The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

Nhà văn Bùi Bích Hà (1.1938-7.2021) Nguyễn Tà Cúc

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-12-13 18:14:46

Nhà văn Bùi Bích Hà (1.1938-7.2021) Nguyễn Tà Cúc

Nhà văn Bùi Bích Hà (1.1938-7.2021) Nguyễn Tà Cúc

Bùi Bích Hà, thủ bút bài “Thư gửi Dương Thu Hương”, xuất hiện
trên Phụ nữ Diễn đàn Số 98, trang 28, Tháng 3.1992 và Thế Kỷ 21, Số
36, trang 21-25, Tháng 4.1992,

“Gửi Cúc đọc cho vui chuyện cũ“


Bùi Bích Hà, sđd, trang 2
Một bài phản bác khác, Khi người ta không thở được nữa nên phải ôm
lấy ngực giải thích… trên Thế Kỷ 21 Số 30, Tháng 10. 1991, góp ý rất
sát phạt và chua chát về cái “ghetto” tưởng tượng mà vài nhà văn hay
phê bình lúc đó đang loay hoay tìm cách đào thoát để sang một ghetto

khác:


Bùi Bích Hà, Khi người ta không thở được nữa nên phải ôm lấy ngực
giải thích…

Thế Kỷ 21 Số 30, Tháng 10. 1991
Chỉ 3 bài này thôi đủ chứng tỏ bà không bao giờ ỷ lại vào tình thân hữu
để không dám phát biểu một cách độc lập. Đằng khác, cũng không
ông quan-sang nào thiên vị bà qua số bài quá ít ỏi trên cả Thế Kỷ
21 lẫn Văn Học.
Nhận xét của Trùng Dương về sự “không chăm chú vào viết lách” của
Bùi Bích Hà–thật ra, theo tôi, không chăm chú vào sở trường truyện
ngắn hay thơ–đúng một cách vô tình dù chỉ một phần nhỏ, vì chính Bùi
Bích Hà thú nhận không thể tiếp tục sáng tác được nữa sau khi trở về
thăm Việt Nam vào năm 2001. Bà nhận ra sự bất lực, thậm chí vô bổ,
của văn chương chữ nghĩa trước nỗi thống khổ của người dân Việt dưới
chế độ Cộng Sản:

-“[…] Dẫu sao, suốt 15 năm tiếp theo, tôi trải qua một thời gian tuy vất
vả đấy nhưng vô cùng hạnh phúc, vừa sinh nhai vừa vui chơi với chữ
nghĩa. Tôi viết truyện ngắn, tùy bút, làm thơ, trả lời thư độc giả gởi tới


tòa soạn và được công ty Người Việt giúp xuất bản cuốn truyện ngắn
đầu tay Buổi Sáng Một Mình. Năm 2001, […] Sài Gòn vẫn còn nguyên
cảnh những đứa bé ngủ vạ vật trên vai áo mẹ rách bươm, những đứa lớn
hơn mắt hau háu chờ khách buông đũa bất cứ vì lý do gì là nhào ngay
vào chụp lấy cái tô hay cái đĩa khách đang ăn dở rồi chạy ra một góc xa,
cắm cúi lùa hết vào miệng. Tôi quá buồn và chán nản, thấy ra trong khi
tôi an thân ngồi trước bàn phím máy điện toán, dùng chữ nghĩa văn
chương phù phiếm để mô tả, vẽ vời, son phấn cho những cảnh đời và
những nhân vật trong tưởng tượng của tôi thì những con người thật
ngoài xã hội muôn ngàn lần khác hơn, khốn khó tận cùng […] Trở về
Mỹ, tôi bỏ hết các chương trình đang thực hiện cho VOA, nhờ Hồng
Vân thay thế; bỏ luôn chương trình đang làm trên Little Saigon Radio và
ngưng cộng tác với các báo. Sáu tháng sau, hoàn hồn, tôi viết lại nhưng
không làm văn chương nữa….” [Bùi Bích Hà, “Chữ Nghĩa”, Đèn
Khuya-Tập 1, trang 147]
-“[…] Trong dịp hãn hữu này, tôi đã tận mắt nhìn lại cuộc sống lầm than
của đồng bào tôi không riêng Huế mà ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam,
không khác gì ngày tôi ra đi mà ngàn lần tệ hơn. Trong phút giây cõi
lòng tan nát, tôi chợt thấy chữ nghĩa mà tôi sống hằng ngày với, mà tôi
gửi gắm vào đấy bao nỗi niềm và hy vọng qua những hàng chữ viết
xuống giấy, thật sự là hão huyền, vô dụng, chẳng có ý nghĩa gì trước
những nỗi thống khổ không bút mực nào tả xiết của dân tôi. Trở về Mỹ,
tôi như con thú bị trọng thương, bỏ hết những công việc đang làm trong
lãnh vực truyền thông, ăn năn riêng mình quanh những suy nghĩ viển
vông, kém cỏi và sự bất lực trong bản thân. Cả năm sau, nhờ bạn bè,
thính giả, độc giả thăm hỏi, khuyến khích, thuyết phục, cộng với những
thao thức cá nhân ngày càng chồng chất, tôi cầm bút trở lại nhưng chỉ để
viết về những vấn đề thời sự và đời sống, hoàn toàn không sáng tác được
nữa. Trước tình hình đất nước/cộng đồng hiện nay, tôi không thể không
cảm nhận trong vẻ đẹp hư cấu của văn chương cái hào nhoáng phù
phiếm, ích kỷ và dối trá, không lợi lạc gì cho ai, quan trọng hơn, cho cả
đại cuộc đang lâm vào thế bí nếu không là một cách tìm quên những
điều không thể quên…”[Bùi Bích Hà, “Tự Lực Văn Đoàn”, Mục Nhìn từ
Little Sài gòn, Người Việt Online, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-

little-saigon/tu-luc-van-doan/]


Bùi Bích Hà quả “không sáng tác được nữa“. Cơn đột quỵ tinh thần tạo
một chấn thương trầm trọng cho một người tưởng đâu vượt hết được
mọi cơ cực, bất ưng. Tôi gặp bà trong một bữa trưa vội vàng giữa một
thời khóa biểu đầy. Như thường lệ, bà ân cần mua thêm 2 phần ăn cho
tôi mang về. Khuấy nhẹ đôi đũa vào tô phở một cách lơ đãng, bà hỏi tôi
như tự hỏi: “Em phải về Việt Nam, thấy tận mắt, nghe tận tai thì mới
hiểu được. Em viết liên tục trong khi làm ngày làm đêm. Bỏ công sức
làm Khởi Hành với anh Viên Linh. Anh Võ Đình biết mặt em đấy, bảo
chị, Lạ, vẻ buồn lạc, ngự trên mặt cười. Chị gạt đi, Buồn gì. Cô ấy buồn
ngủ đấy! Nếu ngự được trên một đống bạc, đã không lạc lõng thảm thân
cò bươn chải nuôi con. Chị em mình có làm gì được?”
Tôi không phải người đầu tiên thấu cảm nỗi tuyệt vọng trước sự xem ra
bất lực của ngòi bút. Phải, văn chương mà làm gì khi con thơ đói rét?
Nhưng tôi cũng sẽ không phải người đầu tiên được chứng kiến quyền
năng của ngòi bút. Chỉ trong vòng 20 năm, không ai có thể ngờ được
báo chí, sức mạnh kinh tế của người Việt tỵ nạn đã góp phần vào các
cuộc vận động cho người Việt hay cựu tù nhân chính trị muốn ra đi. Bởi
thế, tôi an ủi bà: “Đâu phải chỉ có chúng ta mới góp chút phần khiêm
nhượng. Bao người nữa, lầm than hơn, vô vọng hơn, họ còn làm được cơ
mà. Có thể là không thấy kết quả ngay bây giờ nhưng có cuộc tranh đấu
nào mà thấy ngay nhỡn tiền đâu. Đời còn dài lắm.”

Bùi Bích Hà, như đã thấy, không bỏ cuộc. Từ 2002, bà chuyên tâm vào
lãnh vực truyền thanh và báo đại chúng. Riêng về lãnh vực truyền thanh,
bà trở lại đúng một vòng từ những ngày còn là một cô sinh viên ở kinh
đô Huế.


Bùi Bích Hà trong buổi nói chuyện với Đặng Thúy Võ
Dự án Vietnamese American Oral History Project- UC Irvine

.2 Báo “nói” – Giọng oanh trên giòng xanh
Bùi Bích Hà “trở lại đúng một vòng từ những ngày còn là một cô sinh
viên ở kinh đô Huế” khi tham dự lãnh vực truyền thanh tại đây. Rất ít
người biết rằng bà đã là xướng ngôn viên trong 3 năm cho đài phát thanh
Huế từ lúc mới 19 tuổi:
-“[…] Một hôm tôi đi xe đạp trên đường Lê Lợi thấy chị Hà Thanh, là ca
sĩ Hà Thanh sau này đó, chị đang đứng ở trên thềm của Đài Phát thanh

Huế, chị mới vẫy gọi tôi kêu: “Bích Hà vào đây coi cái này.” Vào thì
chị kêu đài đang tuyển xướng ngôn, Bé Hà vào thi đi […] Nói rồi cũng
vào thi, thế thì vào thi họ cho tôi ba bài, một bài bình luận, một bài tin
tức, một bài hình như về vấn đề khoa học hay gì đấy […] Tôi vừa về đến
nhà đẩy xe đạp vào nhà thì chưa kịp thay áo dài đã thấy chị dâu kêu nói
là cô có người trên đài phát thanh xuống tìm. Tôi ra thì thấy người của
đài phát thanh xuống nói là Chị đã trúng tuyển xướng ngôn rồi, mời chị
ngày mai đến đài phát thanh nhận việc. […] Năm đó 19 tuổi[…] mới thi
vào đại học sư phạm mới học được có mấy tháng à. Sáng hôm sau đi

làm, Đại học Sư phạm biết tôi đi làm, thành ra thầy khoa trưởng Lê
Tuyên […] Thầy gọi tôi vào phòng học vụ, thầy nói rằng, Chị lãnh học
bổng […] Không thể vừa đi làm vừa đi học được […] Tôi có thưa với


thầy là gia cảnh tôi khó khăn […] Nên xin thầy cho con một thời gian
thử thách là ba tháng. Nếu mà con học kết quả tốt thì thầy cho phép con

đi làm, nếu mà kết quả con không tốt thì con phải chọn lựa là nghề đi
dạy học chứ không phải là nghề làm xướng ngôn, rồi con sẽ bỏ việc ở

đài phát thanh […] Sau một tháng là thầy Lê Tuyên gọi tôi lên nói
là, Chị được phép đi làm…” [Đặng Thúy Võ phỏng vấn Bùi Bích
Hà, Vietnamese American Oral History Project– UC Irvine- Đoàn Giang

ghi lại, sđd]
Sang Hoa Kỳ, Bùi Bích Hà gầy dựng một giới thính giả–“thính chúng”–
và độc giả riêng khi nhập cuộc với các công ty truyền thông như công ty
Người Việt (nhật báo Người Việt, báo Phụ nữ Gia đình Người Việt), Chủ
nhiệm/Chủ bút Nguyệt san Phụ Nữ Gia Đình (2004-2015), Little Sai gòn
Radio (khoảng 1992-2009, chính thức trở thành Tổng Giám Đốc đài
phát thanh VNCR (2007-2011), rồi cuối cùng Việt News Radio (2014-
2021).

Trong hoàn cảnh truyền thông và truyền thanh cạnh tranh kịch liệt tại
Little Sàigòn, không ai, đặc biệt các ông chủ nhiệm/chủ bút hay các
giám đốc, có thể tặng không hay nâng đỡ bất cứ người nào qua một thời
gian quá dài như thế. Lý do giản dị là, khác với loại nguyệt san văn học


mà một nhóm người thường có thể chung lưng đấu cật nuôi sống với
một cái giá phải chăng rồi thay phiên làm không công với các bổn phận
như chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, trị sự vv., một chương trình truyền
thanh không đủ thính giả để được nhận quảng cáo sẽ bị “tắt đèn tắt đài”
vì chi phí mướn đài. Tôi dùng chữ “phải chăng” vì các nguyệt san văn
học chỉ cần vài ngàn mỹ kim cũng có thể cầm cự được hàng tháng. Trái
lại, chi phí thuê đài hàng ngày hay hàng tuần phải thanh toán ngay. Lê
Đình Điểu, người điều hành chương trình phát thanh VNCR (Vietnam
California Radio) từ những năm 90 đã cho biết cụ thể sự tốn kém đó:

-“Chương trình ra đời […] và mọi chi phí được trang trải bằng tiền đọc
những quảng cáo thương mại […] thì một chương trình phát thanh như
VNCR trả tiền đài trên 40 ngàn, chiếm 72% số thâu!…” [ Nguyễn Văn
Khôi & Vũ Văn Tâm, “Người làm báo nói nói về làm báo-Báo Nhân
Quyền (Đức) phỏng vấn Lê Đình Điểu của đài VNCR (Hoa Kỳ)”, Thế
Kỷ 21 Số 105 & 106, trangg 44, Tháng Giêng & Hai, 1998]
Ông Lê Tinh Thông, Giám đốc Đài LittleSaigon Radio cho biết rõ ràng
hơn: 24 % thời giờ dành cho quảng cáo, 15 % Tin tức, Bình Luận
&Phóng sự, 12 % Hội luận và 28 % Văn nghệ (Nhạc, Thơ, Đố vui) vv.
[Lê Tinh Thông, Thời sự cuối tuần với Lê Tinh Thông 1999, trang 218,
Little Saigon Radio xuất bản, 2000]
Do đó, các mục như Tâm tình với Thái Hà của bà sẽ được thính giả và
người quảng cáo đánh giá. Một mục không hấp dẫn cả 2 thành phần này
chắc chắn không tồn tại được nhiều năm như thế. Bùi Bích Hà chọn
phương tiện phát thanh vì, ngoài khả năng đã có, bà dư biết sức mạnh
của phương tiện đại chúng này, nhất là sau khi trở về từ Việt Nam. Bà
thiên về những vấn đề phụ nữ dù vẫn bàn đến thời sự:
-“[…]Từ đầu cô làm chương trình nói về phụ nữ thì cô có
những topic cô đem ra trình bày với thính giả. Chẳng hạn như vấn đề ví
dụ như người đàn bà phải nuôi con một mình, thì mình đứng trước vấn
đề là lập gia đình lần nữa, hay là mình dùng khả năng riêng để nuôi con,
hay là người đàn bà làm sao đừng có sao lãng việc trau dồi kiến thức,
khả năng ứng xử của mình trong đời sống. Tại vì cô muốn người đàn bà
phải có power, có niềm tin, vì người đàn bà có khả năng làm nhiều việc
rất là tuyệt vời. Nhưng mà chỉ tại vì người đàn bà sống trong một đời


sống nệ cổ, trọng nam khinh nữ, có nghĩa là nữ nhi nan hoá, người đàn
bà khó dậy, khó tiến bộ lắm. Cứ nghĩ mình làm gì cũng không qua được
người đàn ông, như vậy, bị mặc cảm, nên mình không biết khả năng của
mình đi đến đâu, thành ra mình sống một cách khiêm nhượng quá sức,
chịu đựng quá sức. Nên mình phải nhân nhượng quá sức. Mẹ mà vững
vàng, bảo vệ mình được thì con cái cũng được nhờ. Và bên cạnh những
người bạn đời của mình, mình cũng đỡ được gánh nặng cho họ, và cộng
đồng cũng mạnh hơn. Thành ra cô muốn người đàn bà là một nhân tố
tích cực vì có những sức mạnh bẩm sinh họ đã có rồi, chỉ cần được trau
dồi thôi…” [Đặng Thúy Võ phỏng vấn Bùi Bích Hà , Vietnamese
American Oral History Project– UC Irvine- Đoàn Giang ghi lại, sđd]
Thế nên, nếu cho rằng Bùi Bích Hà là nhà văn phụ nữ duy nhất tại hải
ngoại đã chọn lựa hầu hoạt động cả trong giới quan-sang lẫn giới đại
chúng, cũng không quá đáng, dựa trên việc đã làm đã nói của bà.
4.2.1 Tâm tình với Thái Hà & Hội thoại Gia Đình, Little Saigon

Radio, California, 1992-2009

Theo Bùi Bích Hà, nhờ Trần Thị Vĩnh Tường– một cô bạn gái xinh đẹp,
tiên phong trong vài sinh hoạt tại Little Sài gòn, rất tâm huyết với công
việc chung, sở hữu một giọng nói đặc biệt Bắc Hà Nội, lưu loát trước
công chúng vì có tài viết, lại thêm giọng hát rất quyến rũ–, bà được giới
thiệu tới Little Saigon Radio, một đài phát thanh tiên phong của người
Việt tỵ nạn tại Quận Cam rồi từ đó, cộng tác với họ suốt 17 năm trong
những chương trình nhắm vào phụ nữ như tâm tình hay hội thoại:
-[…] Cô đến thì gặp ông Nguyễn Hữu Công. Ông Công hỏi cô là chị có
thể làm chương trình gì cho đài. Cô nói là cô muốn làm chương trình
phụ nữ. Tất cả những vấn đề liên quan đến phụ nữ, women issue là cô
tình nguyện làm hết, nghề nghiệp, hạnh phúc gia đình, công ăn việc làm,
bạn bè, bất cứ cái gì. Đài cho 3 chương trình probation. Nếu mà trong 3
chương trình đó feedback của thính giả tốt, họ hưởng cái chương trình
đó thì đài sẽ tiếp tục kí hợp đồng với mình, và sẽ trả tiền cho mình trên
chương trình đầu tiên. Còn nếu sau ba chương trình rồi mà thấy mình
có feedback của thính giả không đạt được yêu cầu của đài muốn có, thì
họ xin chấm dứt chương trình. Cô làm thử ba chương trình thì thính giả
hưởng ứng, nên đài cho cô hợp tác với đài luôn. Cô làm cho đài 17 năm,
từ lúc hầu như những ngày đầu tiên đài mới thành lập…” [Đặng Thúy


Võ phỏng vấn Bùi Bích Hà , Vietnamese American Oral History
Project– UC Irvine- Đoàn Giang ghi lại, sđd]

4.2.2 Tổng Giám đốc Đài Phát thanh VNCR, California, 2007-2011
Trong khi và sau khi cộng tác với Little Saigon Radio, bà trở thành Tổng
Giám đốc đài phát thanh VNCR, California, 2007-khoảng 2011:
-“[…] Cô có một người bạn rất thân rất quý là ông Lê Đình Điểu […]
Thì khi cô sang cô làm cho Người Việt, cô viết bài cho Người Việt. Ông
Điểu biết cô có khả năng làm cho truyền thanh nên khi ông ra cái đài
phát thanh VNCR đó thì ông muốn cô về làm cho đài […] Lần cuối cùng
thì cô về hưu rồi có toàn quyền sử dụng thời gian của mình. Lúc đó có
cơ hội là con của ông Lê Đình Điểu là Nhất Lang, anh không muốn làm
phát thanh nữa, anh muốn bán cổ phần của VNCR, nên cô mua lại cổ
phần VNCR của anh Nhất Lang, của con dâu ông Điểu, là vợ anh Nhất
Lang, của bác Phạm Phú Minh, những người có cổ phần trong VNCR mà
muốn bán đó. Khi mà có một số cổ phần rồi cô về cô làm cho VNCR full
time. Đó là lịch sử cô cộng tác với VNCR…” [Đặng Thúy Võ phỏng vấn

Bùi Bích Hà, Vietnamese American Oral History Project– UC Irvine-

Đoàn Giang ghi lại, sđd]
Nhắc đến VNCR, bà vẫn dùng chữ “mất” (4) hàm ý một mất mát tinh
thần lớn vì đó là một phần quan trọng trong đời bà. Đài phát thanh này
không những liên quan trước đây đến Giám đốc Lê Đình Điểu (một
trong những người chính đã sáng lập và được coi như chủ trương
VNCR), mà còn đại diện cho giấc mơ được làm chủ hoài bão của mình
thể hiện cụ thể qua một chương trình phát thanh.

