The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by fireant26, 2022-11-03 00:32:03

Tùy Bút Võ Phiến

Tùy Bút Võ Phiến

Nhớ Làng

Trước kia thi sĩ Yến Lan ở gần cửa đông thành Bình Định cũ. Ông có nhiều bài thơ nói về chỗ
quê hương mà ông thiết tha. Bình Định trong thơ Yến Lan không là đất anh hùng của Quang Trung,
đất huyền bí của Chiêm Thành v.v... Không có gì lớn lao hãi hùng như thế trong thơ Yến Lan. Tuy
nhiên, người cùng quê đọc thơ ông thường nhớ quê thấm thía nhất.

Một hôm Yến Lan nhớ làng và vẽ lại cảnh làng:
“Ở đây nắng mới võ vàng
Dừa cao lỏng khỏng cành xoan ngòng ngoèo
Con đường thời ngút cheo leo
Mình đi chỉ bóng cùng theo với mình.”1
Làng của thi sĩ ở giữa một vòng thành quách, xưa kia hẳn là huy hoàng dinh thự, chen chúc phố
xá. Nhưng thành quách đã phế hủy, sinh hoạt đã tàn tạ. Cho nên rốt cuộc hình ảnh do thi sĩ đưa ra sao
mà giống cảnh làng tôi ở một vùng sơn cước hẻo lánh: sao mà vắng vẻ, tịch liêu, sao mà quạnh hiu,
ngui ngút...
Và đó cũng là hình ảnh nổi bật nhất về Bình Định quê nhà trong trí tôi, mỗi khi ngùi ngùi hồi
tưởng lại những ngày bé dại.
Nhưng lúc này, vào thượng tuần tháng sáu2 thì hai câu thơ sau đây của Yến Lan mới thật là xúc
động:
“Chiều nay mở cửa ra trông
Thấy làng đâu, chỉ thấy lòng mà thôi.”

Thật vậy, lúc này tôi không còn làng.
Làng đâu? — Làng tôi ở đúng cái vị trí được nêu lên hai mươi lần mỗi ngày trong các bản tin
chiến sự từng giờ đọc trên đài phát thanh vào những hôm đầu tháng sáu này, được nhắc đến trên trang
nhất của tất cả các nhật báo mỗi chiều tung ra tới tấp khắp nước đó. Ở đúng cái chỗ hai ba cây số tây
nam quận lỵ Phù Mỹ đó. Tức cái chỗ sư đoàn 3 Sao Vàng của bên kia cùng với trung đoàn 41 sư đoàn
22 của bên này đánh vùi nhau liền ngày liền đêm trước sự theo dõi của các hãng thông tấn quốc tế.
Tức cái chỗ mà vài ngày trước khi tử nạn, ông John Paul Vann cho là nhà cầm quyền Bắc Việt nhất
quyết xua quân xông vào để tìm cho kỳ được cái thắng lợi chính trị như trong trường hợp tỉnh lỵ
Quảng Trị. Tức cái chỗ có tin loan rằng đã đếm được 360 xác địch, rồi có tin khác loan báo đếm đến
năm trăm, rồi sáu trăm xác địch... Cũng tức là cái chỗ từng có chiếc Phantom bị bắn hạ trong một hoạt
động không trợ...
Ờ! Chiếc phản lực cơ tối tân ấy của Hoa Kỳ, nó đã gầm thét dữ dằn, rồi nó đã rơi xuống chỗ nào
vậy? Nó rơi xuống cái bờ ao, nơi chị vợ bé của anh Bốn Thôi đêm khuya về chợ gặp người câu ếch
nham nhở đó chăng? Xuống cái bìa rừng nơi Năm Cán Vá vẫn lén lút hẹn hò đó chăng? Xuống gốc
cây mù u, nơi chị Bốn Chìa Vôi đã bắt trọn ổ bốn con sáo sậu năm nào đó chăng? Nó rơi xuống chỗ
cây bồ kết sau nhà Bái Công, nơi chiều chiều ông lão gầy đét như que canh giữ ngọn lửa chập chờn
nấu nồi cháo nuôi mấy con heo đó chăng? Ai mà nghĩ được rằng những chỗ như thế lại có dịp đón
một chiếc phản lực đến từ nước Hoa Kỳ!
Trận chiến xảy ra giữa một bên là biển người với một bên là những phương tiện tối tân như thế đã
làm chết chừng bao nhiêu? 360, hay năm trăm, hay sáu trăm? Ấy là những con số chính thức. Về phần
bà con địa phương chạy loạn đây đó, gặp nhau họ lắc đầu lè lưỡi: “Lần này dám tới cả ngàn — Ngàn
mà được hả? Chính mắt tôi trông thấy... Lạy Trời Phật, thôi đừng bao giờ nhắc tới.”
Con số chính thức với con số không chính thức có khác nhau, phần sai không hẳn ở phía bà con
địa phương đâu. Có số xác địch đếm được, có số xác địch không đếm được, xác chôn giấm chôn giúi;
có số chết ở chiến trường, có số nhắm mắt ở những căn hầm, những ngôi nhà, những lều trại tạm làm
trạm cấp cứu; có những số gục ngã ở đồi cây khe suối vì phi pháo, vì bom của phi cơ chiến lược v.v...,
có những số thiệt hại còn lâu mới kiểm điểm được, hoặc có thể không bao giờ kiểm điểm cho chính

xác được. Nhà nước chỉ đếm xác địch ở nơi nào nhà nước đã kiểm soát, còn dân chúng chạy đôn chạy
đáo thì chứng kiến khắp cùng. Cho nên — lạy Trời Phật — những điều người dân trông thấy mới lại
càng bội phần thê thảm. Và thê thảm nữa là không phải chỉ có địch chết mà thôi. Ở Phù Mỹ cũng như
ở Hoài Ân, Tam Quan, ở Hoài Nhơn, Hội Đức v.v... ai nấy đã rõ một khi Sao Vàng đến thì sự tai
ương ra sao: bao nhiêu cán bộ và vợ con cán bộ, tóm được là tiêu diệt...

Sau những ngày như thế, còn gì đâu nữa ở làng? ở những xóm làng hiền lành với “dừa cao lỏng
khỏng cành xoan ngòng ngoèo”!

Câu chuyện xác địch xác ta khiến tôi nghĩ đến những điều nghe thấy trong một bữa ăn với người
làng trước đây một năm.

Hôm đó, về Qui Nhơn, tôi đang đi trên một con đường ở khu Sáu bỗng nghe gọi lớn: “Chú Hai!”
Tôi giật mình quay lại. Trông anh Hai Cư — tức anh Ấm Sứt — bấy giờ có vẻ mừng rỡ thực tình.
Chúng tôi không có tình bà con, nhưng người làng với nhau đã bảy tám năm cách mặt, bỗng nhiên
gặp nhau giữa lúc gia đình anh Ấm có niềm vui lớn: Mừng rỡ là phải.

Anh Ấm kéo tôi vào nhà để cùng mừng với anh: Đứa con trai duy nhất của anh vừa thi đậu vào
lớp đệ thất trường công lập, hôm ấy anh cúng cháo, đãi đằng bà con. “May ơi là may! Với lại tuy cháu
nó yếu đuối, nhưng được cái Trời cho khiếu thông minh.” Anh Ấm tíu tít một cách khiêm tốn như thế.
Cảnh nhà không đông đảo náo nhiệt bằng, nhưng cái hớn hở của người nhà thì tôi chắc chắn là trội
hơn cái hớn hở ngày anh mở tiệc khao làng trước đó hăm lăm năm, vào dịp anh được tập ấm, miễn
sai.

Anh Ấm bỏ làng ra tỉnh hồi nào, tôi không hay. Anh đang làm gì để sinh sống, tôi cũng không rõ.
Tôi bắt đầu bằng câu khen ngợi về khiếu thông minh trời cho của cậu bé, rồi về ngôi nhà sạch sẽ xinh
xắn của anh Ấm. Xong, hỏi thăm đến sinh kế.

— Khá lắm, chú Hai. Anh Ấm bây giờ thành ra có nghề.
Vừa nói câu ấy là một người đã có tuổi, quấn chiếc khăn lông quanh cổ, tay bưng một chén rượu
thuốc. Người ấy ngừng chén rượu trước vành môi, hất mặt về phía tôi nói tiếp:
— Làm thợ đấy.
Tôi hớn hở:
— Thế à? Anh ấy học nghề từ bao giờ? Mà thợ gì vậy?
— Thợ vịn.
Xung quanh tôi, tiếng cười nổ vang ầm ĩ, cởi mở. Anh Ấm thì vẫn một vẻ bẽn lẽn, y như ngày nào
bị bà con chòm xóm đặt cho cái tên Ấm Sứt.
“Thợ vịn” là một chuyện buồn cười. Và mọi người cùng cười, để chế giễu cả anh Ấm lẫn người
Mỹ. Số là bỏ làng bỏ ruộng ra đi, anh Ấm đến chỗ phố xá thị tứ thoạt tiên đâu có biết làm gì để sinh
sống. Sau đó, có người tốt bụng giới thiệu anh vào làm sở Mỹ. Mỹ thuê thợ cất doanh trại. Anh Ấm
nương tựa vào sự dìu dắt che chở của bạn bè, anh làm thứ “thợ” đặc biệt: người ta xây tường thì anh
đưa hồ, người ta lợp nhà anh quăng ngói, người ta đóng trần anh vịn chân thang, người ta cất giàn thì
anh đỡ cây gỗ v.v... Và anh “Ấm-thợ-vịn” vẫn được Mỹ tính giờ trả lương khá hậu, để anh nuôi con
ăn học và xây dựng nhà cửa khang trang. Đám bà con tụ tập ở nhà anh Ấm hôm ấy nhấp rượu mừng
cho tiền đồ đứa trẻ, rồi cười ngất tiếp tục những khám phá đầy hào hứng thích thú về người Mỹ.
Bà cụ thân sinh ra anh Ấm bắt gặp cái nhìn dò hỏi của tôi về phía người thực khách quấn khăn
lông, bà cụ thì thào: Đó chính là ân nhân của gia đình, là người tốt bụng đã tìm việc làm cho anh Ấm.
Ông ta không phải người làng, tôi không quen biết là phải. Ngay đối với anh Ấm, thực ra ông ta cũng
không hẳn là quen biết: chỉ là người cùng quận, cùng lánh nạn, thế thôi, nhưng ông ta tốt bụng. Bà cụ
thấp giọng:
— Tội nghiệp, người thế mà con cái không may.
— Không may ra sao?
— Có thằng con lớn vừa mới chết tháng trước.
— Đau sao vậy bác?
— Đi lính, đóng đồn. Ở ngoài nó cối vô, trúng chết đó mà.
— Nó ...cối?

— Ừa... Còn thằng con trai nhỏ, chưa vợ con gì, thì lại cũng gặp rủi ro năm ngoái. Đang lui cui
trong vườn, hai bên đánh nhau, trong đồn câu ra, trúng chết.

Đến đây, tôi chợt hiểu: Có lần tôi đã được nghe nói đến một người chết vì “mọt thụt”. Moọc-chê
tức súng cối. “Cối vào” hay “mọt thụt”, cùng nghĩa như nhau. Còn “câu ra” cũng lại nói về một hoạt
động của trọng pháo nữa. Thế là hai đứa con trai của ông bạn nọ, kẻ làm lính trong đồn người làm dân
ngoài đồn, kẻ chết vì đạn cối vào người chết vì đạn câu ra. Như vậy gọi là hai cái chết ở hai bên trận
tuyến!

Ông bạn tốt bụng lại ngừng chén rượu ngang môi, hai tai ngờ vực dường như loáng thoáng theo
dõi câu chuyện của bà cụ. Chúng tôi nghĩ nên đổi ngay đề tài, tránh những kỷ niệm đau buồn. Và tôi
hỏi anh Ấm về trường hợp khiến anh bỏ làng về tỉnh.

Anh kể rằng hồi năm 66 anh đang còn làm ăn ở làng. Một hôm, xế chiều, “Lực lượng” phái người
về tập hợp tất cả đàn ông trai tráng, phân thành đội ngũ rồi dẫn đi. Thoạt đầu, họ đưa về phía núi,
ngừng lại dọc đường, cho học tập, rồi lại đi. Trời vừa xẩm tối, họ dẫn chạy vội vã, ngược lại, về phía
quốc lộ số 1. Thì ra lúc đầu họ muốn đánh lạc sự theo dõi của dân làng.

Đêm ấy anh Ấm Sứt cùng với những “dân công chiến trường” khác được bố trí cách trận địa non
cây số. Hễ có thương binh đưa đến thì họ khiêng chạy. Chạy đến đâu? — Cái đó đã được học tập kỹ
càng: Họ chỉ cần theo dấu hiệu. Trên bờ ruộng, tại mỗi ngả ba ngả tư, đã có sẵn những thẻ tre đặt
ngửa; phơi bề ruột lên. Trong đêm tối, ruột tre màu trắng là dấu hiệu dẫn đường.

Vào khoảng một giờ sáng, trận chiến bùng nổ. Cho đến hai giờ rưỡi, các đội tản thương hoạt động
có qui củ. Tới ba giờ rưỡi thì “Lực lượng” bị áp đảo mạnh; xe tăng, máy bay tấn công ào ạt, tới tấp,
hàng ngũ “Lực lượng” rối bời, tán loạn. Anh Ấm Sứt hôm đó chạy trối chết. Anh chạy đến đâu, tưởng
như phi cơ gầm rít chận đầu đến đó. Dĩ nhiên, anh không chạy theo dấu thẻ tre. Cũng vì vậy, năm
hôm sau anh tìm cách mang mẹ già và vợ con về quận, rồi về tỉnh.

— Từ đó tới giờ anh chưa có dịp “học tập” thêm điều gì mới chứ?
Mọi người lại nghí ngố, lại cười ầm lên với những nhận xét đầy hào hứng thích thú về “Lực
lượng”.
Trước, học tập về những thẻ tre lật ngửa ruột, anh Ấm Sứt đã có sự đóng góp dù không đến nơi
đến chốn vào hoạt động “giải phóng”. Bây giờ, là thợ vịn, hẳn nhiên anh đang đóng góp một bàn tay
dù vụng về vào công cuộc tạo dựng căn cứ của người Mỹ. Hoặc năm trước anh gục ngã trên một bờ
ruộng nào đó, hoặc nay mai anh bị banh thây vì một quả mìn nổ chậm của đặc công chẳng hạn: một
anh Ấm có thể bỏ thây ở hai bên trận tuyến. Trước là xác địch, sau là xác ta. Đố ai biết nơi anh trước
sau có sự thay đổi gì trong “lập trường”? Cũng như giữa hai cậu con trai của ông bạn tốt bụng khăn
lông quấn cổ, kẻ chết do cối người chết do câu, đố ai biết được giữa địch ấy và ta ấy có gì khác nhau
trong “tư tưởng”?
Nhưng không phải vì lẽ không tìm được sự khác nhau mà bà con trong làng không giết nhau,
không chết kỹ. Giết nhau thật hung tợn, chết thật thê thảm.

Có phen tôi đã ngượng ngùng hổ thẹn vì sự hung tợn ở quê mình.
Hồi đó, hồi tháng tư năm ngoái, có vài tờ nhật báo phanh phui ra một vụ động trời. Ở xã nọ một
viên xã phó xử tử nhiều dân làng, trong số có cả những đứa trẻ chưa tới mười bảy tuổi. Trong thiên
điều tra rùng rợn, viên xã phó được mô tả là hung thần. Hung thần, tên Ngô Xuân H..., đã bị tóm cổ,
chắc chắn sẽ bị đền tội v.v...
Xã nọ, tôi biết: cách làng tôi không xa. Nhưng còn Ngô Xuân H... là ai vậy cà? Dù kẻ gây tội
không là thân thuộc, một tội ác quái gở như vậy xảy ra sát cạnh làng quê cũng làm tôi cảm thấy liên
lụy. Tôi lo lắng, hỏi quanh hỏi quất. Rốt cuộc, hôm ấy anh Ấm cho biết:
— Năm Hà đấy mà.
— Năm Hà? Ủa, anh ta tên Ngô Xuân H... đấy hả? Năm Hà có mụ vợ...
Tôi còn đang tìm một cách nói thì anh Ấm đã xác nhận:
— Thì đấy, thì đấy.
Hóa ra đó là hung thần, ai mà biết! Hồi nào tới giờ bà con làng nước vẫn quen gọi là Năm Hà, và
cái tên ấy có độ làm nở nhiều nụ cười ở chỗ địa phương. Về phần anh ta, Năm Hà không có vẻ gì hài

hước, cũng không hay cười cợt. Trái lại, anh ta trông khổ não. Người gầy choắt và đen, khuôn mặt
hóp lại: hồi hai mươi tuổi, tưởng chừng anh ta đã già tự bao giờ. Tôi không nghe anh Năm ho hen gì,
không hiểu sao anh ta lạc giọng, tắt tiếng: nói khàn khàn, gần như không phát ra âm.

Tôi không biết con người xấu xí nọ đã cưới được chị vợ ấy trong trường hợp nào. Chị Năm không
hẳn là một cô gái đẹp. Nhưng hồi nhỏ, trông chị ngon lành. Chị khỏe mạnh, ngồn ngộn. Da thịt chị
nõn nà, ửng hồng. Da thịt ấy như sáng lên, như hớn hở.

Không ai có thể bảo một chị vợ như thế là một điều bất hạnh đeo bên mình. Tuy nhiên người ta có
cảm tưởng một chị vợ như thế từ khi về với anh Năm Hà thì hóa ra một động lực thôi thúc đun đẩy
anh đến nhiều cố gắng mới, khiến anh thêm vất vả. Thật vậy, không có chị có lẽ anh vẫn thủ phận cày
cuốc cặm cụi; có chị tự dưng anh Năm bỏ công chăm sóc đến sự ăn mặc hơn, lại tự dưng phát sinh
một vài tham vọng, không chịu lép vế đối với bạn bè trong làng xã. Bấy giờ là thời kháng chiến, anh
Năm đi làm cán bộ, đi hội đi họp, tham gia công tác xã hội, công tác chính trị v.v... Dù phát âm khó
khăn, sau nhiều cố gắng anh cũng thành công về mặt ngôn luận, cũng thường được chú ý về sự phát
biểu tại các hội nghị.

Lối nói của anh có sự kiểu cách riêng: Tiếng “chuẩn” ở địa phương thường đọc sai ra “chửng”,
anh Năm thì sửa giọng cẩn thận và đọc là “chẩng”: “chẩng bị” sang tổng phản công chẳng hạn. Anh
đặc biệt thích chữ “xuyên qua”: “Xuyên qua” các ý kiến vừa phát biểu tôi nhận thấy..., “xuyên qua”
lời trình bày của chủ tọa hình như có sự mâu thuẫn v.v...

Nhà anh cán bộ Năm Hà tất nhiên có nhiều dịp tiếp đãi cán bộ các cấp. Một độ, có một trung đoàn
đến trú đóng tại địa phương, và một đại đội trưởng ở trọ nhà anh Năm. Ít lâu, anh nghe có lời thì thầm
về những liên hệ giữa chị Năm với cấp chỉ huy quân sự nọ. “Xuyên qua” kết quả dò la quan sát, anh
Năm Hà thấy có nhiều lý do ngờ vực.

Một hôm, giữa trưa, anh từ ngoài đồng về bất thình lình, trông thấy cửa buồng đóng kín. Anh lắng
tai nghe: có tiếng động bên trong. Anh Năm Hà choáng váng, bỗng nhiên đâm quýnh, vừa thấy mình
cần phải có một hành động lại vừa không biết mình phải làm gì. Bất giác anh áp mặt vào cánh cửa, cố
nhìn qua một khe hở. Không trông thấy được gì: khe cửa nhỏ quá. Anh xoay trở, nghiêng đầu sang
bên này, ngoẻo sang bên kia. Cuối cùng anh trông thấy. Chỉ thấy được một khoảng nhỏ xíu thôi. Anh
Năm Hà thấy một bàn chân đàn bà đang nằm, bàn chân của chị ấy. Trên mặt chiếu, bàn chân xuôi
xuống, cố hết sức chúc mũi xuống, như kiễng chân nhón gót. Bốn ngón chân quắp xuống, còn ngón
chân cái thì rướn cong lên. Nó rướn cong, ôi chao, quá sức nó, làm nổi cao một sợi gân. Trời, ngón
chân cái, nó rướn cong như cái đuôi con chuột trong cơn hấp hối, bị kẹp nát đầu trong chiếc bẩy, cái
đuôi oằn lên trước khi con vật chết hẳn... Anh Năm Hà cuống cuồng, run bấn. Cái gì vậy? Trước mặt
anh, ngón chân cái oằn lên... Anh Năm Hà nghẹn cứng ngang cổ, không thở được nữa. Cuối cùng, cổ
phát ra một tiếng hực, rồi nước mắt anh tuôn ra...

Sự việc hôm đó đưa tới nhiều rắc rối, và cuộc đời cán bộ của anh Năm gặp trở ngại. Anh Năm nản
lòng về sự hoạt động chính trị.

Mãi mười năm sau, dưới chế độ khác, anh mới lại ra làm việc làng trong hoàn cảnh bất đắc dĩ.
Bấy giờ anh đã là một người đàn ông đứng tuổi, lam lũ, cùn mằn. Lúc ấy tình hình an ninh ở địa
phương rất tồi tệ, nhiều thôn không có ai làm trưởng ấp, quận trưởng phải chỉ định một trung sĩ địa
phương quân làm trưởng ấp. Vào năm 66, 67 gì đó, một chủ tịch xã có chủ trương mới. Ông ta xin
quận cho lập trưởng ấp dân sự, từ chối quân quản. Được quận chấp thuận, ông ta về từng thôn, tập
họp dân chúng lại, nói: “Tôi biết quân quản không tốt, vì một số ấp trưởng quân nhân đã hoành hành
phá phách, thất nhân tâm. Vậy xin đồng bào đề cử người tín nhiệm ra làm trưởng ấp. Nếu không có ai
ra làm việc, hoặc không có ai đề cử, bắt buộc phải tiếp tục chế độ quân quản, bấy giờ đừng có ai trách
tôi không nghĩ đến quyền lợi và nguyện vọng đồng bào.”

Ấp trưởng được bầu cử ở những địa phương thiếu an ninh như thế thường thường hoặc là cộng
sản, thân cộng, hoặc lưng chừng, khiếp nhược, hoặc khù khờ, vô tích sự. Anh Năm Hà đã được dân
chúng chọn làm một ấp trưởng, không rõ anh thuộc hạng nào trong các thành phần kể trên.

Về phần ông chủ tịch xã, ông ta chỉ chú trọng đến hạng cộng sản và thân cộng. Ông ta đã có kế
hoạch đối phó. Thỉnh thoảng quận có thủ tiêu một số đặc công nguy hiểm. Những lần như vậy, chủ
tịch xã điều đình với quận trưởng: Buổi chiều, cho gọi ấp trưởng cầm súng chỉ huy một toán nghĩa

quân áp giải nạn nhân về ấp trước mắt dân làng; tối đến, có tiếng súng nổ; sáng ra, gọi dân đi chôn
xác. Như thế, dẫu cho ấp trưởng thoạt tiên có là tay sai cộng sản đi nữa, dần dà cũng bị chúng ngờ
vực. Sợ hãi, ấp trưởng ngã về phía chính phủ, chạy về xã, về quận để nương tựa. Họ xác nhận sự ngờ
vực của cộng sản, họ bị chúng đeo đuổi, đe dọa: do đó họ càng quyết liệt chống trả để giữ mạng sống.

Anh Năm Hà là một ấp trưởng như thế. Anh bám riết vào việc làng việc xã; sau một thời gian, anh
được thăng lên xã phó phụ trách an ninh.

Và tình hình an ninh, ở chỗ địa phương anh, thì không hề sáng sủa thêm. Chung quanh anh, cộng
sản đầy dẫy. Hành quân đến, chúng trốn chạy tan biến; hành quân xong, chúng lại xuất hiện, khủng
bố. Có lần, chín giờ mai, ba tên kéo đến văn phòng xã quất một băng AK, ném hai trái lựu đạn. Lần
khác, nửa đêm, hai tên ập vào nhà, tóm được anh Năm, lôi đi; giữa đường, anh thoát chạy, chỉ bị một
phát đạn làm gãy mất cánh tay trái. Lại có lần khác nữa, chúng cho trẻ con đặt mìn trong ngăn kéo
bàn giấy của anh; chúng phục kích anh ở một khúc đường vắng, gần nhà v.v...

Trung đội nghĩa quân sống chết với anh suốt mấy năm hao hụt đã quá nửa, riêng anh thì tàn phế.
Anh với họ không ngớt tả xông hữu đột để giành lấy mạng sống. Anh rình rập, bắn giết, anh bắt, anh
xử v.v... Trong số nạn nhân của anh, đàn ông có, đàn bà có, trẻ con cũng có. Trong nguy hiểm, anh
phản ứng quyết liệt, có lẽ bừa bãi. Trong cảnh sống hỗn loạn, anh xài thứ luật rừng.

Anh Năm đã may mắn sống còn, đã vượt qua ba năm kinh khủng nhất. Đến khi an ninh được vãn
hồi, trục lộ giao thông đã an toàn, xe lớn xe nhỏ đã chạy về tới xã, cán bộ từ tỉnh từ quận đã lui tới,
đầu tháng một phái đoàn cuối tháng một phái đoàn thượng cấp về thăm cơ sở v.v... Lúc bấy giờ bèn
có thiên điều tra, có vụ truy tố.

Anh Năm Hà bèn hóa ra một hung thần quái gở, ghê tởm trước dư luận.
Hãy tưởng tượng anh Năm trước tòa. Xấu xí, khù khờ, người quắt queo, má hóp, tay cụt, kỳ hình
dị dạng như anh, đứng giữa cảnh uy nghiêm của pháp đình, giữa những quan tòa và trạng sư trang
trọng, chỉnh tề, giữa đám ký giả phóng viên nhanh nhẹn hoạt bát v.v..., anh sẽ gây nên cảm tưởng
thảm hại và gớm ghiếc biết bao về một hung thần. Được lôi từ một làng quê hóc hiểm như thế, từ một
hoàn cảnh tranh sống man rợ như thế, ra chỗ đô thị văn minh, đặt trước sự hạch hỏi phán xét của luật
pháp tinh vi, anh sẽ cuống quít biết chừng nào. Lý lịch của anh sao mà kỳ cục, đáng ngờ: lúc phục vụ
bên này lúc lại hoạt động cho bên kia; thái độ, hành tung mập mờ, khó hiểu, mâu thuẫn...
Và con người xấu xí, bí hiểm, hung ác đó lù lù giữa tòa, đang nghiền ngẫm những gì trong đầu óc
tối tăm của anh ta? Anh đang nghĩ đến một cuộc phục kích ban đêm? một vụ hạ sát ban ngày? đến
phát đạn cắt cụt cánh tay ngày nào? đến ngón chân của chị vợ năm xưa? Anh ta đang nhớ đến làng
xóm, đến khu vườn do tổ phụ di lưu? đến những “dừa cao lỏng khỏng cành xoan ngòng ngoèo” đó
chăng?
“Xuyên qua” một cuộc đời ngổn ngang như cuộc đời của anh có thiếu gì điều để anh suy nghĩ,
nhưng tất nhiên anh không thể suy nghĩ về những lập luận để đối đáp bào chữa trước tòa. Sức mấy!
Anh mong gì ngo ngoe nổi trước pháp luật? Hung thần khiếp hãi, trông lên các quan tòa: những vị
thông minh, tuấn tú, có vị trẻ măng, mơn mởn, tất cả đều đường hoàng, chững chạc, tất cả thuộc về
một thế giới khác. Mà quả họ đến từ một thế giới khác, họ có đời sống khác hẳn của anh. Trong khi
anh Năm Hà lặn ngụp trong sắt máu, trong cảnh giết chóc dã man, thì những vị đó lớn lên ở những đô
thị an lành, học ở những trường đại học trong nước hay ngoài nước, nghiên cứu về luật pháp, về phép
trị nước, về nguồn gốc các chế độ dân chủ v.v... Nơi xảy ra giết chóc hỗn loạn dã man không phải là
nơi nghiên cứu, không liên quan gì đến các vị ấy. Chỉ đến bao giờ có sự thái bình, hết hỗn loạn hiểm
nguy, thì các vị đó trở về, lại nắm quyền cai trị, để khiến phép nước được tôn trọng, để đem sự hiểu
biết rành rẽ về hành chánh ra ứng dụng và dạy dỗ những cán bộ hạ tầng khờ khạo, đem luật pháp ra
xét xử những lầm lỗi bấy lâu v.v...
Và anh Năm Hà, lầm lỗi chất chồng đầy đầu, bấy giờ hẳn là run lên. Một lúc nào đó, đến tột cùng
của khiếp hãi, chắc chắn anh sẽ hức lên một tiếng, và nước mắt tuôn trào.
Anh đã không chịu rời bỏ làng, nên ra nông nỗi. Hung thần sẽ đền tội. Đó là phận của anh.
Còn chị Năm? Ở làng, trong những ngày hãi hùng đầu tháng sáu này, chị còn? chị mất? Nếu mất,
chị chết vì đạn cối vào hay vì đạn câu ra? thân chị được kể làm xác ta hay xác địch?

Những ngày hãi hùng đầu tháng sáu, nghĩ đến làng, tôi thấy sao mà làng càng xa, càng đầy bí ẩn.
Chỉ biết nhớ làng, không “thấy làng đâu”, cũng không mong “hiểu nổi làng đâu”.

6 - 1972

1 Sau này, đọc hồi ký Yến Lan, nhớ mãi về anh của Nguyễn Thị Lan (tức bà Yến Lan), được biết
bài ‘Nhớ làng’ viết ở Thanh Hóa (nơi Yến Lan đang dạy học) vào năm 1942. Như vậy thi sĩ trông
cảnh làng ở tỉnh Thanh mà nhớ làng mình. (Ghi chú năm 2005 — V.P.).

2 Năm 1972 (Ghi chú năm 2001 — V.P.).

Hạt Bọt Trà

“Dịch thể ngạnh ngọc bào”: tôi lấy làm suy nghĩ về chữ “bào” rất nhiều.
Ca tụng cái bọt của chất nước ngọc? Trà là nước ngọc? Tốt lắm, nhưng còn chút bọt kia, nó giữ
vai trò gì ở đây? Ai cũng biết trong chén trà Tàu bé bằng hạt mít, bậc đài các chỉ thưởng thức cái
hương và cái vị của một hớp nước mà thôi. Làm gì có bọt bèo trong đó? Bọt bèo rườm rà cũng không
có cả trong chén trà bột của người Nhật. Vả lại dù có dăm ba hạt bọt, thì đó đâu phải là một yếu tố
làm nên giá trị của trà? Nói đến làm gì?
“Khát uống trà mai hương ngọt ngọt,
Giấc nằm hiên nguyệt gió hiu hiu.”
Đó, nói như cụ Trạng Trình thế là đúng điệu: Thưởng trà, khách tao nhân chú trọng nhất cái
hương.
Còn ham trà đến như ông Lư Đồng, uống trà mà ngon trớn đến như ông ta — làm luôn một hơi
bảy chén, đến nỗi gió dậy dưới nách ào ào1 — thế mà Lư Đồng cũng không một lần đề cập đến bọt trà.
Có thể ngờ rằng những hạt bọt trong chén trà Tàu đã tan đi từ mười lăm thế kỷ rồi. Các lối uống
trà khuấy (mạt trà) thịnh hành ở Nhật Bản, hay trà ngâm (diệp trà, tiễn trà, yêm trà) như ở Trung Hoa
từ đời Minh về sau, đều không đếm xỉa đến bọt. Họa chăng hạt bọt được quí chuộng vào thời kỳ xa
xưa của trà bánh (đoàn trà) nấu với đủ các món gia vị lủng củng, nào gừng, nào hành, nào vỏ quít, nào
muối đó chăng?
Dẫu sao một hạt bọt trà dính trong câu thơ Tàu lưu lạc từ hơn nghìn năm xưa quả không đủ sức
làm dâng lên sự suy tưởng trong một trí óc nặng nề. Sở dĩ tôi đã đâm ra nghĩ ngợi chỉ vì những hạt bọt
nọ còn dính trên mớ râu của một ông cụ người cùng làng, cách đây không lâu.

Trong chỗ dân dã ở thôn quê miền Trung, người ta gọi nó là Chè, mà không gọi là Trà. Uống Trà
Tàu là cái thú của hạng giàu sang; người bình dân thì uống Chè Huế.

Trà Tàu, pha theo lối Tàu. Chè Huế nấu lối Huế. Lối Huế không giống lối nấu chè tươi hay chè
khô ngoài Bắc. Từ Huế, lần vào các tỉnh nam Trung phần, lối nấu chắc chắn cũng có thay đổi ít nhiều;
vì vậy các quán nước chè bên đường ngoài Huế thường thấy có một chai nước cốt trữ sẵn, món đó
không hề có ở vùng Nam Ngãi Bình Phú...

Trong bếp của mọi gia đình ngoài Trung đều có đủ hai món đồ gốm dùng để nấu nước: cái ấm và
cái om. Om dùng cho chè Huế.

Chiếc om, hình thù nó như một trái sim lớn: nó tròn quay và miệng loe ra (như tai sim). Vì om
không có quai như ấm, như nồi, siêu, xoong, chảo v.v... cho nên để nhắc nó người ta không thể dùng
đôi đũa bếp: phải dùng cái cặp.

Cặp om là một thanh tre cật, dài non sải tay, uốn cong gập làm đôi, vòng cong vừa ôm khít chỗ eo
của miệng om.

Có om có cặp, thế là đủ. Bỏ một vốc lá chè khô vào om, đổ nước vào, nổi lửa lên. Nước sôi, sắp
trào ra, thì lập tức chế thêm tí nước lã vào để trấn nó xuống. Một chốc nó lại sôi bồng lên: lại tí nước
lã nữa. Ba bận, bốn bận như thế... Cần nhất phải kiên nhẫn: lửa không nên cháy hỗn quá, nước chế
thêm không nên nhiều quá, mỗi lần chút ít thôi. Có thế chè pha ra bát mới tốt bọt được.

Chè nấu xong đến chuyện pha nước. Bát bày sẵn bên bếp, trước tiên cho vào bát độ sáu bảy phần
mười nước lạnh. Xong, dùng cây cặp nhắc om lên, rót nước chè sôi vào bát cho đến đầy.

A! Cái công việc rót nước ấy là cả một nghệ thuật đấy. Hạ om thấp quá thì bát chè ít bọt: đưa lên
cao quá thì sẽ làm nổi lên những quả bong bóng to tướng. Bát nước kém bọt là hỏng, đã đành. Mà bọt
nổi bong bóng lớn cũng là chuyện vụng về mà người nội trợ tự trọng phải cố tránh. Kẻ pha nước
thông thạo biết chọn đúng cao độ cho om nước, biết rót xuống một dòng nước vừa phải, không
nghiêng trút mạnh quá khiến bọt không tụ được, lại còn biết di động miệng om để phân phối bọt cho
đều khắp, biết ngắt dòng nước đúng lúc để rồi rót thêm chỗ này một chút chỗ kia một tí, bổ di kịp thời

vào những khoảng trống không đẹp mắt v.v... Đến khi mọi sự đã viên thành, kẻ ấy gặc miệng om một
cái trước khi ngừng tay, biểu diễn sự hài lòng trong cử chỉ chấm dứt.

Bát nước ngon lành phải thật nhiều bọt, đầy bọt, bọt hầu như phủ kín mặt nước, thứ bọt dẻo quánh
lại, và nhỏ hạt.

Pha một bát nước vừa ý rồi mà phải đứa bé bưng nước không cẩn thận cũng đáng bực mình lắm.
Bưng bát nước đầy thế nào từ dưới bếp lên đến nhà trên trao cho ông khách mà bọt không sánh ra
ngoài, mà mặt nước không dao động đến nỗi làm vỡ bọt: được thế mới gọi là không phụ công phu kẻ
nấu và pha nước.

Đến đây đã rõ: Bao nhiêu công phu như đều dồn vào một chủ đích: “... ngạnh ngọc bào”.

Ông khách đón nhận bát nước, bưng trên tay, nhìn vào đám bọt tràn trề sung mãn mà không cầm
lòng được. Bọt nước long lanh rạng rỡ phản chiếu khuôn mặt khách, lặp lại một vạn lần cái rạng rỡ
ánh lên trong mắt khách. Nghịch ngợm, khiêu khích nhau đến thế thì không chịu được. Khách cúi
đầu, chọn lựa một điểm thế thích nghi, chúm miệng thổi nhẹ để xua đuổi lũ bọt nước tránh giạt ra, dọn
một khoảng trống vừa đủ chỗ đặt môi. (Dĩ nhiên, không một ai tính chuyện đớp mớ bọt nọ vào bụng!)

Bị đuổi, lũ bọt vội vàng vẹt tránh ngay. Nhưng hễ khách vừa nhúng môi xuống thì tất cả bọn
chúng liền ập tới, bám riết quanh mép. Mực nước càng xuống thấp chúng càng rủ nhau kéo đến dồn
dập, chen nhau lấn nhau, vỡ nổ lèo xèo trên môi trên mép của khách.

Có thể khách không hay biết về những gì xảy đến cho lũ bọt: Khách đang ngon trớn mà. Và tất cả
sự khoái thích của việc uống chè Huế là ở trong cái trớn ấy.

Bát nước đã có lót đến sáu, bảy phần nước lạnh cho nên pha đầy nước dù đang sôi vào nó vẫn
không quá nóng. Nó không như chén trà Tàu. Nó chỉ nóng vừa đủ cái độ khiến khách có thể uống ồng
ộc một hơi, uống luôn không dừng, không ngẩng mặt lên, không rời môi khỏi miệng bát, cho đến cạn
bát mới thôi. Mà bát chè Huế thì phải biết nó là những thứ bát khổng lồ. Hồi tiền chiến, người ta dùng
bát Bài Thơ, bát Con Rồng: Một bàn tay xòe rộng chỉ che vừa miệng bát. Trong thời kháng chiến,
nhiều gia đình thiếu thốn phải dùng đến những cái “vùa” đất: vùa chỉ thua bát ở nước men chứ kích
thước không thua sút tí nào. Bởi vậy cái ngon của trà Tàu là cái ngon tiểu vẻ của hạng phong lưu đài
các, cái ngon cầu kỳ kiểu cách của một chút vị ngọt ở chót lưỡi, chút hương thoảng qua mũi v.v...;
còn cái ngon của chè Huế thì phàm tục thô bạo hơn, nhưng nó là cái ngon khỏe mạnh, thích hợp với
bản chất nông dân lao động.

Trà Tàu để nhấp từng tí, là thứ trà của sự suy tưởng mơ màng. Còn chè Huế, không ai uống nó mà
uống từng hớp rời. Đã tợp vào là cứ thế thừa thắng xông lên ào ào, cứ ráo riết dồn dập cho đến cùng.

Mà đến tận cùng một bát Con Rồng thì bảy chén trà con của Lư Đồng thấm vào đâu. Khách mà
uống xong một bát chè Huế thì — theo ngôn từ nhà thơ Trung Hoa — dưới mỗi bên nách tất phải nổi
lồng lên một trận bão. Và — theo cái lối mệnh danh của thời đại — có thể dưới nách bên này là một
trận Hélène, bên kia là Jackie chẳng hạn.

Uống chè như vậy đâu đến nỗi vô vị?

Ở chỗ thôn quê nghèo nàn ngoài Trung, trong cái xã hội của hạng sống lam lụ quanh mình, tôi
chưa được nghe câu chuyện nào liên quan đến cái giới uống trà Tàu. Đây đó chỉ nghe toàn những giai
thoại về chè Huế. Anh Ba Càng Cua mỗi sáng nhất định phải điểm tâm một bát thật đậm rồi mới ra
đồng cày bừa được, mà hễ đã uống nước rồi là khỏi cần ăn; ông Tư và ông Tam Khoang vẫn cầm cự
nhau suốt ba mươi năm nay: ông này mỗi lần hai bát thì ông kia cũng vẫn giữ vững đủ hai bát mỗi
lần; ở làng nọ có người uống một lượt đến ba bát Bài Thơ; thôn kia có ông lão hai bát gặp được chàng
trai hai bát rưỡi, lấy làm khoái, gả ngay con gái cưng cho v.v... Lại cũng không hiếm những câu
truyền tụng về các bậc dị nhân ở tổng này huyện nọ uống một mạch hoặc bốn bát, năm bát nước, hoặc
cả om nước, hoặc nửa vò nước v.v..., nhưng tôi ngờ rằng những chuyện đó thuộc về huyền thoại.

Dầu sao trong thôn dã có huyền thoại về chè om, về anh hùng chè lá, thì đủ biết om chè đã có địa
vị nào đó trong cuộc sống tinh thần của dân gian.

Riêng đối với ông Tam Khoang, nó có vai trò trong cuộc đời tình cảm. Cũng như phần đông các
tay cao thủ chè om, ông Tam Khoang có vóc người dềnh dàng, lực lưỡng. Trong chỗ xa tít nhất của

ký ức tôi, ông đã có hai chòm râu mép. Ngày nay, trên bảy mươi tuổi già, ông cụ bạc trắng cả râu mép
lẫn râu cằm.

Hồi tôi còn nhỏ, mỗi lần ông đến nhà, tôi thường lãnh việc bưng nước để được xem ông uống.
Ông thong thả, chững chạc, trông không có vẻ gì là một người đang khát. Bưng tô nước lên tay, bao
giờ ông cũng ngừng lại ngắm qua một chút để đánh giá; nếu có đàn bà trong nhà ngồi gần đâu đấy,
ông không quên bình phẩm vắn tắt vài lời. Rồi thì bắt đầu: từ từ, không chút vội vã, ông uống cạn một
bát, bình thản chờ đợi, rồi lại uống cạn một bát khác... Khi ông Tam Khoang ngẩng đầu lên lần thứ
hai thì rất nhiều bọt trắng đã đeo lấy hai vệt râu mép. Tôi thích chí, chỉ chỏ: ông nở một nụ cười hiền
lành, đưa tay áo quệt ngang một cái, rồi dùng hai ngón tay — ngón cái và ngón trỏ — vẹt sửa lại bộ
râu.

Tôi chắc chắn không có một lần uống nào ông không bị lũ bọt chè quấy rầy bộ râu ấy; nhưng
cũng không có lần nào đối với chúng ông không có cử chỉ khoan hòa.

Trước con mắt trẻ thơ của tôi bấy giờ, một con người đã thực hiện cái kỳ công là nuốt trọn hai bát
nước to tướng như thế, với một vẻ vừa đĩnh đạc khả kính lại vừa giản dị khiêm nhường như thế, có vẻ
đẹp riêng. Tôi ao ước mơ tưởng một ngày nào đó trong đời có thể học được cái phép làm một dị nhân
từ tốn độ lượng kiểu ấy, để cho lũ bạn bè chúng nó lác mắt ra, vừa kinh hãi vừa cảm phục trong lòng.
Cho đến ngày nay thì tôi đã chắc chắn đến mười phần là trọn đời mình không sao có được cái phép lạ
ấy trong khi ông Tam Khoang vẫn đều đều mỗi ngày tái diễn ba bốn lần.

Do đó, tôi hoàn toàn cảm thông cái tâm sự của bà Tư. Bà có người chồng xuất sắc: ông Tư có tài
uống một hơi hai bát chè. Nhưng bà không cầm lòng được trước phong thái của ông Tam Khoang. Từ
hơn ba mươi năm trước, trong chỗ chòm xóm với nhau người ta thường gặp ông Tam Khoang đến
chơi nhà ông Tư, chủ khách mỗi đàng hai bát nước xong, mặt mày thỏa thuê tươi rạng, đàng nào lặng
lẽ mân mê ve vuốt râu mép của đàng ấy... Tất nhiên không phải là một cuộc đấu râu. Đây là sự gặp gỡ
của hai kẻ đàn ông nơi lòng mến mộ của một người đàn bà.

Đối với mối tình tay ba ấy bà con làng xóm không có lời chỉ trích nghiêm khắc, chỉ có những giễu
cợt khúc khích. Mối tình cứ thế kéo dài suốt ba, bốn chế độ chính trị, suốt đôi ba mươi năm ly loạn.

Cho đến ba năm trước đây thì xảy ra một biến cố: gia đình ông Tam Khoang quyết định tản cư lên
tỉnh lỵ, gia đình ông Tư ở lại làng.

Thật là tan tác, bi ai. Tuy nhiên rồi sau đó người ta thấy rõ lòng người vẫn thắng nghịch cảnh: đôi
ba tháng một lần ông Tam Khoang tìm được dịp về làng, ghé chơi nhà ông Tư.

Ghé chơi ông Tư, một mặt công khai chủ khách hể hả uống bốn bát nước chè, một mặt kín đáo
ông Tam Khoang giúi cho bà Tư hoặc một xấp lãnh nhuộm đen bằng mặc nưa ở biên giới, hoặc một
cái quần xa-teng Mỹ A v.v... Chỗ tỉnh lỵ coi vậy mà có lắm sáng kiến cung cấp cho ông nhiều lý do
chính đáng để ông quyết định những chuyến về làng mạo hiểm. (Phải, đã ra tỉnh lại trở về làng là một
chuyện nguy hiểm mà đám con cháu ông Tam Khoang tìm mọi cách để can ngăn.)

Ông Tam Khoang mạo hiểm hơn một năm trời như thế rồi thì rốt cuộc gia đình ông Tư cũng dọn
lên tỉnh. Lại đề huề, lại sum vầy.

Ôi, cái cảnh sum vầy mới ngộ nghĩnh làm sao. Trong chuyến gặp nhau gần đây nhất, tôi được biết
bây giờ giữa hai ông cụ có sự khắng khít như chưa bao giờ mật thiết đến thế: không ngày nào ông
Tam Khoang không có mặt tại nhà ông Tư đủ hai buổi sớm chiều.

Có thể giải thích rằng trong cảnh xa lạc xóm làng những cụ già bơ vơ giữa đô thị thường tìm đến
nhau như tìm về dĩ vãng của mình. Nhưng lý do cụ thể hơn hết, lý do sờ mó được, ấy là chiếc om chè.

Đúng thế, cách đây nửa năm, chiếc om nhà ông Tam Khoang bị vỡ, và ông không thể tìm mua ở
đâu cho được chiếc om khác thay thế. Om đất bây giờ đã biến mất trên thị trường. Om đất đã chết
không kèn không trống, không một lời báo trước; vì vậy không ai được biết để mà phòng bị, tích trữ.
Và một người đã uống chè Huế hơn nửa thế kỷ như ông Tam Khoang chẳng lẽ nay lại đi nấu chè
trong cái niêu đồng? Vậy sự hiện diện thường trực của ông tại nhà ông Tư là một sự chính đáng.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc sống, mặc dù cảnh đời ly loạn, hai ông cụ vẫn tiếp tục
ngày ngày cúi xuống thổi những tảng bọt ngon lành nổi trên bát nước trao lên từ đôi bàn tay thân yêu
nhăn nheo: cứ như thế họ hưởng hạnh phúc. Tôi hỏi thăm:

— Thưa, các cụ vẫn uống được hai bát như xưa...

Hai ông cụ tranh nhau đáp:
— Cám ơn ông Hai. Nhờ trời vẫn đủ hai bát mỗi lần.
Trên môi ông Tam Khoang nở một nụ cười kín đáo, man mác. Tuy vậy người ta cũng nhận thấy
về già ông mất đi cái khiêm nhường đáng yêu của một người tự tin: về già — dù kín đáo — ông lại
không giấu được một chút kiêu hãnh.

Sự mất tích của chiếc om đất không chỉ có tác dụng làm khắng khít một mối tình già. Tôi lo rằng
sự mất tích ấy cũng có thể gây ra đôi điều không hay.

Không phải các dân tộc nhất thiết phải gìn giữ mãi mãi các phong tục ăn uống. Trong lịch sử,
người Trung Hoa đã lần lượt trải qua những cách uống trà khác nhau hoàn toàn; có sao đâu? Lại còn
nhờ thế mà họ tiến được đến những bình trà Thiết Quan Âm, Bạch Mao Hầu v.v... danh tiếng ngày
nay, chắc chắn là hơn hẳn món trà uống với muối gừng xưa kia.

Nhưng trong trường hợp của chè Huế, dường như đây không phải là một biến chuyển để tiến tới.
Trái lại.

Đất Bình Định từng ghi được nhiều thành tích về trà. Trong cuốn sách viết về chỗ quê hương, thi
sĩ Quách Tấn có nói đến thứ khổ trà ở miền An Lão Hoài Ân, thứ trà quí được vua chúa thích một
thời. Trong đoạn hồi ký về chuyến ghé Nam kỳ năm 1778, một nhà hàng hải người Anh tên Chapman
đã chú ý đến ngành buôn bán trà đang hồi cực thịnh tại đây: từ hải cảng Qui Nhơn cho đến hoàng
thành của Nguyễn Nhạc, dọc đường nơi nào cũng thấy những cửa tiệm bán trà.

Có lẽ cả thứ trà dâng cho vua Nguyễn Gia Miêu cũng như thứ trà thịnh phát dưới triều Nguyễn
Tây Sơn đều là trà pha chế lối Tàu. Còn chè Huế sau này thì không còn ai dâng vua, cũng không hề
được bày bán trong tiệm: người ta chỉ bán chè Huế ở chợ, hay bán rong dạo xóm dạo làng...

Thời của trà vua chúa đã qua, đến thời của chè om cho dân dã, cũng được chứ sao. Nhưng bây giờ
om cặp lại mất tích, rồi sắp hóa sinh ra thứ chè gì nữa đây? Cứ sự thể này thì hình như chè om tính đi
luôn vào lịch sử không để lại thừa kế, không lưu vết tích. Thay thế cho nước chè, rồi sẽ có những thứ
khác, thiếu gì. Các người làm văn hóa dân tộc đang ngậm ống nhựa hút tùn tụt những ly pepsi, coca
v.v... không thấy đó sao? Thật tốt, thật hợp vệ sinh.

Có điều một người Nhật Bản, ông Okakura Kakuzo, đã mỉa mai nhẹ nhàng một vị huấn cổ học giả
đời Minh bên Tàu khi ông này lúng túng không biết giải thích thế nào về hình dáng chiếc “trà tiễn”
được nói đến trong một tác phẩm đời Tống. Sự lúng túng ấy gần mang ý nghĩa sỉ nhục, khi một bậc trí
thức Trung Hoa quên mất cả phong tục tập quán của dân tộc mình sau một thời gian bị quân Mông Cổ
cai trị.

“Trà tiễn” là món có công dụng rõ rệt mà người đời còn quên nó, huống hồ “trà bào”! Thật vậy,
cái om, cái cặp, và đặc biệt là cái bọt chè, rất có thể là những tai họa cho các vị huấn cổ học giả nước
nhà trong tương lai. Năm ba mươi năm sau, nói đến sự thích thú trước một bát nước chè đầy bọt thì
còn hiểu thế quái nào được? thì các bậc học giả dám ngẩn tò te lắm chứ.

Trà tiễn để mà khuấy, chứ còn bọt chè dùng để làm gì? Không uống được, không ngửi được,
không nếm được v.v... nó thành ra cả một sự bí hiểm, một sự thách đố đối với các nhà nghiên cứu.
Ẩm giả yêu bọt chỉ vì bọt sao chớ? Cũng như nghệ thuật vị nghệ thuật vậy sao?

Bởi thế, trước khi bọt chè tan vỡ tiêu tùng hết, nên có đôi lời ghi chép về chút chuyện bọt bèo.

12 - 1972

1 “Thất uyển khiết bất đắc, duy giác lưỡng dịch tập tập thanh phong sinh” (Trà ca).

Mùa Xuân, Con Én

“Mùa xuân con én đưa thoi”
Nguyễn Du

Người ta vẫn có một cách chăm sóc các giống vật bằng... từ ngữ. Được chăm chút thì con heo còn
là con lợn, trong loài có heo nái, heo nọc, heo lứa v.v...; con bò sinh ra con bê, con nghé v.v... Xa cách
cuộc sống con người, như công như nai..., đâu có được hưởng nhiều từ ngữ đến thế.

Có chú ý đến mới có nhiều phân biệt, có phân biệt mới cần đặt ra nhiều tiếng gọi. Nếu sự thực
quả có vậy thì con én ở ta đáng thương quá chừng: người Việt Nam không quan tâm đến nó chút nào.

Con sâu cái kiến đều có tên, nhưng con én không có tên gọi. Mãi đến khi tiếp xúc với dân tộc
Trung Hoa, ta mới mượn của họ chữ yến mà gọi bừa đi.

Bừa thực chứ: con hirondelle, con sterne, con salangane v.v... của người Pháp, đối với ta đều là
én tất. Về sau này, loài chim trắng có, vàng có, nâu có, loài serin, canari theo tiếng Pháp, đối với ta
cũng là yến nữa! “Én”, “yến” tuốt hết, bất cần phân biệt.

Người Tàu, đối với con yến, họ có những lối gọi mô tả: huyền điểu, du ba điểu, ất điểu. “Con
chim đen”, “con chim giỡn sóng”, “con chim bay lăng quăng”. Không yêu nó, không theo dõi hình
dáng, màu sắc, điệu bay của nó với con mắt âu yếm thì không thể có những tên gọi như vậy.

Còn chúng ta, đáng “yêu” như cái tổ yến mà chúng ta cũng không thèm “chi” cho một từ ngữ.
“Yến sào”, người Tàu gọi sao ta gọi vậy, thế thôi. Ta cứ gỡ bán đều đều, cứ xơi đều đều, mà không
cần gọi tên.

Một cái tên gọi cũng không có, cho nên con én ở xứ ta chẳng được tìm hiểu bao nhiêu.
“Mùa xuân con én đưa thoi”. Nhà thơ nói vậy là nói về con én bên Tàu. Ở xứ lạnh, mùa rét én đi
mùa ấm én về; chứ còn ta mùa nào mà chẳng có én quanh mình? Ở các bờ biển Quảng Nam, Bình
Định, Khánh Hòa, người ta gỡ tổ yến đợt chót cho đến cuối tháng bảy âm lịch mới xong.
Én ăn gì, ta cũng không biết. Ta gọi một thứ én muỗi, một thứ én... cỏ! Có người bảo nó ăn rau
câu ngoài bể, cho nên tổ nó giống như kết bằng rau câu. Có người bảo nó ăn bọt bể. Lại không biết có
người nào đó thuyết phục ông cố Alexandre de Rhodes rằng con én Khánh Hòa nó tìm hút nhựa cây
trầm hương, cho nên tổ của nó thơm tho! Vất vả thay con én Khánh Hòa!
Cái ăn đã thế, cái chết của én càng bí mật. Những người thợ lấy tổ yến, sống chín tháng mỗi năm
ngoài đảo cô quạnh, từ năm này sang năm khác, đều ngơ ngác hỏi nhau: Én nó chết ở đâu nhỉ? Những
con én già nó xuống nước trở về làm bọt nước chăng? Nó lên trời theo ông Thiên Vương Phù Đổng
chăng? Không ai ăn thịt én, sao mà cũng chẳng ai thấy xác én? Họa hoằn mới có một con én chết vì
tai nạn bên tổ, thì xác nó không rữa không thối mà khô đét lại như xác ướp các ông vua Ai-cập: cái gì
lạ vậy?
Thế rồi lại còn giấc ngủ của loài én. Có ai trông thấy một con én nhác nhớn ngủ vào giờ nào
chăng? Những người làm nghề giữ tổ yến, bóc tổ yến, sống với yến nhiều năm vẫn bảo rằng yến làm
tổ ríu ra ríu rít suốt đêm, còn ban ngày nó bay vụt ra ngoài khơi biền biệt.
Chim đêm là nó, chim ngày cũng là nó. Nó sống vội sống vã. “Bỉnh chúc dạ du”, nhà thơ có ý
thức nhất về cái ngắn ngủi của kiếp sống cũng không vội vã hơn con én.
Cái ăn cái bay của loài én đã làm tôi khoái nó muốn chết hồi thơ ấu.
Trên ruộng lúa tháng ba vừa cắt xong, không biết én nó tìm đớp con muỗi con mòng hay con sâu
con bọ gì mà nó bay thật thấp, nó ngoặc những đường tới lui thật bất ngờ. Trông én bay chừng vài ba
chục con như thế, nó rộn ràng, vui không chịu được: đứa trẻ tiếc mình không cánh, nôn nao cả ruột
gan. Én nó bay ngang tầm tay, hay thấp dưới đầu gối, từ xa nó lao tới như muốn đâm ngay vào bụng
mình, đột nhiên nó lách qua một bên. Lúc nào đứa trẻ cũng tưởng có thể chộp lấy một con én dễ như
chơi, nên múa tay khoa chân lung tung, nhưng dĩ nhiên không bao giờ xảy ra cái chuyện hoang đường
trẻ bắt én bằng tay không giữa đồng! Không có đâu.

Dù không bắt được cũng không giận được. Đứa trẻ bị én nó trêu chọc vẫn có cảm tình với loài
chim trời duy nhất biết đùa giỡn, nghịch ngợm, “chịu chơi”.

Bay hình chữ ất là bay một cách đáng yêu như thế.
Đến như giờ giấc sinh hoạt của én, về sau này lớn lên, đi đây đi đó, tôi không ngớt ngạc nhiên.
Sau một ngày đường vất vả, đến một thành phố lạ, bạn vất hành lý ở lữ xá, dạo xem mấy đường
phố qua loa, ăn tối, rồi đánh một giấc li bì. Nếu tại lữ điếm, dưới mái ngói mà có một đàn én, thì cái
lúc thức giấc của bạn vào buổi sáng hôm sau sẽ là tuyệt vời.
Đêm lữ thứ mà gặp nhà trọ nuôi bồ câu, thì mờ sáng khách sẽ rầu thúi ruột về cái tiếng rì rầm,
đùng đục, cái lối âu yếm rầu rĩ, làm hỏng cả buổi bình minh. Trái lại, tiếng én kêu là cả một sự tưng
bừng. “Chrirr... chrirr...” Én kêu như thể ta chụp mạnh tay xuống một con chút chít, đệm không khí
vồng lên, dội lên, rung rung. Như thứ lò-xo âm thanh khua rung không gian.
Năm giờ, năm rưỡi. Một lúc nào đó, trời hãy còn tối, nhưng én nó đã bắt được tin vui, đã chộp
được dấu hiệu bình minh. Thế là “chrirr.. chrirr...” Ban đầu thưa thớt một con én, vài con én kêu. Rồi
mỗi lúc sự hưởng ứng mỗi rộng rãi, khắp trời.
Bạn xô một cánh cửa sổ, nhìn ra: Vẫn còn tối. Trên bầu trời hãy còn tinh tú nhấp nháy, không thể
phân biệt tăm dạng một bóng chim nào, tất nhiên càng không thể trông thấy một dáng én tí tẹo. Nhìn
xuống phố xá hãy còn vắng tanh. Bất quá ở một bãi đất trống, ở một góc đường, thơ thẩn mấy con chó
con mèo... Thế mà én đã rộn ràng.
Thế rồi, một lát sau, sinh hoạt thành phố mới bắt đầu bằng tiếng rao hàng của mấy đứa trẻ: “Mì
nóng đây! Mì ngọt, mì lạt!”, bằng bóng người chệt già lom khom đạp chiếc xe, miệng hít mạnh một
khói thuốc cho ấm, chở đi không biết món hàng cồng kềnh gì sau poọc-ba-ga... Rồi tiếng xe gắn máy,
tiếng cửa lùa mở từ đầu phố này đến cuối phố nọ... Thành phố đã tỉnh dậy, dưới đất.
Trên trời, én như được khuyến khích, như đắc thắng, càng ríu rít hơn. Bây giờ trên nền trời xanh
bạc đã trông thấy những cánh én lao tới lao lui, rộn cả lên. Chrirr... Chrirr... nó cuống quít, nôn nao,
rộn rực một niềm vui không chịu được, niềm vui rung lên trong tiếng kêu.
Nhào lộn ngoài trời một lát, lại có một con én bay vụt vào dưới mái ngói, đến sát bên cạnh tổ, nó
chao qua chao lại, chập chờn cặp cánh nhọn như vẫy chào cái tổ rồi bay vụt đi. Nó không vào tổ, nó
không đậu, không nghỉ, nhưng nó trở về, ghé chào, rồi ra đi. Không hiểu tại sao vậy.
Chỉ biết, đối với du khách, những tiếng kêu mừng như thế trong buổi bình minh, dáng én lao xao
bên cửa sổ lúc mờ sáng, những cái ấy làm cho tách cà-phê uống đầu tiên, tô hủ tíu ăn trong bữa lót dạ
đầu tiên ở thành phố lạ được thêm thú vị. Không sao? Trước niềm vui của đàn én, người khách vô
tình nhất cũng không ngăn được một cảm tưởng lạc quan, yêu đời. Giữa đô thị, được đánh thức bằng
tiếng chim như thế, trong không khí lành lạnh của tinh sương, khoác vội chiếc áo, xỏ chân vào dép,
bước đi trong tiếng đôn đốc, giục giã của đàn én sớm, tìm gấp một quán cà-phê, mở con mắt không
thành kiến ngơ ngác nhìn vào cái bắt đầu của một quang cảnh sinh hoạt mới lạ, như thể mở ra một
cuốn sách mới mua về, mới đọc thử mấy trang... Như vậy chẳng cũng sướng sao?

Riêng phần tôi, tôi không quên được mấy chú én tiễn biệt lần đến chơi Hà Tiên cách đây hai năm.
Hôm rời Hà Tiên về, chúng tôi dậy thật sớm. Trời bên ngoài hãy còn tối, chúng tôi bật đèn trong
phòng lên. Phòng ngủ trông ra bờ sông, bên kia sông là ngọn núi Tô Châu.
Chúng tôi còn đang xếp mấy món đồ vào va-li thì bỗng đâu một chú én lao vào mùng, đậu trên
mép giường, nhìn ngơ ngác. Một chú rồi một chú khác, một chú nữa... Én vốn lanh lẹn; tôi không hiểu
tính nết, tập quán của én ở đây nó ra làm sao mà khiến tôi bắt được rất dễ dàng mấy chú én trong
phòng.
Lấy cặp ra, mở phẹc-mờ-tuya, bỏ én vào làm chút kỷ niệm.
Tám giờ sáng, bước xuống một chiếc giang tốc đỉnh, ngồi một lát tôi chợt nghe bên mình có tiếng
lẹt sẹt kín đáo, rụt rè. Nhìn lại: thì là tiếng phát ra từ cái cặp da. À! Tôi nhớ ra hai chú én bị nhốt. Hẳn
là hai chú muốn nhắc nhở điều gì. Tôi kéo phẹc-mờ-tuya hé ra một chút; trong ngăn cặp tối một cặp
mắt long lanh, một cái đầu thò lên, dò hỏi. Không thấy tôi phản đối, chú én vụt lao ra. Một chú rồi hai
chú.

Phải chứ, đến với nhau một chút cho vui vậy thôi. Khách đã lên đường, đây là lúc én trở về với
núi Tô Châu chứ.

Tôi cũng không quên cái đêm ở Phan Thiết. Buổi chiều lỡ một chuyến bay, phải ở lại một đêm bất
đắc dĩ với tất cả sự bồn chồn lo lắng về bao nhiêu công việc dở dang ở Sài Gòn.

Tôi trở về một phòng ngủ cũ kỹ bên bờ sông. Mới chạng vạng tối, én đã ré lên, rít lên quanh nhà.
Tiếng kêu rối rít, điệu bay rối rít làm bấn loạn ruột gan.

Đêm đến, mười giờ, trời bắt đầu mưa. Kẻ lỡ tàu thao thức nghĩ đến căn bệnh của người thân trong
gia đình đang còn nằm bệnh viện, nghĩ đến một tòa soạn đang chờ bài, đến một cuộc hẹn lỡ làng, một
ngày kỵ giỗ gần kề, vài lời nói thất thố đang ám ảnh mãi, gây cảm tưởng bất an khó chịu v.v... Bên
ngoài, én vẫn ríu rít trong tiếng mưa đêm.

Vào khoảng một giờ sáng, mưa như ngớt tạnh, người đã mệt lả trong những nghĩ ngợi triền miên.
Khoảng ba bốn giờ, mưa lại đổ nhẹ trên mái ngói. Và bên sông, trong mưa vẫn xen vào tiếng én.

Trời! Én nó thức làm gì mà đêm hôm khuya khoắt, và gió mưa dầm dề nó vẫn không ngừng kêu,
mà tiếng chim luôn luôn lẽo đẽo quanh quẩn bên mối ưu tư của khách vậy? Mà nó thành ra một thứ
bạn tâm tình cố thiết không rời nhau suốt năm canh dằng dặc của những khách lữ thứ bồn chồn thấp
thỏm vậy? Việc kiếm sống của nó khó khăn đến thế sao? Một tinh thần nại khổ như vậy đáng được
tưởng thưởng, ít ra bằng cái chất nhựa trầm hương thơm tho hiếm hoi của ông giáo sĩ Đắc Lộ mới
được.

12 – 1973

Một Mùa Thu

Tôi cứ có cảm tưởng mãi năm nay mới gặp mùa thu đầu tiên trên đất Mỹ. Năm ngoái, đối với
riêng mình, là một hoang mang bỡ ngỡ không ngày tháng, không mùa, không tiết. Trời bắt đầu
chuyển lạnh lúc nào không hay; lá cây rừng đổ từ bao giờ không nhớ; quanh nhà, con chim nào là con
chim mùa nắng, con nào là chim mùa đông giá cũng không rõ; sự xuất hiện cùng vắng thiếu của
chúng, tôi không để ý đến... Chợt một hôm tuyết ở đâu bay lới phới đầy trời, mới hay là mình vừa
đụng đầu với một sự bất thường.

Năm nay trời đất ở xứ này chưa hẳn đã là quen thuộc, tuy vậy sau một thời gian lân la gần gũi, kẻ
vô tình nhất trong chúng ta có lẽ không thể không chú ý tới một ít thứ cây cỏ chim muông.

Chẳng hạn, hồi đầu mùa hè, có một độ chúng tôi lấy làm khó chịu về một thứ bông chẳng biết từ
đâu cứ phất phơ giữa trời. Đang đi, chợt một tí bông tấp vào mũi. Chiều chiều, ra vườn dạo cho
thoáng một chút, lúc mở cửa bước vào nhà, vợ ngạc nhiên thấy ta đội trên đầu mấy chòm trắng xóa. Ơ
kìa, có là Ngũ Tử Tư chăng nữa thì cũng phải chờ qua một đêm mới kịp bạc đầu chứ, có đâu gấp gáp
quá vậy? Quơ tay lên, vuốt xuống: thì ra lại là thứ bông ấy. Cây gì mà sản xuất ra thứ bông quái ác
vậy cà?

Ra công tìm mãi, một hôm bắt gặp “thủ phạm”: cây cao lớn lạ thường, tàn lá sum suê, một mình
nó đứng ngất nghểu giữa xóm cũng đủ phân phối mớ bông phơi phới nọ bay rải rác khắp một khu vực
mấy con đường. Lá cây gần giống hệt lá bồ đề. Trái nhỏ, chỉ bằng đầu ngón tay; khi vỏ ngoài tách ra
thì tỏa bông theo chiều gió. Bởi cái thứ bông đó, nó có tên là cotton-wood.

Trong khu phố có hồ Powderhorn, ngày ngày vào những giờ tốt nắng vẫn thường thơ thẩn dạo
chơi. Một dạo, bỗng để ý thấy mặt hồ không được sạch sẽ. Thoạt tiên, tôi ngờ cho lũ vịt: đây là mùa
vịt trời thay lông chăng? Gớm, chỉ chừng ấy con vịt, sao mà lông trôi lềnh bềnh đầy cả mặt hồ thế
kia? Về sau, xem lại, thì ra vẫn là bông cotton-wood.

Bên hồ có rừng cây đồi cỏ xanh dờn. Thỉnh thoảng mang theo một ít thịt ướp sẵn và mấy lon la-
de: thịt ướp với gia vị đông phương, nướng giữa trời, tỏa mùi thơm ngào ngạt, làm ngạc nhiên cả
những người bạn Âu Mỹ cách xa hàng dăm bảy chục thước. Thức nhắm ấy, với la-de ấy, với cỏ cây
nước đồi ấy, có thể tạm giải khuây được lắm. Miễn đừng có cotton-wood.

Thật vậy, cái gì mà trên mặt cỏ, suốt mấy tuần lễ liền, cứ đầy những bông lơ phơ; cái gì mà miếng
thịt vừa lấy ra đặt trên lò đã có miếng bông tấp dính vào, ly nước vừa rót, ngoảnh qua ngoảnh lại đã
có sợi bông đáp xuống...

Tóm lại, trong mùa hè đã nhiều lần bực mình, suýt nổi giận với cây cotton-wood. Ngoại trừ
trường hợp nằm mà nhìn cái tàn cây của nó vào những lúc vắng gió. Vắng gió thì bao nhiêu thứ cây
khác khắp đồi đều đứng sững, im phăng phắc, làm cho không khí hóa ngột ngạt. Những lúc ấy,
cotton-wood không im: nó vẫn phất phới tàn lá lao xao.

Cotton-wood lá mỏng mà rộng, cuống lá mềm mà lại rất dài, thành thử nó luôn luôn chao động
trong mỗi hơi gió nhẹ. Một chút xíu gió thoảng qua, cả rừng cây không biết đến, nhưng nó biết. Cả
rừng cây im lặng, riêng nó lao xao. Nó như thể một xôn xao vô cớ, một niềm vui đơn độc. Thế này thì
ra nó cũng có một nét đặc biệt không hẳn là dở.

Như thế cho đến một hôm vào trung tuần tháng chín dương lịch. Đang đi dọc bờ sông Mississippi,
bỗng dừng chân, giật mình trước một cái gì thật rực rỡ: một cây cotton-wood vàng óng, đứng cheo leo
giữa lưng chừng triền sông, trên một mỏm đá.

Tôi vừa nói “vàng óng”. Quả có thế. Cái màu vàng ấy không hề gợi đến chút ý nghĩa tàn phai nào
cả. Dường như toàn thể tàn lá của cái cây cao lớn nọ đều vàng cả, vàng từ cái lá trên chót đỉnh cho
đến chiếc lá thấp nhất. Lá vàng như con tằm chín mùi, vàng như tơ óng mướt. Ít ra là nhìn từ một
khoảng cách.

Lần đầu tôi bắt gặp mùa thu ở xứ này. Tôi không phiền trách cây cotton-wood nữa.

Kể ra đem cái thể chất của một người từ miền Đông Nam Á sang đây mà nghe ngóng thời tiết thì
nhiều lúc chẳng ra làm sao cả. Tháng nào là hạ, là thu? “Mát mẻ” đến mức nào là trời chớm thu? Thật
bối rối!

Ngày 21 tháng 9 năm nay, theo lịch là ngày cuối cùng của mùa hè. Cùng ngày ấy tại miền bắc tiểu
bang nghe đâu tuyết đổ cách Duluth chừng bốn chục dặm! Biết tới bao giờ cơ thể chúng ta mới làm
quen, mới thông thạo dò dõi được bước đi của thời tiết ở cái xứ có tuyết mùa hè?

Họa chăng chỉ có cách theo dõi màu lá cây. Theo dư luận địa phương thì năm nay lá cây đổi màu
sớm hơn thường lệ vì ảnh hưởng của hạn hán. Cho nên, những ngày đầu của hạ tuần tháng chín, từ cái
hôm tuyết đổ nọ, các triền sông Mississippi, sông Saint Croix bày ra cảnh tượng tuyệt vời. Nhất là ở
những khúc sông nào qui tụ nhiều cây phong.

Cây phong mùa thu quả thật là kỳ diệu. Các loại cây khác thường thường chuyển màu từ xanh ra
vàng: thế cũng đã là hay, khi toàn cây cùng vàng, toàn rừng hay toàn một vạt rừng, một khoảng đồi,
một khúc sông vàng rực lên. Nhưng phong thì nó không bằng lòng với cái đơn giản ấy. Cái chết của lá
phong là cả một cuộc triển lãm màu sắc huy hoàng.

Vâng, lá phong cũng có màu vàng. Nhưng nó còn chuyển ra màu đỏ, màu hồng, màu cam, màu
huỳnh thổ v.v... Trong đám có nhiều loại phong, mỗi thứ một màu, lại có cây đổi màu trước, có cây
chuyển màu sau. Thành thử một đám phong vào mùa thu là một cảnh tượng lộng lẫy lắm màu.

Màu sắc của lá phong già cũng không mảy may gợi ý tàn úa, chết chóc. Đã vàng, thì vàng tươi
vàng chói; đỏ thì đỏ rực, đỏ phơi phới, đỏ ửng lên như thể tràn đầy sinh lực.

Bông hoa mà hồng, mà vàng, chẳng qua nó chỉ hồng hay vàng lốm đốm. Lá phong già thì rực lên
toàn cây, toàn vùng. Sao mà nó có thể tự xếp đặt cho mình một cái chết tưng bừng đến thế!

Đang len lách dạo trên những lối đi nhỏ hẹp, rậm rạp, sâu hút bên triền sông, chợt gặp một đám
phong già, tự dưng như thể ánh sáng ùa tỏa trên đầu. Màu lá nọ tự nó tỏa sáng, tỏa hân hoan. Lá cây
tỏa niềm hân hoan cuối cùng với những tia nắng rực rỡ cuối cùng của một năm. Một tuần lễ, hai tuần
lễ sau, ta trở lại nơi này, có thể chẳng còn gặp lại lá cây nữa, chỉ còn toàn cành trơ đen thui.

Đang len lách dưới lối đi lưng chừng triền sông, nghe trên bờ sông có tiếng ồn ào, la hát nghêu
ngao. Lần bước lên xem, thì ra là một đám nam nữ thanh niên cũng du ngoạn, cũng thưởng lãm phong
cảnh, nhưng lúc này đang quây quần xung quanh một thùng la-de!

Mỗi người bỏ ra năm mươi xu, không phân biệt tửu lượng, và được cấp phát một chiếc ly nhựa.
Thế là cứ việc uống, uống được bao nhiêu cứ uống. Uống cho ấm người, cho hứng chí, rồi nắm tay
nhau, quàng vai nhau, tiếp tục lẩn vào rừng cây, tiến ra mép nước, nhìn sông, ngắm lá v.v... rồi nghêu
ngao hát, rồi nằm xuống đệm lá nghỉ ngơi, mê mẩn. Hồi lâu lại có thể mang chiếc ly đi kiếm la-de
nữa, để tiếp tục vui với cảnh thu giữa trời.

Giữa cảnh vật ấy, thỉnh thoảng Việt kiều gặp Việt kiều. Bà con nhìn nhau, thường thường cùng
ngấm ngầm một cảm tưởng: “Tiếc quá! Thế này mà lại không phải là quê hương ta!”

Phải chi cảnh đẹp đẽ và thanh bình này mà “ở ta” cái thưởng ngoạn mới đậm đà ngây ngất đến
đâu. “Ở ta” thì có cảnh lại có tình, có cái lộng lẫy của hiện tại lại còn có các kỷ niệm của quá khứ lẩn
quất. Cho nên thú ngoạn cảnh mới càng thấm thía.

Còn như không “ở ta”, cảnh vật tự trình diễn trước những con mắt thán phục mà bỡ ngỡ. Trên bãi
cỏ này, sườn đồi này, khúc sông kia, chúng ta chưa kịp có một kỷ niệm nào cả. Cho nên cảnh không
có tình.

Đi trên bờ sông Mississippi, nghĩ tới Mark Twain. Nghe nói ông ta yêu sông Mississippi, tha thiết
với sông, lấy một âm thanh từ cái sinh hoạt của hạng người làm ăn sinh sống trên sông mà làm bút
hiệu. Còn chúng ta ngày nay, yêu sông chỉ biết giương mắt nhìn sông, chứ đã biết đâu đến cái sinh
hoạt trên sông Mississippi, như biết giọng hò điệu hát trên sông Hương, sông Đồng Nai, sông Ông
Đốc v.v... Yêu cảnh mà không biết đến cuộc sống trong khung cảnh ấy, làm sao yêu thắm thiết?

Thế nhưng, nghĩ đến một ngày kia, khi chúng ta đã thâm nhập vào cuộc sống xứ này đến cái độ
không còn mỗi lúc mỗi hồi tưởng về những kỷ niệm ở quê hương... Có cái ngày ấy chăng? Dù sao, chỉ
nghĩ tới đã thấy xót xa.

Minneapolis, 1976

Một Mùa Xuân An Lành

Vùng quê tôi thường có những mùa đông nghiệt ngã, không phải vì giá rét, nhưng là vì các trận
bão lụt. Không mấy năm là ở miền Trung Việt Nam không gặp thiên tai, hoặc lớn hoặc nhỏ.

Tuy vậy, thường thường sau hạ tuần tháng mười âm lịch, ai nấy có thể an tâm. Tiền nhân dặn dò
con cháu hãy cố gắng đề phòng một ngày hăm ba tháng mười1. Thế rồi thôi. Sau đó, có thể bắt đầu
nghĩ tí chút về các cuộc vui mùa xuân.

Trong kỷ niệm của tôi về những ngày thơ ấu miền quê, hội vui mùa xuân dính liền với... hột đậu
phụng. Ở đây, người ta trỉa đậu vào tháng chạp. Cứ hễ bao giờ người lớn trong nhà tổ chức “lột đỗ”
— tức bóc vỏ đậu phụng (để lấy hột đem trỉa) — là trẻ con có quyền hí hửng nghĩ tới chuyện ăn Tết.
Vì thế, ngay trong công việc lột đỗ đã mơ hồ một không khí hội hè.

Khi đậu được xúc từng thúng từ trong bồ đem ra phân phát, mọi người trong gia đình, từ lớn đến
bé ai nấy đều có phần của mình. Có kẻ nằm trên võng vừa đu đưa vừa lột đỗ; có người mang rổ ra
vườn, tìm nơi thanh vắng mát mẻ, vừa lột đỗ vừa hát se sẽ, để trí theo đuổi những mơ mộng ân tình;
có những ông bà cứ vừa bóp trái đỗ kêu cúc cắc, vừa lắng dõi theo sự trăn trở uể oải của vài mối ưu tư
cũ kỹ đã mất sức phá phách; có những đám trẻ tụ tập ở một góc hè, vừa lột đỗ vừa tranh cãi sôi nổi về
các chương trình vui chơi... Đối với tất cả, những tiếng cúc cắc, lách tách của vỏ đậu bị bóp vỡ đều
ngầm một ý nghĩa hào hứng trong cái cảnh toàn gia nhất tề lao động.

Phải nhất tề như vậy là vì công việc gấp rút, hối hả. Có những năm chúng tôi trỉa đỗ đến chiều
hăm chín, hay thậm chí cho đến ba mươi Tết. Tiếng vỏ đậu vỡ cúc cắc đuổi gấp đến sát Nguyên Đán.
Lột đỗ là dọn đường cho Tết đến; không nhanh tay, không đồng lòng, e không kịp. Tiếng vỏ đậu vỡ
lách tách đưa thẳng tới tiếng pháo nổ đì đoành. Lột đỗ vui là thế.

Người ta trỉa đậu phụng trên đất khô ráo. Người ta cũng chỉ có thể dựng chòi, đánh bài chòi giữa
trời, vào một mùa thực tạnh ráo, ấm áp. Vì vậy cuối tháng chạp ở quê tôi đã hưởng cái khí hậu của
mùa xuân.

Nửa đời người sống với thời tiết như thế, bỗng năm nay tôi đón cái Tết đầu tiên tại miền bắc Hoa
Kỳ với chừng nửa thước tuyết trước thềm nhà, trong cái lạnh vào khoảng hăm lăm độ dưới không độ
bách phân.

Đã từ hai tháng rưỡi, không hề thấy một giọt nước ở thể lỏng ngoài trời. Lại phải chờ thêm chừng
nửa tháng nữa mới gặp được một trận mưa. Trời đã biết rơi nước lỏng xuống là đã biết cố gắng để trở
nên quen thuộc, tôi mừng thầm. Nhưng sự cố gắng cũng chỉ làm nổi một trận mưa mà thôi. Rồi lại
tuyết giá mịt mù.

Tháng giêng đã trôi qua trọn vẹn, vẫn chẳng thấy tăm dạng mùa xuân đâu cả. Cơ sự này thì hỏng
quá! Không Tết thì chẳng ra làm sao: mới vừa ra khỏi nước đã quên ngay tục lệ. Mà có tổ chức
Nguyên Đán giữa cái hoang tàn khốc liệt của mùa đông, giữa cảnh chết chóc tàn rụi của mọi loài thảo
mộc dưới bầu trời thê lương này, thì chẳng hóa ra là muốn chế giễu cái ý nghĩa đổi mới, khởi đầu, của
một ngày hội dân tộc sao?

Hôm hai mươi tháng ba dương lịch, nghe loáng thoáng tiếng reo vui của người xung quanh kêu
rằng mùa xuân đã bắt đầu. Nhưng thực ra nó chỉ mới bắt đầu trên tờ lịch. Mãi tận cuối tháng, tuyết
mới chịu tan cho.

Nhưng đâu dám thấy vậy mà yên tâm? Ban đêm hàn độ vẫn quanh quẩn bên cạnh số không, và
mãi tới đầu tháng năm dương lịch hãy còn đổ một trận tuyết lớn lê thê suốt ngày.

Tháng năm dương lịch tức là tháng tư âm lịch rồi đấy: “Thiều quang chín chục đã ngoài... chín
mươi” rồi, còn chờ đến bao giờ mới được trông thấy mùa xuân, hả trời?

Không phải chỉ có người (đặc biệt là người tị nạn), mà cây cỏ hình như cũng lấy làm sốt ruột lắm.
Chúng không thể nào tung hoa, tung lá ra dưới tuyết; nhưng chúng nô nức chuẩn bị, ráo riết chuẩn bị:
ở mỗi đầu cành không biết từ bao giờ đã tích sẵn một cái nụ. Từ những bụi cây lè tè bên rào cho đến
những cây cao lớn trên đồi, ven đường, trong rừng v.v... tất cả đều ở tư thế sẵn sàng.

Nụ lá cứ mỗi ngày mỗi lớn, rồi cương tròn, rồi mọng lên. Chúng không thể nào chờ đợi được nữa.
Chúng như những giọt nước tụ ở đuôi tranh trước hiên, như những giọt cà-phê rưng rưng dưới rá
phin: sắp vỡ, sắp rụng đến nơi.

Có phải vì sự chờ đợi trong một dồn nén kéo dài như thế mà hoa lá ở xứ này nở rộ trong cảnh
chụp giựt, như thể tranh nhau, lấn nhau? Trời vừa ấm mấy hôm, đầu tuần nụ lá vừa hé mở, cuối tuần
đã thấy cây xanh dờn, đến tuần sau khắp thành phố um tùm rậm rạp. Hoa nở rộ, rồi cũng tàn nhanh.
Tuyết vừa tan, ở ven tường đã thấy có tí lá xanh lấp ló như vẫn rình sẵn từ lúc nào. Thế rồi ta chưa kịp
để ý tới, một buổi sáng bỗng nhiên hoa tím hoa vàng ở đâu phọt lên tùm lum. Hỏi ra thì là Johnny-
jump-up2 đó! Tính danh sao mà ngộ nghĩnh. Bé Johnny nghịch ngợm, chợt nhảy cỡn rồi chợt biến
mất! Dăm mười hôm sau, quanh tường hoa uất-kim-hương (tulip) khoe đủ màu sặc sỡ.

Ven rào, trong công viên, ở ven rừng, vẫn có thứ cây không cao lớn nhưng sum suê, hoa lá ửng
một màu hồng rực rỡ. Giữa đám cây xanh nhạt có đậm có, nó điểm vào một màu khác lạ vui mắt, nó
in xuống mặt hồ những cái bóng lộng lẫy, nó gợi nhớ hình ảnh hoa anh đào làm rực một phương trời.
Thứ bông huy hoàng ấy — bông crabapple — cũng chỉ rực lên một vài tuần lễ gì đó rồi xìu xuống,
lặn mất.

Hình như bây giờ đến lượt hoa tử đinh hương (lilac). Gọi là tử, kỳ thực tím có, trắng có, xanh
nhạt có...; lá nó khiến nhớ đến lá của cây bông giấy ở quê nhà, mà hoa nó cũng lắm màu như hoa
giấy. Lúc tử đinh hương hết hoa thì bên rào lại trắng xóa hoa spirea rập rờn trong gió.

Cứ thế, hết đợt nọ đến đợt kia, các giống hoa xô đẩy nhau, dồn nhau, đuổi nhau trong một cuộc
trình diễn gấp gáp. Phải chứ, thì giờ đâu mà nhẩn nha?

Cái hôm mà bé Johnny nhảy cỡn ở ven tường, tôi hứng chí chụp vội chiếc mũ lên đầu, đi tung
tăng một hồi, để hứng đón lấy tia nắng ấm đầu tiên của năm.

Đi ngang qua công viên trước trường Mỹ Thuật, chợt chùn bước sững sờ trước thế nằm của dăm
ba cô sinh viên trên sân cỏ, cái thế nằm không tha thứ được ở một người con gái Việt Nam trước mắt
công chúng. Chẳng qua các cô sinh viên nọ muốn cho tất cả các bộ phận trong người đều được hưởng
ánh dương, cái ánh dương ấm áp, quý báu đã vắng mặt từ sáu tháng qua.

Về nhà, trong trí hãy còn lởn vởn mấy ý nghĩ phàn nàn về cái phong cách vừa mục kích, tôi vén
một lá màn cửa cho sáng sủa thì... Ô kìa! Qua khung cửa sổ, trông thẳng sang nhà láng giềng, thấy
ngay một cô gái, gần trọn người lồ lộ, nằm tênh hênh phơi nắng... trên mái nhà!

Nhà đôi ba tầng trong xóm có những chỗ nhô ra một mái hiên con con. Và nàng trải chăn, thoát y,
tận hưởng ánh dương quang hàng giờ hàng buổi cách mặt đất cả chục thước tây như thế; cả khu phố
không ai là không thể trông thấy. Quanh nàng một con mèo mướp thơ thẩn. Trên tàn cây du gần đấy,
một con sóc nhảy từ cành nọ sang cành kia...

Thế rồi, nắng càng rực rỡ, phơi phóng càng nhiều. Hoặc khênh giường, hoặc trải chăn, hoặc
khuân nệm ra vườn, ra bãi cỏ trước nhà, hoặc ra bờ hồ, trên sườn đồi v.v... Cởi ra mà phơi.

Ngẫm nghĩ có hôm khách Mỹ đến nhà gặp ta chưa kịp thay bộ đồ bà ba, khách lẫn lộn bà ba với
py-gia-ma, lấy làm khó chịu. Ở trong nhà mặc quần áo, kín từ cổ tới chân, mà hóa ra thất lễ; trong khi
giữa công chúng phơi gần trọn người thì là đủ... lễ! Trong trận cãi vã lao nhao giữa các nền văn hóa,
có những cái oái oăm kỳ cục.

Nửa đời người bỗng lạc loài đến nơi xa lạ, đón một cái tết không còn ra tết, nhưng tôi lại được
hưởng một cảnh xuân tuy muộn mà thật huy hoàng.

Bởi vì đến muộn, đến trong sự đợi chờ sốt ruột, đến sau một mùa giá rét khắc nghiệt, cho nên mùa
xuân càng tưng bừng, càng làm cho say sưa, ngây ngất.

Ai nấy quý từng tia nắng. Trai trẻ, hễ ngoài giờ làm việc học hành là tuôn tràn ra sân thể thao, ra
sông hồ, đồi suối v.v... Nếu không chơi banh, chèo thuyền, thì người ta câu cá. Có người lái xe đi
hàng trăm dặm để câu, có kẻ lấy vé máy bay sang tận Gia-nã-đại để câu (mặc dù ngay tại tiểu bang
này có hơn một vạn cái hồ). Câu xong, hoặc gỡ từng con cá khỏi lưỡi câu, vứt trả xuống nước ngay tại
chỗ, hoặc mang về cho bạn cho bè. Câu lấy vui hơn là lấy ăn. Câu để có cớ hoạt động mà chạy hết hồ
nọ sang sông kia. Nắng lên tự dưng kiếm cớ mà chạy quanh chạy quẩn, thế thôi. Còn các ông già bà

cả không tung tăng được, cũng dắt díu nhau ra khỏi các nhà dưỡng lão, kẻ còn đứng nổi trên hai chân
thì tình nguyện đẩy xe cho người cùng kiệt, họ nối nhau lũ lượt dạo quanh dăm ba nẻo đường.

À, đã thế trời cũng không hẹp hòi. Đã thích nắng thì cho thỏa thích: mới năm giờ rưỡi mặt trời đã
mọc, nghĩa là từ năm giờ chân trời đã hừng sáng. Thế rồi mãi gần chín giờ đêm, mặt trời mới chịu lặn.
Tám rưỡi tối, vài con sáo siêng năng hãy còn thơ thẩn trước sân cỏ.

Trời đã hậu đãi những ngày dài mười sáu giờ, một kẻ từ xứ nhiệt đới đến dù không ham phơi
phóng, dù không có được mấy thứ cần phơi như các cô gái nõn nà xứ này, tôi cũng không đành nằm
nhà giữa một mùa đẹp như thế. Suốt ngày lang thang, thơ thẩn, phất phơ bên các dòng nước, ngồi mỏi
rồi lại nằm dim mắt dưới bóng cây...

Cụ Tiên Điền chịu cái “mầu quan san” của loài cây phong về mùa thu; uy tín lớn lao của cụ khiến
cây phong mùa xuân chịu thiệt thòi. Thực ra cái màu (không phải là quan san) của cây hồng phong
vào tháng tư dương lịch cũng hay lắm: hoa vàng nhạt, lá đỏ gắt, đỏ đậm, hoa nhiều hơn lá. Thế rồi cứ
theo thời gian lá rậm dần, lớn dần, chuyển dần ra màu xanh; hoa thì tàn dần. Cho đến giữa tháng năm,
tàn cây hùng vĩ với vô vàn những trái cánh đôi, đứng giữa các loài cây khác vẫn giữ một vẻ độc đáo,
trông chẳng giống ai.

Cụ Tiên Điền thì thiên về mùa thu, mà thi hào Lý Bạch lại thiên về cái lá:
“Minh triêu quải phàm khứ
Phong diệp lạc phân phân”
(Dựng buồm mai sáng thẳng dong,
Tơi bời rơi rụng lá phong ven bờ)
Giả sử họ Lý không phải dong buồm trên sông thu, mà một ngày xuân nào đó nhân lúc quá chén
nằm thiu thiu dưới bóng cây trên đồi, chợt thức giấc trong ngọn gió mát, mở mắt trước cái cảnh trái
phong, muôn vạn cánh phong khô xoay tít trong gió, tản mạn đầy trời..., tôi chắc họ Lý cũng không
chê đâu.
Cái cảnh trái phong bay loạn lên như thế, nó là cả một hội vui giữa không gian, là sự tưng bừng
của nắng gió giữa trời. Nhất là ở nơi Thủ-Phủ-Nước3 này, tôi đã chờ suốt chín tháng mà không trông
thấy một con bướm, ở một nơi như thế lấy gì làm linh động không gian nếu không có điệu múa may
của những cánh phong?

Tôi vừa đề nghị với họ Lý một lối thưởng xuân lười lĩnh có thể làm chướng mắt người Mỹ hiếu
động. Về phần mình, đành thú thực những giờ biếng nhác lơ mơ trên cỏ dưới cây là những giờ thích
thú nhất trong mùa xuân này, mùa xuân đầu tiên của cuộc đời lưu lạc.

Trải qua những xáo trộn dữ dội về tinh thần của năm qua, trải qua một mùa đông tù hãm vừa rồi,
tôi thẩn thơ trong nắng ấm, thần trí khật khừ, như một kẻ vừa ốm dậy, nhưng bao nhiêu giác quan lại
đê mê trong khung cảnh diễm ảo.

Xứ sở này đẹp đẽ quá, thanh bình an lạc quá. Và đôi khi đang trông nắng lao xao trên lá, lấp loáng
trên nước, nghe tiếng chim hót lanh lảnh, chợt sững sờ: Kìa! Không phải mình đang hưởng một mùa
xuân an lành nhất từ ba mươi năm qua đây sao?

Quả thực là an lành. Từ ngày lớn lên trên đất nước quê hương, có bao giờ như năm nay, được
đón xuân mà không lo lắng về những trận tấn công, phản công, về những kế hoạch, sách lược, cao
điểm, những biến cố hoặc chính trị, hoặc kinh tế, hoặc quân sự đang rình rập đâu đó? Bây giờ thì...
khỏi hẳn!

Từ nay về sau, mùa xuân nó không còn tự liên hệ với hạt đậu phụng, cũng không liên hệ với
chính sách, kế hoạch, cao điểm nào nữa. Nó liên hệ với cái gì? Với thằng Johnny nhảy cỡn chăng? với
sự phơi phóng chăng? Không biết. Dù sao tất cả những thứ sau này đều không gây ra thảm trạng, âu
lo.

Đất nước tôi đã chọn những nẻo đoạn trường, nó sẽ tiếp tục đi những nẻo đoạn trường. Xuân này,
xuân tới, và bao nhiêu xuân nữa, đồng bào tôi sẽ còn lo lắng, đảo điên: những cuộc nổi dậy, những vụ
đàn áp, những thanh trừng, sửa sai, chuyển hướng, thi đua, nhảy vọt v.v... Riêng mình đã bị đánh
văng ra ngoài vòng. Từ nay riêng mình chỉ có những mùa xuân an lành. An lành một cách xót xa.

Nhận thức ấy làm cho cuộc đời bỗng trở nên trống huếch trống hoác. Trống kinh khủng, ghê rợn.
Bỗng nhiên mà không còn có một tương lai nào trước mặt, mà đứng ngoài vòng mọi lo lắng. Chao ôi,
cái an lành của những cuộc đời không tương lai.

Nắng xuân càng huy hoàng càng làm ta chơi vơi, choáng váng. Ta không cánh mà như thể xoay
tít trong không, tựa hồ những trái phong giữa trời.

5 - 1976

1 “ Ông tha bà lại không tha
Giáng cho một trận hăm ba tháng mười.”
(Ca dao)
2 Tục danh của loại hoa pansy dại.
3 Tức Minneapolis.

Lạnh

Hồi tôi nhắm mắt đưa chân tới thành phố xa lạ này, tôi đâu có ham giật cái giải gì? Vậy mà đến
đây năm trước năm sau liền được ngay cái hân hạnh chứng kiến Thủy Phủ (Minne: nước; Polis: đô
thị) đạt luôn một hơi bốn kỷ lục về thời tiết.

Cách đây mười một năm, ngày 8 tháng 1 năm 1966, trời lạnh -20 độ F, và được xem là ngày 8
tháng 1 lạnh nhất tại địa phương. Năm nay cũng đúng vào ngày ấy, hàn độ xuống -23 độ F. Một kỷ
lục.

Ngày kế tiếp, 9-1-74, cố gắng hạ xuống đến -21 độ. Nhưng năm nay, ngày 9 tháng 1 lại tụt xuống
một lèo tận -32 độ. Thêm một trận đại thắng mùa đông nữa.

Ngày 10 tháng 1 năm 1912, trời lạnh -23 độ. Kỷ lục vẻ vang ấy giữ vững suốt sáu mươi lăm năm;
đến năm nay, lúc 11 giờ rưỡi đêm 10-1, nhiệt kế lại xuống -27. Rồi đời cái kỷ lục của năm 1912.

Ngày kế, 11 tháng 1 vẫn năm 1912, là cả một nỗ lực vượt bực trong lịch sử khí tượng của xứ này:
-30 độ. Nhưng vào lúc tờ mờ sáng 1-11 năm nay, hàn độ xuống tận -31 độ: hết thuốc chữa.

Vẫn chưa xong. Chúng ta mới nói đến chuyện thượng tuần tháng 1 dương lịch. Theo thường lệ,
đó chỉ là màn mở đầu. Rồi từ đây tới cuối tháng, hạ hồi còn nhiều hứa hẹn.

Xung quanh mình, thiên hạ nhốn nháo cả lên: Một trăm giờ liên tiếp dưới không độ. Khiếp ơi là
khiếp! Trong sở làm, trên xe buýt, trong các siêu thị v.v..., gặp nhau ở đâu cũng toàn nói chuyện
“trăm giờ dưới không độ”.

Không độ? Cái ngôn ngữ ở đây ta nghe chưa quen, nghe cứ như là nó không được... thật! Cách
thức đo lường ở đây rắc rối, kỳ cục, không giống ai. Cái gì mà nói ra nghe cứ lỉnh kỉnh những phít
(feet), những pao (pound), những in (inch), những mai (mile) v.v... Rồi 12 in một phút (foot), mà 3
phit lại một da (yard); chẳng ra làm sao cả.

Hai trăm năm rồi, người Mỹ cứ cứng đầu cứng cổ giữ lấy những đơn vị đo lường cổ lỗ, lủng củng
ấy; mãi tới khi nghe tin dân An Nam sắp sửa chạy sang, họ mới hoảng hồn bỏ thói cũ, vội vàng chấp
nhận hệ thống đo lường thông dụng trên thế giới. Nhưng đã muộn: thói quen ăn sâu, phải chờ một
thời gian chuyển tiếp để người Mỹ tập làm quen với các đơn vị mới. Hiện giờ, trong ngôn ngữ hàng
ngày ta vẫn nghe toàn pao, với phít, với mai.

Trở lại với cái không độ của người Mỹ: Đây là độ Fahrenheit. Khi nhiệt kế Fahrenheit chỉ 32 độ
thì nhiệt kế bách phân quen dùng ở ta xuống tới không độ từ khuya. Thành thử, thực ra đâu phải vừa
rồi chúng tôi chỉ sống có một trăm giờ dưới không độ? Phải nói là hàng tháng, hàng một vài tháng trời
dưới không độ bách phân liên tiếp.

Vả lại, bảo rằng ngày 9-1 lạnh -32 độ, ấy chỉ là nói về cái độ lạnh không kể ảnh hưởng của gió.
Một khi ra đường, có tí gió vi vút, thì dám xuống tới dăm, sáu chục độ như chơi!

Giữa thời tiết ấy, hình như khắp cả chốn Thủy Phủ chỉ có loại chó husky là hí hửng. Đó là một
giống khuyển gốc Tây-bá-lợi-á. Gặp lạnh, chúng khoái tỉ ra mặt.

Ngoài ra, bao nhiêu chim muông đều có vẻ khốn khổ. Mấy ngày liền, tôi không gặp một con sóc
nào cả; cho đến lũ chim sẻ đông đảo cũng tự dưng vắng bóng, chẳng thấy đâu.

Sóc, sẻ, với vịt là những con vật tôi vẫn liệt vào hàng đặc biệt thân thuộc từ khi mới đến đây. Từ
xứ nhiệt đới sang, trông con sáo không giống hẳn con sáo bên nhà, trông con chó không mấy giống
con chó bên nhà, nhìn con bò không hề giống con bò bên nhà, nhìn hình thù người qua kẻ lại không
mấy giống bà con bên ta. Ngoảnh đi ngoảnh lại, chỉ có con sóc bên đường, đàn sẻ trên cây, với lũ vịt
trên các mặt hồ là trông quen mặt, không có gì khác với các giống đồng chủng nhiệt đới. Ta có cảm
tưởng chúng vẫn theo ta từ bên nhà sang đây.

Sóc ở đây thật nhiều. Mùa hè, trong công viên, trên lề cỏ bên đường, trên cành cây, trên mái nhà,
đều có sóc nhởn nhơ. Có những lúc ta đang nằm trong nhà xem dở trang báo, nghe có tiếng khua nhẹ
bên cửa sổ: một chú sóc men đến không biết từ lúc nào bên mép cửa, chân đặt lên mặt kính, đang

nghểnh đầu nhìn ta bằng đôi mắt chăm chú, dò hỏi. Ở công viên, có những con sóc bạo dạn, trèo lên
vai khách, chồm tới đòi chia xẻ một miếng trái cây khách đang ngậm nơi miệng.

Đang gần gũi như thế, sóc có thể vụt phóc lên ngọn cây cao. Trên cây, nó “bay” từ cành này sang
cành kia, nhẹ phới. Nó như là thứ chim không cánh. Giống khỉ cũng không kém tài, tuy nhiên hiện
nay ở các đô thị không mấy khi gặp khỉ sinh hoạt tự do. Cho nên trong chỗ đông đúc thế này, loài sinh
vật lông mao mà có thể nhảy nhót cao đến thế giữa không trung, e chỉ có các tay hiệp khách truyện
Tàu và các chú sóc.

Từ mấy hôm nay chẳng thấy sóc đâu nữa. Nghe nói chúng lo rúc vào các đống lá cây, nấp vào các
hốc cây.

Con vịt thì trên mặt hồ chúng được hưởng một khoảng nước lỏng nho nhỏ, mấp mé ba chục độ
ấm. Xung quanh những nơi chúng bị cầm chân suốt mùa đông như thế toàn những tuyết trắng mênh
mông, tôi đâu dám lảng vảng đến làm gì.

Sóc, vịt, sẻ v.v... các giống vật thích ứng thật tài tình, con người như chúng ta đành thua xa.
Mặc dầu đã quấn vào người bao nhiêu là lớp áo, lớp quần, lớp khăn cổ, lớp mũ trùm đầu, mỗi lúc
ra ngoài ta vẫn cứ điêu đứng như thường. Một khoảnh da mặt bị hé lộ ra là một khoảng bị tê, bị rát
như bỏng.
Từ ngoài bước vào nhà một lúc, da mặt như co rút lại, máu bắt đầu xông dồn ra cứu nguy các chỗ
tê cóng. Bấy giờ ta có cảm tưởng môi vêu lên, cử động vụng về, vành tai chót mũi bị kim chích, đau
réo lên.
Không bao giờ từng bộ phận trên nhân thể lại kêu gọi sự chú ý gấp rút đến thế. Thường nhật ta
vẫn biết mình có tay có chân, có mắt, có mũi, nhưng mấy ai buồn để ý đến đâu? Tự dưng lúc này nào
mũi nào tai bỗng nhức nhói, rậm rật, như thể kêu la khẩn cấp: “Thưa ông, đây là cái tai, đây là cái tai
của ông:”, “Đây là cái mũi”, “Đây là vành môi khốn khổ của ông”, v.v...
Ờ, thì là tai, là mũi. Nhưng gì mà nhặng xị, ồn ào quá vậy? Không yên một tí được sao?
— Không được! Ít ra phải mười phút sau khi vào nhà, các bộ phận nó mới trở lại tình trạng bình
thường, mới chịu ngưng léo nhéo.
Ra đường là khốn khổ, mà sự ra đường thì tùy thuộc vào chiếc xe. Chiếc xe hơi mùa mày lại dễ
lâm bịnh. Trong bốn ngày kỷ lục nọ tính trung bình cứ mỗi giờ trong thành phố có bốn trăm cú điện
thoại gọi đến các trạm xăng yêu cầu ra tay tế độ những chiếc xe không chịu nổ máy, bất chấp mọi
biện pháp săn sóc đề phòng từ trước!
Phép đề phòng thật vất vả. Ngoài chuyện cho chất nọ chất kia vào xăng, vào bình điện, vào thùng
nước v.v..., ngoài việc trùm chăm đắp mền cho xe, lại còn cứ ba bốn giờ nên nổ máy xe một lần cho
nóng máy. Ban ngày còn khá, đêm đến, giữa khuya trời lạnh như cắt, mà đang ở trong nhà ấm áp,
phải nai nịt đồ đạc chồng chất vào người, ra đường nổ máy xe. Có loại xe như Volkswagen không
chịu nổ mà ngừng một chỗ, phải cho nó dạo lòng vòng mấy khu phố hồi lâu. Khuya khuya, cho xe đi
dạo, rồi đắp mền cho xe tử tế; hầu hạ xe kỹ như thế xong mới được phép vào nhà ngủ.

Trong cái khoảng thời gian “trăm giờ dưới không độ”, một phóng viên của tờ Minneapolis Star
gặp một thiếu phụ bật khóc trên quãng đường năm dãy phố đi đến chỗ đậu xe, liền hỏi, và được thiếu
phụ nức nở vừa đáp: “Tôi mới từ California dời nhà lên đây. Chịu không thấu. Tôi muốn trở về”.

Từ một tiểu bang Hoa Kỳ đến một tiểu bang Hoa Kỳ mà nàng đã chịu hết thấu, nàng đã khóc lên
khóc xuống. Huống hồ ta từ Đông Nam Á.

Vậy mà ta lại không nói được chuyện trở về. Ta lại còn chừng vài chục năm trước mặt để đương
đầu: ngày ngày lò mò thức giấc lúc trời còn tối om, lóng cóng ra xe, tới sở; bốn rưỡi chiều ta ra khỏi
sở đã lại tối om om, tuyết đổ tơi bời, trời sầu đất thảm!

Nguyên một cái ở đã khốn khổ, lại còn cái ăn. Không lóng cóng như thế, sao có được cái ăn?
Từ hồi nào tới giờ tôi vẫn tự mắng mình là đứa vô thần bất trị. Trong suốt mấy mươi năm trời, xứ
tôi náo loạn cả lên vì sự xung đột giữa các niềm tin — hoặc niềm tin duy vật, hoặc niềm tin duy tâm.
Ấy vậy mà đầu óc tôi cứ trơ ra, không chịu thấm nhuần tín ngưỡng vào đấng thần linh nào cả. Tôi vẫn
ngờ rằng trước sau rồi cũng có ngày sự sai quấy hỗn láo ấy phải chịu một trừng phạt.

Quả nhiên. Ngày ấy đã đến. Và tôi đang chịu sự trừng phạt đến nơi đến chốn của ông thần quái ác
nhất: ông... Thần Khẩu.

Tôi kêu trời trong giá lạnh xứ người: Biết bao giờ mình mới thoát nổi sự cai trị, đầy ải nghiệt ngã
ấy? mới chấm dứt được cái cực hình phục vụ ông Thần Khẩu, một sự phục vụ nhục nhã, không lý
tưởng nào cả.

1 – 1977

Mười Giờ

Gửi Võ Đình

Cây sweet pea — người Tàu gọi là đậu tuyết hay đậu xạ hương gì đó — màu sắc thật là sặc sỡ. Ở
đây người ta chỉ trồng lấy màu, lấy hoa, lấy hương (xạ hương?). Người láng giềng gieo hạt hồi mùa
đông, đầu xuân đã có hoa nở rộ trên hàng dậu ngăn cách hai khoảnh vườn. Tháng ba dương lịch, bà
láng giềng thông báo cho ông về chuyện phá lũ dây đậu để gieo hạt anh túc. Cũng lại một hoa sặc sỡ
nữa. Bà ta có cái thú làm nở ra những đóa hoa cánh mỏng dính có sắc màu lòe loẹt. Bà ta dự tính như
thế, ông tán thành ngay. Mà hình như lũ bướm cũng tán thưởng lắm.

Ông lạc mất trang sách từ lúc nào không hay. Tay vẫn cầm hững hờ cuốn sách, nhưng mắt ông đã
rời chữ. Xung quanh ông, khắp phòng, ánh sáng ùa vào nhiều quá, ùa vào tràn trề. Hai mặt phòng có
nhiều cửa gương lớn, phòng ông vào giờ này là cả một niềm hân hoan.

Mấy hôm gần đây kể như hôm nào cũng vậy, rốt cuộc rồi cũng đến thế thôi: ông bỏ sách, loay
hoay tìm một mảnh giấy, một cái gì để cài vào làm dấu trang sách nhưng không tìm được, ông đành
úp mặt cuốn sách xuống thảm. Rồi ông nằm ngẩn ngơ trong ngôi nhà sáng choang. Rồi ông ngồi dậy
đốt một điếu thuốc, khói xanh tỏa chầm chậm qua những tia ánh sáng. Rồi ông mở cửa bước ra hiên.
Ông trở vào pha cà-phê uống. Ông mở cửa ra vườn sau, nghếch mặt nhìn nghiêng nhìn ngửa, đến bên
cây này cây nọ, lại nghếch mặt nhìn đàn sáo đậu trên dây điện, nhìn con quạ trên cây thông sau lưng
căn nhà trên ngọn đồi bên kia đường, có khi nhìn lên trời xanh trống không. Rồi ông bước đến đứng
một lúc dưới bóng cây long não. Rồi ông cảm thấy mình lơ ngơ, không có việc gì giữa ngôi vườn
vắng vẻ, ông lại vào nhà, ông đốt một điếu thuốc nữa v.v... Ông nằm xuống, cầm lấy cuốn sách. Một
lát, ông lại nhổm dậy, úp sách xuống mặt thảm. “Căn phòng này coi bộ sáng quá, sáng dữ đa!”. Ông
nhìn qua cửa kính, theo dõi lũ chim hải âu từ đâu ngoài bãi mới kéo vào khu phố này, lượn thấp trên
các mái nhà, sà cả xuống mặt đường. Ông đứng lên, mở cửa, bước ra hiên xem hải âu chúng nó làm
gì! Xem ra chúng cũng chẳng làm gì đáng kể: không ăn không uống, không tìm sâu tìm hạt gì, chúng
chỉ bay lên bay xuống, lượn đi lượn về rà rà khắp xóm vậy thôi. Có con đậu lên một chiếc tán đèn bên
đường, một con hải âu xám trên chót đỉnh một cột đèn, đậu và phóng uế, xong lại bay đi, vậy thôi. Rồi
ông nhìn sang hai con bướm chờn vờn trên hàng dậu sweet pea. Bướm nó bay, hay nhỉ, nó không bay
thẳng từ nơi này đến nơi khác, như không cốt bay để đến; nó bay như nhảy như múa, như đùa như
giỡn mà chơi. Một lát, tự cảm thấy thừa thãi trước hiên, ông quay vào nhà, sửa lại chiếc gối, ghé nằm
xuống, cầm cuốn sách lên, xem đồng hồ: Thế mà đã mất khối thì giờ!

Gần như hôm nào cũng vậy. Đến một lúc nào đó, ông chợt để ý và tự hỏi: “Có gì vậy cà?” Hồi
gần đây có gì xảy ra? biến cố gì vậy?” Kiểm điểm mãi, cũng thấy ra biến cố: Mười giờ.

Mười giờ là một biến cố. Đáng lẽ ông đã biết từ lâu, vậy mà không hiểu tại sao ông lại lú đi,
chẳng chịu thấy. Mười giờ sáng; trời đất vào cái giờ ấy, nó lạ lắm. Bây giờ nhớ lại thì ông đã nhiều
lần khốn khổ vào cái lúc mười giờ. Hồi nhỏ, ngày ngày ngồi trong lớp học, mỗi buổi mai vào khoảng
mười giờ, thỉnh thoảng hoặc một con chim bay ngang qua cửa sổ kêu đánh “chéo” một tiếng nhỏ,
hoặc mấy đứa chăn trâu đùa giỡn với nhau ngoài đồng để lọt vào tai ông mấy tiếng léo nhéo, hoặc tốp
lính kéo đi rộp rộp ngoài đường v.v..., thế là ông trông ra cái nắng tưng bừng bên ngoài và lạc mất
tiếng thầy giảng một lúc lâu, thần trí vẩn vơ mãi đâu đâu.

Ngày nhỏ lơ đãng trong lớp, lớn lên ông lơ đãng ngay tại nhà. Cứ mười giờ mai, vào giờ nắng ráo,
ấm áp, là như thế. Cứ như có ai kêu ai réo ở ngoài trời. Cứ như có hội hè ầm ĩ linh đình, có trống thúc
cờ reo giục giã khẩn cấp ở ngoài. Nằm không yên, ngồi đứng không yên.

Giá mà lúc ấy ta xô cửa, bước ra ngoài, bắt gặp quả tang “cái mười giờ”, nhìn tận mặt nó một lúc
thì rồi cũng nguôi ngoai. Rồi thấy mình lơ ngơ thừa thãi. Rồi cũng đến trở vào nhà thôi. Nhưng nằm lì
trong nhà, ngồi lì trước bàn viết, nắm mãi cuốn sách trên tay, thì khổ sở đa!

Mười giờ, ngoài trời có gì vậy? Thì trời xanh vậy thôi. Thì mây trắng tơ tướt ngang trời vậy thôi.
Nhưng trời xanh thao thiết mênh mông vào lúc mười giờ, tưởng chừng nó có cái hấp lực hút bật dậy
những thây ma. Những xác chết nhập tràng chồm lên dưới một tác động ma quái.

Ma quái chứ. Mở cửa ra, vẫn chỉ có trời xanh, có cây xanh, có ánh nắng nhấp nháy trên lá xanh,
mọi sự y nhiên, như xế hôm qua, như trưa hôm trước, như sáng hôm kia, như một ngày năm ngoái,
năm kia... Nhưng mà không! Mười giờ hôm nay, vào giờ phút này, tưởng chừng nó đập gõ khua ầm
lên trước cửa mình vậy. Mỗi hôm nó mỗi quấy động, nó luôn luôn mới, luôn luôn bất ngờ, nó là biến
cố hàng ngày. Hôm nào mười giờ cũng làm mình rạo rực, nao nức, như là một Mười Giờ đầu tiên
buổi khai thiên lập địa. Mười Giờ nào cũng là một Mười Giờ hoang sơ. Khu phố có thể tha hồ vắng
vẻ, cứ mười giờ là tưởng chừng có hội hè tưng bừng: Mười giờ ngoài cửa, nó là một im lặng ầm ĩ,
huyên náo, chát chúa.

Hoa có thứ hoa giờ tí có thứ hoa giờ ngọ, hoa tự do chọn lựa giờ giấc. Thứ hoa chọn lúc khuya
khoắt vắng vẻ như hoa quỳnh, nó tha hồ đơn độc, ẻo lả, kiều mỵ. Còn hoa mười giờ không thế. Nó là
hoa bầy hoa lũ. Là thứ hoa đồng khởi. Nó dậy lên, đứng lên cùng lượt, rực lên chói chang. Nhất hô bá
ứng: Mười giờ cất tiếng gọi, từng từng lớp lớp điệp điệp trùng trùng hoa nọ liền đứng lên giữa trời.
Không có ai mang hoa mười giờ vào phòng, vào những căn phòng nhỏ hẹp, để cho những ông cụ già
móm mém vừa nhắp từng hớp trà vừa “thưởng thức”. Hoa mười giờ phải nở giữa khoảng rộng, dười
trời bao la.

Đã mười giờ lại mười giờ sáng một ngày xuân, thôi thì khỏi nói. Đám dạ lý hương bên hè phát
triển mạnh quá, lấn tràn vào cửa, mùa đông vừa qua ông đã phát bớt đi quá nửa lùm. Những gốc dạ lý
hương bị đốn tưởng đã chết khô, bẻ gãy rôm rốp. Thế mà sang xuân bỗng thấy mầm xanh phọt lên.
Lại nhớ có lần trong đống củi xếp sau hè thỉnh thoảng lại có cành bắn mầm nứt lá non. Tiếng gọi mùa
xuân, sức kêu gọi của sự sống, Trời! nó mạnh kinh khủng!

Nghĩ đến cái rạo rực trong lòng một cành củi, một gốc cây khô, ông lại nhân tiện nghĩ qua về cái
rạo rực trong lòng mình: “Ờ! mà mình cũng “rạo rực” lắm, đâu đã yên? Khối thì giờ mất đi một cách
vu vơ. Thế mà không để ý thì không biết đấy”. Ông nhìn xuống mấy ngón tay vàng khè khói thuốc,
mấy ngón tay dẹp, mỏng, khô quắt dần. Ông nhìn thoáng qua, rồi quay mắt đi, chán ngán. Tuy nhiên
cũng nhếch miệng cười bâng quơ.

Ngoài sân, con bướm chờn vờn bên dậu hoa sweet pea. Rồi nó rời dậu hoa, bay nhanh qua suốt
chiều ngang của khoảnh sân trước, tưởng đi luôn sang vườn nhà bên cạnh, bỗng đâu lại thấy nó chập
chờn ngay trước hiên. Cái bóng của con bướm múa rộn ràng trên tấm màn cửa. Vào lúc ấy, chợt vẳng
lên tiếng một đứa trẻ. Tiếng gọi la eo éo gì đó, nghe không rõ ràng, cách vài con phố, cất lên mấy
tiếng rồi bặt mất.

Ông bàng hoàng. Tiếng kêu ngắn quá không kịp phân biệt là tiếng nước nào. Mễ chăng? Mỹ
chăng? