn
Thị Kim Sang, 17 tuổi, nữ sinh lớp đệ Tam (lớp 10 ngày nay) trường Huỳnh
Khương Ninh, Đa Kao. Cô được tặng một huy chương vàng trị giá 12.000 đồng.
Cô Mộng Yến, 19 tuổi, nữ sinh lớp đệ Nhị trường Nguyễn Văn Khuê trúng giải
nhì với huy chương vàng trị giá 5.000 đồng. Cô Mai Xuân Phượng, nữ giáo viên
ở Phan Thiết, 19 tuổi, giải ba huy chương vàng trị giá 3.000 đồng.
Theo bài báo tường thuật cuộc thi này, Hoa hậu Kim Sang phát biểu khiêm
tốn "Em rất hân hạnh và sung sướng nhận Giải thưởng Hoa hậu Phụ nữ Ngày
Mai. Em biết đây là một sự may mắn cho riêng em vì còn nhiều chị em khác vì lý
do nào đó không gửi ảnh dự thi".
Nhìn lại bức ảnh thiếu nữ Sài Gòn xưa hơn 50 năm trước vẫn thấy nét đẹp
hiện đại bên cạnh vẻ thùy mị. Mũi cao, lông mày đã tỉa gọn, áo dài cổ cao. Các
cô đạt giải đều có học, tự tin, tượng trưng cho lớp phụ nữ Sài Gòn mới của nửa
sau thế kỷ 20.
Hoa hậu ảnh báo Phụ nữ Ngày Mai, cô Nguyễn Thị Kim Sang.
Xuân Phượng, Kim Sang, Mộng Yến (từ trái qua). Ảnh: Văn Mười, báo Thế
giới tự do năm 1960, không rõ số
Giai Nhân Một Thuở
Có lần đến Thượng Hải, sau mấy ngày rảo quanh khu Phố Đông và các
trung tâm thương mại, tôi rút ra kết luận rằng số phụ nữ xinh đẹp ở đây chiếm tỉ
lệ cao so với các thành phố mà tôi từng ghé qua ở Trung Quốc. Với mày cong,
mắt hơi xếch, da trắng hồng, họ như từ tranh Tố nữ Tàu xa xưa bước ra. Chân họ
cao và bắp chuối thon thả, khác với đôi chân có bắp chuối tròn lẳn mà tôi thấy
khá nhiều ở các cô gái bên Nhật. Đó phải chăng là nét đẹp phổ biến của con gái
Thượng Hải? Anh phiên dịch bảo “Là dân Thượng Hải, nghĩa là có thể mang gốc
gác ở đâu đó trên khắp Trung Hoa. Anh đừng mơ tìm thấy nhiều gái đẹp ở Tô
Châu hay Hàng Châu như trong câu “Trên có thiên đàng, dưới có Tô - Hàng”.
Thượng Hải đã thu hút những người xinh đẹp nhất về đây cả rồi”.
Quả đúng như vậy, các cuộc di dân trên khắp thế giới đã phá vỡ tính nhất
quán về phong tục, cách sống trong cư dân từng khu vực. Những đô thị phồn
thịnh thường thu hút người tài giỏi, sáng láng, trẻ trung và xinh đẹp từ mọi
miền. Bởi thế khi bàn về nét đẹp của các giai nhân trên đất Sài Gòn, một đô thị
với tuổi đời chỉ hơn 300 năm, thì đừng so sánh nét đẹp người Sài Gòn với người
vùng khác mà phải hiểu đó là giá trị tổng hợp từ nhiều vùng miền tạo nên.
Ảnh: thiếu nữ Sài Gòn trên bìa 4 tạp chí Sáng Dội Miền Nam số Tết Nhâm
Dần 1962.
Thanh niên Sài Gòn thường xuýt xoa khi ngắm nét đẹp quý phái của các
bạn gái xứ Huế có họ Công Tằng, Công Huyền dù khi đến nhà họ chơi, nghe cô
nói chuyện với ba mẹ thì hoàn toàn không hiểu nổi một câu. Con gái Bắc sống
dọc đường Lê Thánh Tôn, Quận Nhứt, khu Ông Tạ hay xứ Bùi Chu Phát Diệm
dọc đường Lê Văn Sĩ duyên dáng kiểu con gái Bắc và tất nhiên không phải cô
nào cũng như trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên “nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ
ngoan hiền…” . Người đẹp khu dệt vải ngã tư Bảy Hiền, quận Tân Bình thì
giọng vẫn đặc sệt Quảng Nam, gò má hơi cao, mặt hơi vuông làm ngẩn ngơ học
trò nam Trung học Nguyễn Thượng Hiền gần đó.
Tuy là nơi quần tụ, nhưng những đặc điểm phóng khoáng của vùng đất mới
cũng hình thành những nét chung của người đẹp trên đất Sài Gòn. Khác với nét
đài các của thiếu nữ Hà Nội hay vẻ thùy mị thướt tha của con gái Huế, những
thiếu nữ Sài Gòn luôn gây ấn tượng bởi sự trẻ trung và tự tin.
Nhiều người cho rằng dù có mặc áo dài thướt tha, họ vẫn đi đứng uyển
chuyển, chân bước dài, hai tay vung vừa phải. Họ đi nhanh nhưng dáng vẫn mềm
mại, nữ tính. Nét riêng đó có thể hình thành từ cuộc sống nhộn nhịp của Sài Gòn
từ khi chuyển mình thành Hòn ngọc Viễn Đông cuối thế kỷ 19.
Cũng có thể do thời tiết Sài Gòn không có mùa lạnh để mà co ro, lặng lẽ
hay trầm ngâm trên đường đi. Cuộc sống xô bồ nơi thị thành khiến họ thoải mái
và tự nhiên.
Tuy vậy, đừng đánh giá sai lầm về họ nếu chỉ nhìn bề ngoài. Những thiếu
nữ Sài Gòn xưa có thể ngồi ăn hàng ngoài đường rất hồn nhiên nhưng cử chỉ
không hề suồng sã. Họ cũng có thể ăn mặc thoáng mát với quần short, áo không
tay hay jupe ngắn nhưng không có nghĩa là chơi bời buông thả. Họ có thể không
ngại chạy thử một loại xe mới, đánh tennis, bơi thuyền, thậm chí tham gia một
trận đá bóng nhưng không hề tỏ mình là “có cá tính”. Họ dễ bắt chuyện nhưng
không dễ làm thân, rất cởi mở vui vẻ khi làm quen nhưng không dễ “cưa đổ”
như nhiều chàng tưởng bở.
Giới trẻ học đường cách nay bốn mươi năm bảo nhau “con gái Bắc xinh học
Trưng Vương, con gái Nam đẹp học Gia Long (nay là Nguyễn Thị Minh Khai)”.
Các cô học trường Tây như Regina Pacis, Regina Mundi, Marie Curie đa số nhà
khá giả, nhiều cô là con cái địa chủ Tây Nam bộ, nói tiếng Pháp như gió, dạn dĩ
và ăn mặc rất chic, nhảy đầm một cây. Giới trẻ Sài Gòn ngắm nhau khi bát phố
ngoài đường Lê Lợi, Tự Do mỗi chiều cuối tuần, nhưng dễ nhất vẫn là ở những
buổi giao lưu văn nghệ các trường vào dịp giáp Tết.
Lúc đó, mỗi trường đều làm nội san Xuân in bằng máy quay Ronéo, xong
đóng tập đem bán gây quỹ tặng các bạn nghèo. Những nữ sinh xinh xắn và có tài
ăn nói được chọn để lập nhóm đi bán nội san ở các trường khác. Khoảnh khắc đó
thật vui khi đang giữa mùa mát trời ở Sài Gòn, các cô gái xinh bất ngờ vào lớp
khiến bầy trai trẻ ngồi chộn rộn. Nhan sắc Sài Gòn được nhận diện ngay từ thời
đi học và sau nhiều năm, rất nhiều người còn nhớ những lúc như vậy.
Người đẹp vì lụa. Sài Gòn cũng có lụa Hà Đông để làm dịu cái nắng nhiệt
đới như Nguyên Sa nói (không hiểu thứ lụa này từ đâu ra khi đất nước đang chia
cắt?). Tuy nhiên, vẻ đẹp của Sài Gòn trước hết từ tà áo dài. Áo dài những năm
50, 60 không hề bị nhẹ thể như bây giờ. Các ca sĩ thời thượng nhất vẫn thích
trình diễn trong bộ áo dài. Áo dài đi làm, đi dạo phố Bonard (Lê Lợi) hay
Catinat (Đồng Khởi). Áo dài đi mua hàng siêu thị Nguyễn Du giữa những năm
1960.
Màu sắc nào dường như cũng có pha thêm màu trắng cho dịu đi. Trang
điểm vừa phải vì ai trang điểm đậm sẽ bị quy là giao du với lính Mỹ hay bán ở
Snackbar (nơi ăn chơi). Mắt kẻ viền ở mí trên, đánh bóng với màu xanh, nâu hay
tím nhạt.
Và lúc này có thêm một sự cách tân nữa khi các cô mặc áo dài với quần tây
may ống thẳng, rồi lại với quần xéo bằng hàng mềm, rất tốn vải vì xếp xéo để
cắt. Diện và tha thướt hơn thì may bằng hàng mouseline mỏng, có lót bằng vải
đen hay trắng. Mãi sau 1975, mốt áo dài bận với loại vải này vẫn được chuộng,
có điều nó quá mỏng khiến bọn nam sinh cấp 3 chúng tôi phải sững sờ khi nhìn
thấy các cô giáo mặc lên lớp (!).