4.2.3 Việt News Radio, California, 2014-7.2021
Sau VNCR, Bùi Bích Hà cùng một số bạn hữu trong nghề như Hoàng
Liêm, Trương Huy Tưởng vv. lập Việt News Radio vào năm 2014 với 3
mục đích “Thông Tin.Chia Sẻ.Giải Trí”:
-“Việt News Radio phát thanh trực tiếp tuần một lần trên băng tần
106.3FM, vào tối thứ bảy, từ 8 giờ tối đến 12 giờ khuya, giờ địa phương.
Chương trình cũng được lưu trữ trên trang nhà của Việt News Radio, tại
địa chỉ www.vietnewsradio.com. Việt News Radio phát thanh hoàn toàn
bằng Việt ngữ tại thị xã Westminster, thuộc Little Sàigon miền Nam
California. Việt News Radio phục vụ thông tin, giải trí, chia sẻ kinh
nghiệm buồn vui đời thường, quảng bá thương vụ đến thính giả qua 5


quận hạt Ventura, Los Angeles, Orange, San Bernadino và Riverside.
Orange County (quận Cam) quy tụ đông đảo người Việt nhất, khoảng
200,000 đồng hương trong khối cộng đồng người Việt lưu vong.”

Bà hoạt động đến tận ngày cuối đời với đài phát thanh này.

4.3 Nhật báo, Báo Phụ nữ, AudioBooks
4.3.1 Nhật báo Người Việt
Bùi Bích Hà ra mắt độc giả đầu tiên trên Trang Phụ Nữ của nhật
báo Người Việt vào năm 1987. Bà giữ mục “Bạn gái nhỏ to” hơn 3 năm.
Bà trở lại viết thường xuyên cho nhật báo này sau một thời gian gián
đoạn dài. Nhà Xuất bản Người Việt Books tập hợp và xuất bản một số
bài trong Đèn Khuya-Tập 1 và Đèn Khuya-Tập 2 vào năm 2018. Mỗi tập
dầy gần 500 trang. Theo tôi, Bùi Bích Hà rất may mắn đã có những
người bạn quan-sang đàn ông đã hết lòng hỗ trợ vào thời gian đầu tiên
dù sau này, bà tự tiến bước và gây dựng sự nghiệp. Từ nhạc sĩ Trần Đình
Quân rồi tới Lê Đình Điểu, Đỗ Ngọc Yến, tới Nguyễn Xuân Hoàng vv.,
bà đã có một thế giới bạn hữu quây quần từ đầu và tặng một cơ hội gần
như vô giá hầu lập lại mối duyên văn chương đã gián đoạn suốt mấy
chục năm.
Với bà, Đỗ Ngọc Yến “đã viết tên mình vào lịch sử, sẽ mãi mãi sống và
không bao giờ đi vào quên lãng.” [Bùi Bích Hà, “Anh Đỗ Ngọc
Yến”, Đỗ Ngọc Yến giữa bạn bè-53 tác giả, trang 30, nhà Xuất bản
Người Việt, 2006, Hoa Kỳ] Bà xem Lê Đình Điểu tựa “người anh, người
thầy” [Bùi Bích Hà, “Đôi dòng tưởng nhớ về người anh, người thầy Lê
Đình Điểu”, Tuyển tập Lê Đình Điểu, trang 372-374, Nhà Xuất bản
VAALA, Hoa Kỳ 2001]. Với Nguyễn Xuân Hoàng, bà có mối thân tình
đặc biệt vì từng bị cùng “học tập” sau 1975 rồi cùng làm chung Người
Việt, mỗi người một trách nhiệm.
4.3.2 Nhật báo Việt Herald (Việt Herald Daily News)
Bùi Bích Hà tham dự nhật báo Viet Herald với Đỗ Việt Anh (tức Đỗ
Tăng Bí), Vũ Ánh, Đỗ Dzũng vv. Tôi không rõ nhật báo này bắt đầu
chính xác từ lúc nào nhưng có lẽ bắt đầu vào khoảng tháng 4. 2009 cho
tới khoảng cuối 2011. Nhật báo này có sự hợp tác của một số ký giả địa
phương như Ngọc Hoài Phương, Lê Giang Trần vv. (5)


“Các tờ nhật báo địa phương loan tin Đại Lễ Phật Đản PL.2554 thành
công mỹ mãn”

Ngày 17.5.2010, https://www.daitangkinhvietnam.org/node/5542

Trước đó, Nguyễn Đức Quang cũng tách ra từ Người Việt một cách
thành công để dựng nhật báo Viễn Đông, ngày 15.3. 1993. Sau hơn ít
nhất khoảng 12 năm thành công, đã chuyển cho Tống Hoằng, cũng
thuộc Nhóm Người Việt. Hiện nay, Hoàng Như An trở thành chủ nhiệm
và nhà văn Hoàng Mai Đạt giữ chức chủ bút.

Trong các nhật báo tại Little Saigon thì hệ thống Công Ty Người Việt
vẫn mạnh mẽ nhất. Ngoài tờ nhật báo đang bước sang năm thứ 43 và 1
tạp chí văn học (đã đóng cửa); sau này, nhờ thắng kiện vào cuối năm
2014, họ thu được tuần báo Saigon Nhỏ cộng thêm nguyệt san Chiến sĩ
Cộng Hòa. Bà Hoàng Vĩnh kiêm nhiệm Tổng Giám đốc và chủ nhiệm.
Ký giả Đỗ Dzũng giữ phần Chủ Bút. Ký giả Đỗ Tài Thắng đảm đương
phần Tổng Thư Ký. Ông Nguyễn Hùng, đã gắn bó với Công ty Người
Việt từ rất lâu, đảm trách phần Phát Hành và Giao Tế. Từ Nhà Xuất bản
Người Việt, họ phát triển thành Người Việt Books khá thành công, biến
nó thành một cơ sở in ấn có tổ chức quy mô.

Đằng khác, nhật báo Việt Báo lùi dần sau 3 lần thay đổi Tòa Soạn rồi
chấm dứt vào tháng chạp, 2019 khi đổi tên thành Việt Báo/Văn học-


Nghệ thuật và chỉ xuất hiện hàng ngày trên mạng. Tờ báo này–với địa
chỉ mới tại thành phố Garden Grove, nghĩa là lần thứ 2 phải dọn tòa soạn
ra khỏi con đường báo chí Moran– rút xuống phát hành mỗi tuần một
lần, chỉ với 18 trang vào mỗi thứ sáu bắt đầu từ tháng chạp 2019. Không
còn chủ nhiệm và chủ bút, một nhóm khoảng mươi người có tên trong
Ban Biên Tập& Điều Hành thay thế.

Sự gián đoạn rồi kết liễu của nhật báo Việt Báo và sự có mặt ngắn ngủi
của Viet Herald là thí dụ điển hình của khó khăn hay thất bại trong môi
trường cạnh tranh ráo riết tại Little Sàigon

4.3.3 Tuần báo Phụ Nữ Gia đình
Nếu tôi nhớ không lầm, tuần báo Phụ Nữ Gia Đình nguyên là tờ Phụ Nữ
Gia Đình Người Việt do Đỗ Việt Anh làm Chủ Nhiệm và Trần Mộng Tú
làm Chủ bút, ra mắt ngày 10 tháng 10 năm 2002. Sau 2 năm, không còn
của Người Việt, tờ báo chuyển sang cho Bùi Bích Hà. Bà làm Chủ
nhiệm/Chủ bút Nguyệt san Phụ Nữ Gia Đình 2004-2015, và giữ được tờ
báo này gần một thập niên vì bà có khả năng tài chính nên làm chủ ngay
từ đầu và tự mình đảm đương nhiều công việc không tên. Sự quan sát
của Trùng Dương, một lần nữa, cho chúng ta biết thêm về công việc làm
báo đại chúng của Bùi Bich Hà:

-“[…] Trước khi chị ra về, tôi có hỏi chị tại sao chị ra tờ nhật báo. Tôi
nghĩ chứ không nói ra, rằng báo chí đâu phải là sở trường của chị. Chị
thành thực trả lời: “Để cho anh em họ có việc làm.” […] Dù vậy, tôi
ngưỡng mộ chị ở chỗ chị đã tự vực mình đứng dậy và tiếp tục cuộc hành
trình. Dạo ấy, chị không chỉ bị thất bại với tờ nhật báo, mà cả với một
đài phát thanh mà chị đã mua lại, vun xới gầy dựng, bỏ nhiều công của
vào đó, để rồi bị mất. Không chịu thua cuộc, chị lại gầy dựng một đài
phát thanh khác, trong khi tiếp tục làm một tờ tuần báo dành cho phụ nữ.
Tôi cũng có dịp tiếp tay tích cực hơn qua việc đóng góp bài vở cho tờ
tạp chí này […] Tôi sẽ nhớ mãi những buổi tối ở nhà chị, chị đi làm, tôi
nằm nhà đọc sách. Có khi tôi thức tới khi chị về để cùng đi bộ quanh cư
xá với chị, có khi tôi ngủ mất đất. Chừng thức dậy sau nửa đêm để vào
thăm phòng tắm, thấy chị lui cui ngồi trước computer đánh máy dịch bài
vở cho tờ tuần báo phụ nữ hồi chị còn nó. Tối nào cũng vậy, tới hai, ba


giờ sáng. Tú và tôi giục chị buông tờ tạp chí vì thấy chị đã lớn tuổi và
cực quá, mà chị không chịu. Mãi sau có người muốn mua, trả $2,000, tôi
bảo chị bán với giá tượng trưng là $1. Chị nghe lời, nhưng vẫn ái ngại về
việc vài người bị mất ít lợi tức từ tờ tạp chí, như huê hồng quảng cáo,
gói gửi báo, chẳng hạn… ” [Trùng Dương, sđd]
Một điều nữa, tôi nghĩ, cần thêm vào quan sát đó một lý do quan trọng.
Theo tôi, không chỉ muốn giúp đỡ người khác, Bùi Bích Hà còn sẵn lòng
bỏ công sức và tài chính hầu có thể đánh một ván bài “được ăn cả ngã về
không” hầu thực hiện dự định khi mua lại VNCR và cố giữ Phụ nữ gia
đình. Từng hợp tác với Công ty Người Việt, Little Saigon Radio, bà hiểu
rõ hơn ai hết sức mạnh tài chính khi làm chủ bất cứ một tổ chức nào. Từ
đó, bà sẽ thực hiện được ý nguyện mà không phụ thuộc vào người khác,
loan tải được rộng rãi tiếng nói và gia tăng ảnh hưởng trong đại chúng
với công hiệu gấp nhiều lần so với làm công cho người khác, hay viết
bài họa hằn cho các báo quan-sang. Dĩ nhiên, qua 2 lần thử nghiệm
với Việt Herald và VNCR, bà có thể có hao hụt, nhưng tôi không ngạc
nhiên. Tôi càng không ân hận cho bà. Ít nhất thì bà đã thỏa ý với tờ Phụ
Nữ Gia Đình và có cơ hội thực hiện điều mình muốn.

4.4 AudioBooks

Bà đã cho phát hành Thuyền, Bi Kịch, Đôi Giầy và Hạnh phúc có thật.
5-Ngay trên quê hương mình (Bùi Bích Hà)
Chắc chắn bà đã thành công và lưu lại tên tuổi trong giới báo phụ nữ và
báo “nói”. Sự thành công này là tổng hợp sự tinh tế của một nhà văn
cùng lòng trắc ẩn và một giọng nói rất “ăn micro”, lại có tài ứng biến.
Từ một người bị tình phụ, lỡ mối tào khang đến một người túng thiếu, sa
cơ lỡ vận không đủ tài chính nuôi con hay đứng trước những ngã ba mà
lựa chọn nào cũng mang đến ít nhiều đau khổ, bà là người bạn để chia
sẻ, để xin ý kiến vì, chính bà–qua những bài viết tự sự–cũng từng kinh
qua bấy nhiều khổ nạn, có khi hơn nữa:


Bùi Bích Hà, Bạn gái nhỏ to, Nhà Xuất bản Người Việt, 1991
-“[…] Hình như rất nhiều người có định kiến về những cột báo “Tâm sự
Bạn gái.” Đa số độc giả nghĩ rằng mục này bao giờ cũng do một đấng
mày râu ăn tục nói phét, ba hoa chích chòe thủ diễn, nhằm mục đích phá
thối, tán láo hoặc ngay cả khiêu dâm. Những ai cứ hễ mở tờ báo là xăm
xoi đi kiếm mục này để đọc liền bị liệt kê là có trình độ thấp, kiểu nữ nhi
nan hóa. Vì vậy, tôi thường thấy các cô, các bà đọc lén. Nếu ở nhà thì
đợi lúc không có cha mẹ, anh chị em, cháu chắt, hoặc chồng con xung
quanh. Nếu ở chỗ đám đông (ví dụ tiệm uốn tóc hay phòng mạch bác sĩ
vv…) thì họ cố giữ nét mặt lạnh lùng, làm bộ như tình cờ đọc một cái
quảng cáo vì tò mò. Thoạt đầu, lúc nhận lời phụ trách mục Tâm Sự lòng
thòng này trên trang Phụ Nữ báo Người Việt, tôi đang có vấn đề hàng
tháng phải trả cái bill ô tô mua trả góp. Nhà báo thường nhậy cảm, ông
chủ bút chả biết có thần giao cách cảm với kẻ khốn khó là tôi hay không
không rõ, nhưng ông đề nghị một con số phù hợp với nhu cầu của tôi
quá (nói quả đáng tội, nhu cầu cũng khiêm nhượng lắm) […] Tuy vậy,
vẫn còn một số độc giả đa nghi. Quý vị này không ngớt hạch sách tòa
soạn xem đấng mày râu nào trong ban biên tập đã đánh má hồng, tô son
môi và đi cả giầy “hai hiêu” để trả lời thư bạn gái trên trang Phụ Nữ?


Ông Chủ bút rất đẹp trai của bổn báo bị nắm áo hỏi han kỹ quá bèn la
làng “Không phải tôi! Quả là có một nữ nhân lo cái mục lẩm cẩm ấy đấy
mà, ai không tin cứ việc đến tòa soạn, bổn báo sẵn sàng chỉ mặt đương
sự để quí vị am tường.” Vì thế, có những hôm tôi lạng quạng đem bài
lên nộp tòa báo là cứ bị trình làng […] Hãy chỉ nhìn thấy ưu điểm của
người khác để đón nhận, ca ngợi. Hãy nhìn thấy nhược điểm của người
khác để cảm thông, tha thứ và chấp nhận…” [Bùi Bích Hà, “Thay lời
mở”, Bạn gái nhỏ to, Trang 7, 9, 12, sđd]
Với tôi, “người nhìn đâu đâu cũng thấy tài liệu”, Bạn gái nhỏ to và Thư
chiều thứ bẩy cung cấp một kho tài liệu rất khó tìm được tại nơi nào
khác. Qua những lá thư hỏi ý, một trong những hậu quả đoạn trường
nhất của các vượt biển vượt biên và chế độ Cộng sản áp đặt lên Miền
Nam sau 1975 là những cuộc tình duyên hôn nhân tan nát dẫn đến những
cuộc chấp nối dở dang khi người chồng cũ/người vợ cũ cùng gia đình ra
khỏi tù hoặc vượt biển vượt biên đến sau, là những day dứt về đời sống
không như ý nhuộm cô đơn tại nơi đất lạ, là những đổi đời đau đớn. Thế
giới đầy thảm kịch–bên cạnh thành công rực rỡ của người ra đi–đã làm
nền cho nhiều truyện ngắn và truyện dài tại hải ngoại. Tôi có thể kể Mai
Thảo chính là một trong những tác giả đó.
Tuy thế, những người thừa hành thuộc chính phủ Cộng sản lại muốn sử
dụng thảm kịch do chính họ gây ra hầu tiếp tục tuyên truyền cho chủ
nghĩa sai lầm của họ. Tôi có dịp đọc Khung trời bỏ lại–Truyện ngắn nữ
hải ngoại, 488 trang, do Nhà Xuất bản Phụ Nữ, Hà Nội, “tái bản có bổ
sung”, 2001, Lê Hoài Nguyên và Hà Trang “sưu tầm và tuyển chọn”.
Đây là một tuyển tập gồm 25 truyện ngắn của 21 nữ tác gia hải ngoại (vì
có tác giả có 2 bài như Bùi Bích Hà): Bùi Bích Hà, Lệ Hằng, Nguyễn thị
Ngọc Liên, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trần Thị Kim Lan, Phan Thị
Trọng Tuyến, Phạm Chi Lan, Trần Mộng Tú, Trần Diệu Hằng, Lê Thị
Huệ vv.
Ngoài việc lấy bài không những không xin phép với một lý do khôi hài
“vì chưa có địa chỉ liên lạc, chúng tôi chưa thể hỏi ý kiến các tác giả về
sự tuyển chọn…” [trang 6, sđd]”, mà còn ngang nhiên kiểm duyệt
“Trong khi biên tập, chúng tôi có lược bớt chút ít những chữ gợi lại
thành kiến quá khứ hoặc gây ra sự hiểu lầm” nhân danh “tinh thần hòa
hợp dân tộc” [trang 6, sđd], theo tôi, cuốn này còn là một sản phẩm


tuyên truyền rất tồi tệ, một thí dụ điển hình cho sự tập trung tác phẩm
của tác giả hải ngoại với chủ đích chính trị gán ép bất lợi cho các tác giả
đó và cộng đồng tỵ nạn. Tất cả những bi kịch nhắc đến trong bài tựa
thượng dẫn lại chính là lời kết án người Cộng sản hiệu nghiệm nhất:
-“Hai lăm truyện ngắn của các tác giả nữ hải ngoại là nỗi lòng của
những người xa xứ luôn hoài vọng quê hương với những kỷ niệm trìu
mến thiết tha; nỗi cô đơn lạc loài của những người sống trên đất lạ;
những tổ ấm gia đình chưa lành vết thương chiến tranh lại tan vỡ vì sự
phản bội tráo trở; những cô gái tội nghiệp bị xô đẩy từ bất hạnh này đến
bất hạnh khác trong một xã hội xa lạ và tàn nhẫn; những đứa trẻ đau khổ
một cách hồn nhiên về nỗi nhớ cội nguồn, con trâu, cây lúa, một đêm
trăng trên cánh đồng quê…”[“Lời giới thiệu”, Trích in trên Bìa sau, sđd]

Một phần bìa sau Khung trời bỏ lại–Truyện ngắn nữ hải ngoại
Nhà Xuất bản Phụ Nữ, Hà Nội, 2001

Nhà Xuất bản Phụ nữ còn nói thay cho các tác giả có mặt và tập thể
người Việt tỵ nạn:


-“[…] phần lớn các truyện của họ đều viết về cuộc sống của những
người di tản, những lưu dân, những người Việt định cư ở nước ngoài số
phận ít nhiều có liên quan đến sự kiện tháng 4 năm 1975 mà việc tha
hương như là một hình phạt đau đớn…” [sđd, trang 5]

“lược bớt chút ít những chữ gợi lại thành kiến quá khứ hoặc gây ra sự
hiểu lầm”?! Những người biên tập này có lẽ không hiểu hay không
muốn hiểu (các) tác giả này đã có thể cố tình lựa chọn “những chữ gợi
lại thành kiến quá khứ” ấy để không “gây ra sự hiểu lầm” về sự chọn lựa
“tha hương” của họ?
“Hình phạt đau đớn”?! Hẳn Nhà Xuất bản Phụ Nữ quên câu “Nếu cây
đèn đường biết đi, nó cũng vượt biên” thời đó?! Hoàng Hải Thủy, một
người cầm bút Miền Nam, bị tù và gửi sáng tác ra ngoại quốc sau 1975,
từng có nhận xét về loại lời-giới-thiệu tương tự. Trong một bức thư vào
năm 1997, ông đã viết có đoạn như sau:
[…] Tôi gửi cô bài này lấy ở báo TN Thành Hồ. Tất nhiên bọn ở nhà
(VC) chỉ chọn những truyện ta viết ở bên này u ám, thê thảm, tuyệt
vọng, sa đọa nhất để khai thác. Khổ một nỗi là tha hương ta viết thật, ta
buồn, ta giận, ta viết tưới hột sen …. Không thể vì sợ VC khai thác mà
ta viết giả dối […] Nhưng tôi–khi ở Thành Hồ và ngay bây giờ–vẫn khó
chịu, ngậm ngùi khi phải đọc những thơ, truyện lưu dzong khốn khổ do
các văn nghệ sĩ VNCH […] thoát thân được ở hải ngoại viết và bọn VC
đăng lại. chúng khai thác và bao giờ cũng có bài phê phán kèm theo
hướng dẫn người đọc…” [Hoàng Hải Thủy, Thư gửi Nguyễn Tà Cúc,
Ngày 16.5. 1997, “Rừng Phong” Virginia]


Nhà văn Hoàng Hải Thủy, Thư gửi Nguyễn Tà Cúc, 16.5.1997, Virginia
Giả dụ Nhà Xuất bản Phụ Nữ quả có thiện chí như bầy tỏ thì họ chọn
nhầm người khi chọn Bùi Bích Hà:

-[…] Thiện ý của chúng ta là mặc dù còn xa cách nhưng cố gắng tạo nên
một cuộc gặp gỡ, một sự giao lưu thân tình giữa bạn đọc, bạn viết trong
nước với chị em cầm bút đang sống ở nước ngoài.” [trang 6, sđd]

Bà đã dành cả đời để phân tích, kết án và báo động cả về tội ác của
người Cộng Sản lẫn hậu quả bi thảm của nó nhắm cổ võ cho một cộng
đồng hải ngoại đủ lớn mạnh để đối phó. Hơn một thập niên trước, từ
năm 1989, bà đã nhận rõ trò tuyên truyền sơ đẳng của loại “ban biên tập
những tờ báo công cụ” từa tựa như thí dụ thượng dẫn và vạch ra công
khai trong bài “Ngay trên quê hương mình” với bút danh Vương Tiểu
Muội:


Ngay trên quê hương mình, Vương Tiểu Muội, Thế Kỷ 21, Số ra mắt,

Tháng 5.1989

-“Ngày còn ở bên nhà, thỉnh thoảng tôi vẫn được đọc trên báo nhà nước
những lá thư tả oán của người Việt di tản gởi về cho thân nhân. Chả hiểu
ban biên tập những tờ báo công cụ ấy vớ đâu được các tài liệu béo bở
này, thường thì bọn họ giới thiệu trong những cái khung vuông rất trịnh
trọng, bằng lời lẽ nghe ra hí hửng, đầy vẻ thù vặt, để đe nẹt dân tấp tểnh
muốn bỏ nước ra đi, kiểu “Chúng mày rỏng tai, mở mắt trông vào đây,
đừng tưởng đời sống bên tây, bên mẽo là ngon lành đâu, khối đứa chết
dở đấy.” Tôi tuy không “tưởng” gì cả và cũng đang tập tễnh bỏ xứ mà
đi, cảm thấy giận lắm, bụng bảo dạ “mình sẽ không bao giờ cung cấp
cho tụi này những chứng cớ dại dột như vậy để chúng tuyên truyền-
người dân vẫn biết là chúng tuyên truyền.” Rồi tôi đến lập nghiệp ở xứ
này được ba năm, chỉ gởi tiền và quà về giúp thân nhân và bạn bè,
không viết thư. Người bên nhà ban đầu trách móc, sau đoán là tôi có
những điều không muốn nói. Thật ra, không phải chỉ là những điều
không muốn nói. Cũng không phải là những điều không nên nói như tôi
vẫn quan niệm lúc chưa ra đi. Trên hết, còn là những điều không đủ sức
nói […] Nhà nước xã hội chủ nghĩa để cho người Việt Nam ra đi tìm tự


do, một cách công khai, bán công khai hay thầm vụng, họ đã bắn một
viên đạn giết mấy con chim. Họ vừa được tiếng nhân đạo trước thế giới,
vừa trừ khử hậu họa bên nách, vừa vô hiệu hóa mọi tiềm năng có thể
xoay chuyển thời cơ bất lợi cho họ. Là ông tổ của chiến thuật bám trụ,
họ biết rõ hơn ai hết bứng một người ra khỏi cội nguồn, gốc rễ của người
ấy cũng như ta chặt hết chân tay, vây cánh, làm cho người đó trở thành
tàn phế, cũng như ta ngả một cái cây thả bè trôi sông… Cái chiến thuật
bám trụ, dựa thế nhân dân ấy đã giúp họ ngụy trang chủ thuyết tà đạo
của họ trong gần bốn mươi năm chiến tranh, đã đưa họ đến những thành
quả chiến thắng gần như hoang đường, đã làm cho thế giới tự do tuy biết
chính nghĩa ở phía mình mà không há họng cãi được. Cũng cái chiến
thuật bám trụ, dựa thế nhân dân ấy bây giờ lại có cơ giúp họ ve vãn quốc
tế xòe ra những ngón tay nhân đạo, dưới chiêu bài vờ vĩnh “đuổi chuột
sợ vỡ lọ cổ.” Bất cứ một sự nghiệp kháng chiến nào cũng phải bắt đầu
ngay trên lãnh thổ mà cuộc kháng chiến ấy nhằm giải phóng. Nhà nước
Việt Cộng chỉ sợ người đi vô bưng lập chiến khu, không sợ người di tản,
vượt biên hay xuất cảnh. Càng đi nhiều, nhà nước càng rảnh nợ. Người
ra đi nếu có nhiệt tình và hy vọng thì những thứ này rồi cũng tàn lụi, có
tài năng thì tài năng ấy rồi cũng mai một, chưa kể rằng người bỏ đi ít
nhiều cũng là muốn được yên thân. Cuộc sống hàng ngày trên đất Mỹ
như một cái máy xay đá làm bê tông khổng lồ. Nó cuốn hút rất mãnh liệt
sức lực và trí tuệ con người, nghiền nát thành vôi vữa để kiến thiết sự
phồn thịnh của xã hội. Nó là cái lò lửa đã thiêu đốt biết bao Kinh Kha
Việt Nam, lúc ra đi, mang theo trong lòng […]

Tất cả chữ nghĩa, danh từ, tĩnh từ tồi tệ nhất, ta đã dùng để chửi bới, để
mô tả kẻ thù của chúng ta. Chúng không lay chuyển, chúng không xúc
động–chỉ vì thực chất chúng còn tệ hơn những điều chúng ta nói. Và
chúng ta lại cũng mắc cả bệnh nói về chúng ta hơi nhiều nữa. Chẳng hạn
tôi thấy một số nhân vật tên tuổi khi qua được xứ tự do này, nói trên báo
chí rằng họ đã hành động và phát biểu rất anh hùng trước công an Việt
Cộng, đối đáp tay đôi, đòi hỏi điều này điều kia phải được tôn trọng
vv…Tôi chưa thấy ai nhũn nhặn nói rằng “Nhìn mặt thằng công an
khiếp lắm. Cái cảm giác rùng rợn ấy không cách gì mô tả ra được, chỉ
những ai đã chứng nghiệm rồi thì hiểu.” Như thế chỉ vì không còn là sự


đối diện giữa con người và con người. Nó là sự điên cuồng, man rợ, là
hiện thân của sức mạnh giết người nơi loài thú hoang, phi lý, vô nghĩa,
chẳng vì cái gì ngoài cái lý do tiêu diệt ta vì ta không giống chúng.

Đứng trước một họng súng, một quả lựu đạn rút chốt, ta biết điều gì sẽ
xảy ra, ta chuẩn bị đối phó được, ta dùng nghị lực, trí thông minh để tự
vệ được, nhưng đứng trước một tên công an V.C. chỉ được huấn luyện
phải có lòng căm thù giai cấp cao độ, ta không bao giờ tiên liệu được
những điều nó làm. Người tỵ nạn Việt Nam bỏ đi vì như thế. Nếu còn có
thể đối đáp được, nếu còn hy vọng có cách nào cho chúng nghe được, có
lẽ nhiều người còn ở lại trên quê hương mình, để đóng góp, xây dựng và
cải thiện. Tôi nói ra điều vừa nói mà không hề mảy may hổ thẹn. Đứng
trước mặt tên công an VC, trong phòng làm việc của nó, tôi vẫn nghĩ là
nếu cần phải chết, sau đó tôi sẽ lựa chọn một cái chết xứng đáng với
mình hơn, ở một chỗ khác, bằng cách khác, vì những mục đích khác chứ
nhất định không chết dưới bàn tay ngu muội của nó. Giá trị lớn của cái
chết nằm trong thái độ người ta chọn lựa để chết chứ cái chết tự nó là
tiêu cực, huống chi lại chỉ là một cái chết trong lỗ phân […]

Cho nên, bây giờ tôi nghĩ khác. Những lá thư kể khổ từ bên này địa cầu
bay về không làm cho số người bỏ nước mà đi phải hổ thẹn đâu, những
lá thư ấy chính là bản cáo trạng hùng hồn nhất kết tội bọn quỷ đỏ đã làm
cho đất nước thân yêu của một dân tộc không còn là nơi dung thân của
họ nữa. Những lá thư ấy cũng nói với những người còn ở lại rằng ngoài
quê hương ra, không một miền đất nào trên thế giới có thể đem lại cho
họ một cuộc sống hạnh phúc như ý họ mong đợi, rằng nếu ai muốn làm
được một điều gì cụ thể và hữu ích cho dân tộc, họ nên tìm cách bắt đầu
ngay trên quê hương họ. Nếu họ không bắt đầu được từ nơi đó thì cũng
chẳng còn bắt đầu được ở bất cứ đâu.” [Vương Tiểu Muội (bút hiệu khác
của Bùi Bích Hà), “Ngay trên quê hương mình”, Thế Kỷ 21, Số Ra mắt,
trang 81-83, Tháng 5.1989]

Bởi thế, tôi đã không ngoa khi bắt buộc phải trưng ra những giọt nước
mắt cá sấu của Nhà Xuất bản Phụ Nữ. Tôi chỉ cần thay hai chữ trong bài
thượng dẫn của Bùi Bích Hà cũng đủ vô hiệu hóa các giọt nước mắt cá
sấu đen ngòm như mực in kia: “Những truyện ngắn ấy chính là bản cáo


trạng hùng hồn nhất kết tội bọn quỷ đỏ đã làm cho đất nước thân yêu của
một dân tộc không còn là nơi dung thân của họ nữa.” Nếu trên đời này
có phép lạ, tôi cầu mong các giòng nước mắt đen ngòm ấy biến thành
nhiều cơn huyết lệ khóc thương phụ nữ Miền Nam đã bị hãm hiếp, chôn
thân trên biển cả hay các ổ điếm tại Thái Lan.
6-Bạn gái nhỏ to

Bùi Bích Hà, Bạn gái nhỏ to 1, Nhà Xuất bản Cảo Thơm, 2000
Mối giao tình giữa tôi và bà không hẳn xa không hẳn gần, lãng đãng
nhiều khác biệt, hơi ít tương đồng.
Điều đầu tiên là một tình cờ rất đáng yêu. Bà là con gái Chủ nhiệm Bùi
Huy Tín. Tôi là người viết loạt bài nghiên cứu về Kinh Thánh Tin Lành
Việt Nam và thời gian Phan Khôi (có thời làm Chủ bút cho Bùi Huy
Tín) đã giúp ông bà William & Grace Cadman và Hội Tin Lành Đông
Pháp tại Hà Nội trong công cuộc dịch Kinh Thánh Tin Lành sang Việt
ngữ.
Bà và tôi đều cổ võ cho tinh thần trách nhiệm với bản thân, ưu tư với đất
nước Hoa Kỳ, quan hoài về cố quốc Việt Nam Cộng Hòa trong nỗ lực
xây dựng một cộng đồng Việt tỵ nạn tốt đẹp.


Đằng khác, bà bảo thủ đến mức cố thủ trong những “thờ chồng nuôi
con”, “quân sư phụ”, “thiên chức làm mẹ”, “tình mẹ là tình đầu và tình
cuối” hay đặt niềm tin vào một thứ “văn hóa Á Châu” không tỳ vết theo

ý bà:

-“[…] Người đàn bà tự nhủ “mình vẫn đem con theo, bảo bọc chúng
mà!” Mẹ biết đâu cái chỗ của con trong trái tim mẹ đã chật lại […] Khi
cái bóng đại thụ của nền luân lý thờ chồng, nuôi con dạt đi, không còn
nữa, những đứa con thiếu mẹ, mất mẹ, giữa cuộc sống, hiểu rằng mẹ
chúng đã không (hay không thể) lựa chọn cái hạnh phúc làm mẹ thường
hiện ra rỡ ràng trong văn chương, nghệ thuật của nhân loại. Nếu con cái
không bao giờ là đủ cho một bà mẹ thì […] là thất bại chua chát nhất của
Thượng Ðế đã muốn tạo dựng tình mẫu tử như một kỳ quan tuyệt vời
trong trái tim bà mẹ. Như câu ngạn ngữ rất dễ thương treo trong căn bếp
nhỏ nhà ai: Vì Chúa không thể có mặt ở khắp mọi nơi, Ngài tạo sinh các
bà mẹ.” https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-little-saigon/di-lay-

chong/amp/

Tôi không biểu đồng tình với bất cứ thứ lý luận nào đặt hoàn toàn trách
nhiệm vào đôi vai người vợ hay người mẹ; nhất là ngay từ đầu, tình
thương con cái không thể bị tự động bớt đi chỉ vì tình yêu dành cho một
người đàn ông không phải bố chúng. Sau khi đọc, tôi đã nói không đùa
với bà, rằng câu ngạn ngữ đó lẽ ra phải như thế này: “Vì Chúa không thể
có mặt ở khắp mọi nơi, Ngài tạo sinh các bà mẹ và các ông bố.” Dù ly
dị, trách nhiệm của người bố vẫn nguyên vẹn. Là một người mẹ đơn
thân đã chăm lo bốn con từ ấu thơ đến khi khôn lớn, qua đủ mọi thử
thách, tôi có đủ tư cách để phát biểu rằng quyền quyết định ở vậy hay tái
hôn phải được thuộc vào mỗi cá nhân, đàn bà hay đàn ông. Sử dụng con
cái hầu gây mặc cảm tội lỗi đến nỗi chuyển hóa thành một thứ “luân lý”
nhân tạo hay mạo danh Thượng đế với những thiên chức làm mẹ vv và
vv nhắm buộc phụ nữ không được mưu cầu hạnh phúc hay dấn thân vào
ước nguyện riêng, dù họ chu toàn bổn phận với các con, sẽ không thuyết
phục được ai. Tôi không hề tin vào thiên-chức-làm-mẹ. Theo tôi, cái-
thiên-chức này chỉ là một thứ gông lạc hậu chẹt vào cổ phụ nữ. Do đó,
tôi kính trọng quyền quyết định của mỗi phụ nữ, kể cả quyết định không
có con. Tôi mong các cô (và các bà và chính tôi nữa) đã và đang tìm


được một-nửa, vì tình mẹ–dù bao la đến đâu– cũng không thể đáp ứng
được …thiên chức của tình yêu.

Tôi sẽ không thể tránh mà không viết tới điều sau đây vì độc giả của bà
đều rõ: Bà ủng hộ nhiệt liệt cựu tổng thống Trump, thậm chí mạt sát
Đảng Dân Chủ căn cứ trên loại tin tức không chính xác dẫn đến quá
nhiều sai lầm đáng tiếc bằng một thứ chữ nghĩa dìm theo cơn lũ cảm
xúc. Nhưng như đã nói, tôi hoàn toàn tôn trọng ý kiến của bà: Chúng ta
ra đi mang theo quê hương để tìm tự do tại một quê hương khác thì
không thể áp dụng lỗi lầm của những kẻ độc tài.

Khác với Bùi Bích Hà, tôi cực kỳ…đại lãn. Nếu vào kiếp ong (đời vui
như ong bay, mượn lời Bùi Bích Hà), tôi chỉ mong được làm bà hoàng
ong chúa, không quần quật như các chú ong thợ. Tôi tuyệt đối không
tranh luận, càng không với bạn hữu, nếu không bị chỉ đích danh hay ám
chỉ bằng một đối thủ ngang sức hoặc ngang tài liệu. Tổng chi, những lần
nói chuyện với bà tuy không nhiều nhưng lần nào cũng có nhiều tràng
cười chính vì quan niệm It is not my problem/Đó không thuộc vấn đề
(chính trị hay văn học) của bản chức. Bởi thế, Bùi Bích Hà gọi đùa tôi là
“Bộ Trưởng Bộ Thông… Qua.” Tôi đáp lễ bằng “Người đao phủ thành
Đại La” (Hoài Điệp Thứ Lang) vì bà không ngần ngại…xuống đao khi
không đồng ý, dù với người quen khi bị đẩy vào thế chẳng-đặng-đừng.
Tôi còn phục bà ở một điểm: Sự ứng đối nhanh nhẹn, uyển chuyển dù
với bạn hay với thính giả bằng một khuôn mặt khả ái. Đọc những bài
bạn văn viết về bà, điểm nổi bật là sự hòa nhã ân cần một cách tự nhiên
khiến người ta cảm ngay được sự thành thật. Tôi càng phục hơn là
không phải vì thế mà bà không biết ứng đối…ngược lại một cách khả ái
không kém! Viết về Bùi Bích Hà mà thiếu những giai thoại “ngược lại”
này thì chân dung bà quả không đủ. Một lần, bà gọi tôi, cằn nhằn về một
cô MC của Little Saigon đã rao truyền rằng tôi mặc áo hay mang ví
“nhái” chứ không phải hàng hiệu. Tôi còn không hiểu chữ “nhái” có
nghĩa gì. Tôi bảo bà: “Hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ. Cô ấy có nghi
cũng phải thôi vì nhiều người hám hàng hiệu. Thôi thông qua đi, chị ơi.”
Tôi tưởng bà đã quên, nhưng vài tháng sau, tình cờ gặp cô MC này giữa
một đám hoa đán trong một buổi ra mắt sách, bà nói với cô ấy, có tôi


đứng ngay bên cạnh: “Này, bây giờ người ta nhái hàng hiệu khéo lắm
nhé. Cả label áo khâu bên trong cũng nhái luôn đấy!” Đó cũng là một
“đức tính” của bà–luôn để ý và bênh vực bạn dù có khi không thể bầy tỏ
công khai–như nhà văn Trùng Dương nhận xét rất đúng về khía cạnh
này: “Miễn là người khác vui là chị vui rồi. Như thể chị có nhu cầu được
người khác cần tới mình. Như nhiều bà mẹ Việt truyền thống mà tôi biết,
coi đó là ý nghĩa, một thứ sứ mệnh của đời mình…” [Trùng Dương, sđd]

Mối giao tình lặng lẽ giữa tôi và bà như giòng sông chuyên chở những
kỷ niệm vô tình chia sẻ: bà và tôi cùng có thời gia nhập Văn Bút; cùng
quen hay biết nhà thơ Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, nhà văn Nguyễn
Xuân Hoàng, nhà báo Đỗ Ngọc Yến, nhà báo Lê Đình Điểu, nhà thơ
Viên Linh vv. và như được sắp đặt trước, cùng can dự gián tiếp đến vụ
kiện hụt của cá nhân tôi tại Houston, Texas rồi sau này, vào một vụ kiện
báo chí lớn nhất tại Quận Cam dù chúng tôi không gây ảnh hưởng tới
chung cuộc. Bởi thế, loanh quanh vài chục dặm đường, không hay gặp
nhau, thỉnh thoảng bất chợt người này vẫn mường tượng được dáng
người kia trong một tòa soạn, một quán ăn.

Không những chỉ mường tượng, tôi còn giữ vài tấm ảnh có bà nhân lần
tổ chức “Diễn Đàn Phụ Nữ -Lần thứ nhất” do nguyệt san Khởi Hành tổ
chức và nhật báo Người Việt bảo trợ vào ngày 9, tháng 4.2006. Tôi là
người chủ trương, mời chị em tham dự từ tổ chức, tiếp tân đến phát biểu.
Tôi mời bà điều hợp chương trình.


Nhà văn Bùi Bích Hà, Điều hợp chương trình Diễn Đàn Phụ Nữ Khởi
Hành-Lần thứ nhất

Ngày 9.4.2006-Phòng sinh hoạt Nhật báo Người Việt
Bà nhận lời ngay, song rất tế nhị, hỏi tôi mời những ai và đề tài phát
biểu. Tôi trả lời, ngoài chị Yến Tuyết-Chủ biên Trang Phụ Nữ, Nhật
báo Người Việt— thuyết trình về “Những bà mẹ độc thân Việt Nam tại
Hoa Kỳ”, tôi sẽ trình bày về “Nữ trí và Dân trí-Vấn đề Giáo Dục”. Bà
cười lớn, ôm vai tôi: “Chị mừng Tà Cúc chọn những đề tài thiết thực cho
chị em mình.” Tôi cũng không khỏi bật cười: “Chúng ta không nên
tưởng rằng mình đang ngồi trên tháp ngà, thật ra, chỉ trên thuyền giấy.
Cũng có những thứ hư danh dù nhẹ nhưng vẫn đủ sức làm chìm thuyền,
những chiếc thuyền không bằng giấy.”


Thư ký Tòa soạn Khởi Hành Nguyễn Tà Cúc, Nữ trí và Dân trí-Vấn đề
Giáo Dục

Diễn Đàn Phụ Nữ Khởi Hành, Lần thứ nhất- 9.4.2006-Phòng sinh hoạt
Nhật báo Người Việt

Buổi sinh hoạt đó thành công ngoài dự tưởng. Anh chị em ký giả đến
hầu như đông đủ. Ngày đó, Bùi Bích Hà không chỉ phô tài điều khiển
chương trình–có vài lúc gay cấn–mà còn giúp tôi và nhà thơ Viên Linh
chào mừng anh chị em văn nghệ sĩ được mời thuộc nhiều nhóm khác

nhau.

Ký giả Nguyên Huy viết một bài tường thuật rất ân cần mà chính xác,
đăng trên nhật báo Người Việt. Thi sĩ Cao Tiêu–Cục trưởng Cục Tâm Lý
Chiến–hát Ca Trù một bài thơ ông tặng riêng cho Phụ nữ Việt Nam, một
trong những lần hiếm hoi ông xuất hiện. Nhà văn Hoàng Khởi Phong
trình bày nhận định khi bất ngờ được tôi mời phát biểu. Thú thật, tôi hơi
ngạc nhiên khi nhà văn Hoàng Khởi Phong đến dự, nhưng đó là lần đầu
giúp tôi được dịp biết rõ ông hơn. Ông là một nhà văn có tài, từng làm
báo, tâm huyết, trực tính, sẵn sàng bỏ qua để giúp người khác nếu người
khác đó xứng đáng.
Buổi sinh hoạt này còn chứng minh một điều tôi hằng tin tưởng và được
kinh nghiệm nhiều lần mà tôi muốn trình bày để kết thúc bài này về Bùi
Bích Hà: anh chị em nhà văn và ký giả trong giới cầm bút tại Quận


Cam–dù xuất hiện với báo văn học hay báo đại chúng, truyền thanh hay
TV– không hề chia rẽ hay “phe nhóm” như có thể bị lầm tưởng. Họ sẵn
sàng hỗ trợ việc chung hay cho các đề tài ích lợi cho Văn học Miền
Nam, cho công chúng. Đó sẽ không phải lần đầu nhật báo Người
Việt bảo trợ cho Khởi Hành hay cho riêng tôi khi chúng tôi tổ chức các
buổi sinh hoạt hoặc ra mắt sách dù tôi có lần…phê bình Chủ bút Đỗ Quý
Toàn. Ngoài Người Việt mà tôi biết, với bà Hoàng Vĩnh và các anh Phan
Huy Đạt, Phạm Quốc Bảo, Đỗ Tăng Bí, anh Nguyễn Hùng và chủ bút
Phạm Phú Thiện Giao, hay Đinh Quang Anh Thái vv., những nơi khác
cũng thế. Ngay tại Diễn đàn Da Màu, Đặng Thơ Thơ chính là người đề
nghị tôi gửi bài về Tự Lực Văn Đoàn cho ban chủ trương quyết định dù
tôi không có mặt tại một cuộc hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn, tổ chức
ngay tại Little Saigon, Quận Cam.
Do đó, “phe nhóm” chỉ là những người chung một mục đích, một lý
tưởng góp công góp của thực hiện lý tưởng đó. Họ không thể làm không
công cho người ngoài nhóm cũng là lẽ tự nhiên. Nếu không “phe nhóm”
thì cũng có những cá nhân mà tôi biết như anh Trần Văn Phê với Diễn
đàn Học Xá. Anh sang sau nhưng ngoài công việc mưu sinh, còn tự bỏ
công sức cá nhân nhiều năm nay hầu đăng tải những bài hay tin tức mà
anh nghĩ cần thiết cho Văn Học Miền Nam hay Hải ngoại, nên quyền
chọn lựa phải thuộc về anh. Tôi không góp bài với Bùi Bích Hà trên các
diễn đàn của bà. Điều đó không có nghĩa bà và tôi không thể là bạn và
không theo dõi hoạt động của nhau để chia sẻ hay bảo vệ nhau nếu cần.
Bài viết này về bà là một minh chứng.
Trước khi giữ phần Thư Ký Tòa soạn cho tạp chí Khởi Hành, tôi đã viết
báo “chợ” hay nhật báo trong vài năm, nên tương đối có chút kinh
nghiệm về làng báo chí. Tôi được hân hạnh gặp rất nhiều anh em ký giả
trong vùng. Họ là những người hỗ trợ khi tôi còn làm Văn Bút và sau
này, cộng thêm một thế hệ ký giả khác, khi tôi cùng làm Khởi Hành với
nhà thơ Viên Linh hay có những loạt bài tại các diễn đàn khác. Giới ký
giả truyền thông và báo chí đại chúng góp phần hùng hậu vào làng báo
chí tại Thủ đô tỵ nạn vì họ chính là một nguồn cung cấp tin tức cần thiết
cho số độc giả và các cơ sở kinh tế người Việt. Tôi rất mong, một ngày
nào đó, được đọc thêm bài của những ký giả trong giới tiếp tục ghi lại
hành trình của họ để phản ảnh sự quan trọng này.


Ngày nay, nhiều ngòi bút của làng báo chí hải ngoại đã ngừng như lẽ tự
nhiên của trời đất nhưng những giòng chữ viết ra phản ảnh một phần
lịch sử di dân tỵ nạn Cộng sản của người Việt tại Hoa Kỳ, đã tồn tại và
còn tiếp tục tồn tại. Tôi hy vọng bài viết này góp được vào lịch sử ấy,
nhất là về Bùi Bích Hà, một phụ nữ đã quen tên trong cộng đồng chúng
ta, nhất là qua hoạt động truyền thanh và báo phụ nữ của bà. Nếu có sai
lầm hay thiếu sót, tôi rất mong được những người được nhắc đến, hay
trong cuộc, lên tiếng, góp ý hoặc chỉ giáo cho bài viết này hoàn hảo và
công bằng hơn (6).-

(Hết)
—————-

Chú Thích
* Paradise, Ban nhạc Coldplay, Anh Quốc,
“When she was just a girl/she expected the world/But it flew away from
her reach/So she ran away in her sleep/Dreamed of paradise/Every time
she closed her eyes/When she was just a girl/ she expected the world/But
it flew away from her reach/And the bullets catch in her teeth/Life goes
on, it gets so heavy/The wheel breaks the butterfly/Every tear a
waterfall/In the night the stormy night she’ll close her eyes/In the night
the stormy night away, she’d fly/She’d dream of paradise/And so lying
underneath those stormy skies/She’d say, “oh, I know the sun must set to
rise”/This could be paradise.” [Paradise, William Champion /
Christopher Anthony John Martin / Jonathan Mark Buckland / Brian
Eno / Guy Rupert Berryman / Giordano Trivellato,
https://www.youtube.com/watch?v=1G4isv_Fylg]
** Chân dung Bùi Bích Hà lấy từ bìa sau cuốn Buổi sáng một mình. Về
tiểu sử họa sĩ Thái Bá, xin đọc “Dấu Huế trong tranh Thái Bá”, Nguyên
Hương, Ngày 22.4.2018, https://baothuathienhue.vn/dau-hue-trong-
tranh-thai-ba-a55485.html
1) Tôi trích một đoạn trong “Mấy điều không ổn” hầu cho độc giả thấy
Cao Xuân Huy muốn chứng minh Dương Thu Hương bịa đặt về người
lính Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó, ông có thể suy ra thái độ của tác giả:


– […] Và hầu hết những nhà văn, nhà thơ xuất hiện trong cao trào “văn
chương phản kháng”, hoàn toàn không bị phản ứng của đảng và nhà
nước đã từng phản ứng như đối với phong trào “trăm hoa đua nở trên đất
Bắc”, mặc dù trên giấy trắng mực đen, trên sách vở, trên những buổi
thảo luận, những chống đối, lột trần của “văn chương phản kháng” có
cường độ mạnh hơn “nhân văn giai phẩm” rất nhiều. Lý do, tôi xin trích
một câu của một nhà sử học miền Bắc, ông Trần Quốc Vượng: “Cuối
năm 89 mà, cuối mùa Đổi Mới rồi, họ còn giữ ghế chứ…”[…] Đang
trong lúc chưa ngã ngũ cái nhìn về Dương Thu Hương như vậy của
những người ở hải ngoại, nhà xuất bản Văn Nghệ cho phát hành quyển
Tiểu Thuyết Vô Đề, với bài tựa của bà Thụy Khuê. Sau khi đọc xong
truyện, tôi thấy có một vài điều không được ổn. Quay sang đọc phần tựa,
bài của bà Thụy Khuê viết lại cũng có đôi điều không ổn. […] Tôi xin
trích dẫn:

Điều không ổn thứ nhất.

“Tới vực Cô hồn, gặp sáu cái các truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình
bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh… Có lẽ họ thuộc
một binh trạm hoặc một đơn vị xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng
có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám
bảo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết!...” (tr. 16). “Thám
báo” là tiếng mà Việt cộng gọi chung những đơn vị viễn thám, trinh sát,
lực lượng đặc biệt… của miền Nam. Tất cả những đơn vị này nhiệm vụ
chính của họ là, tùy theo danh xưng, họ lấy tin gần hay xa đơn vị gốc,
xâm nhập vào hàng ngũ địch…Với nhiệm vụ như vậy, khi đi thám sát,
hễ cứ gặp địch là trốn, mặc dù đi cả năm, bảy người mà chỉ gặp một nữ
cán bộ của địch không có vũ khí cũng đã phải trốn rồi, trốn để bảo vệ bí
mật cho công tác, bần cùng bất đắc dĩ lắm, họ mới phải nổ súng tự vệ để
thoát thân. Với công tác như vậy, bí mật là mức độ bảo đảm an toàn cho
sinh mạng họ, càng bí mật càng an toàn. Đi tiêu, đi tiểu họ còn phải che
dấu vết tích thì làm gì có chuyện và có đủ thời giờ để hiếp, giết một lúc
những sáu cô gái, sau đó còn thảnh thơi cắt vú, xẻo cửa mình, rồi lại còn
vất vung vãi khắp đám cỏ xung quanh […]
Điều không ổn thứ hai.


Đoạn đối thoại với tù binh “Bấm Ông phải, Ngài trung tá nói…” (tr.
208) […]Tiếng “Ngài” không có trong Quân lực Việt nam Cộng hòa.
Đôi khi có chăng, chỉ là những câu thôi hài, giễu cợt. Thông thường, nếu
không gọi nhau bằng cấp bậc (đôi khi cũng khôi hài), thuộc cấp thường
gọi thượng cấp bằng hai tiếng “ông thầy”. Bà Thụy Khuê viết: “Phải
chấp nhận quy luật sống thực ấy, chúng ta mới có thể đi sâu và tận
hưởng tác phẩm một cách đúng mức”.
Những điều tôi vừa nêu ra ở trên là những điều “sống thực” trong khi
Dương Thu Hương viết không thực và bà Thụy Khuê cũng đã không
sống thực […] Nhưng tiếc thay, Dương Thu Hương đã không có đủ cẩn
trọng và thiện chí để tìm hiểu sự thật. Dương Thu Hương vẫn không
thoát ra khỏi cái lằn ranh Quốc Cộng của Tư bản và Cộng sản áp đặt lên
đầu lên cổ dân tộc Việt nam.[…] Chúng ta thường chê Việt cộng ngu,
nhưng chúng ta không thể chê chúng ngu trong lãnh vực phân biệt ta,
địch, bạn, thù. Bạn có thể trở thành địch, địch có thể trở thành bạn,
nhưng không bao giờ kể cả địch lẫn bạn mà trở thành ta được, bởi vì tất
cả địch, bạn hay thù đều không phải là ta. Địch giai đoạn, bạn giai đoạn,
thù cũng giai đoạn. Tất cả địch, bạn hay thù đều được đánh giá, sắp xếp
vị trí theo từng giai đoạn, theo từng thời gian, theo từng nhu cầu chiến
thuật.

Còn chúng ta, cứ địch là địch cho tới cùng, cứ bạn thì bạn cho tới cùng,
đã khen thì đến chết cũng khen, đã chê thì dẫu đối phương có thế nào
cũng vẫn chê. Đó là điều không ổn. Những người yêu chuộng tự do khác
với bọn độc tài ở chỗ sẵn sàng dang rộng tay đón nhận, nhưng chỉ đón
nhận sự thật, đón nhận công lý. Cao Xuân Huy tác giả tháng Ba Gãy
Súng. Hiện là Tổng thư ký tạp chí Văn Học.“ [Cao Xuân Huy, “Đôi điều
không ổn”, Thế Kỷ 21, Số 29, Tháng 9. 1991, trang 72-75 ]
Ngoài ra, tôi chưa thể xác định Cao Xuân Huy có phải là hội viên của
TT Văn Bút Nam California hay không, nhưng ông đã tham gia sinh
hoạt như hiện diện trong “Nghị trình Phiên họp” ngày 10.3.1989. Tuy là
một trong những nhân vật nòng cốt của tạp chí Văn Học, ông không
tham gia nhóm “Trăm hoa vẫn nở trên quê hương”.
2) Trùng Dương, “Tiễn Chị lên đường”, Ngày 15.7.2021


http://nhinrabonphuong.blogspot.com/2021/07/tien-chi-len-uong-trung-

duong.html

3) “Cụ Hường B.” chính là “cụ B.(Bùi Huy Tín) có hàm “Hồng lô Tự
Khanh”. Chữ “Hồng” được nói chệch thành “Hường”.

4) Chữ “mất” (VNCR) này do Bùi Bích Hà dùng trong đoạn sau đây
thuộc bài viết tưởng niệm một người cộng sự viên trẻ đã cùng sát cánh
một thời gian dài: “Khi tổng đài 106.3 FM gọi chị, báo tin có giờ trống,
chị hỏi em có muốn làm phát thanh không? Em trả lời giản dị và không
chút do dự: “Làm đi chị!” Chị ký hợp đồng nhận giờ rồi, em đi tìm địa
điểm, thương lượng thuê mướn […] Em dẫn chị đi mua máy móc, dụng
cụ phát thanh và chúng ta bắt đầu lại một phần những ngày vui gián
đoạn chưa đầy một năm trước, khi tất cả chúng ta mất VNCR […] Bây
giờ, em đã thật sự xa rồi. Con đường tới Việt News Radio mỗi ngày sẽ
mãi mãi không ai còn thấy em…” [Bùi Bích Hà, “Em đi thật rồi”, Nhật
báo Người Việt, ngày 27.6.2018, https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-
little-saigon/em-di-roi/amp/]
5) Bùi Bích Hà là chủ bút nhật báo Việt Herald theo một bài viết trên
tờ The Los Angeles Times: “‘Mấy nhật báo kia đã có trong cộng đồng
quá lâu rồi, họ muốn viết sao đặng an toàn cho họ’, Bùi Bích Hà, chủ
bút Việt Herald nói thế…” [“Those other newspapers have been in the
community for so long, they want to play it safe,” said Ha Bich Bui, Viet

Herald’s editor in chief… ” [My-Thuan Tran, “Where newspapers

thrive: Orange County’s Little Saigon”, The Los Angeles Times, Ngày

8.9.2009, https://www.latimes.com/local/la-me-outthere8-2009sep08-

story.html]
6) Bài này được hoàn chỉnh ngày 24, tháng chạp. 2021. Ngoài phần
thêm vào về phần nhà văn Cao Xuân Huy và nhà văn Hoàng Hải Thủy,
bỏ vài câu rườm rà, ý trùng lập, vài đoạn chưa cần thiết và chữa những
chữ đánh máy lại bị sai vv., nội dung bài không thay đổi.


Click to View FlipBook Version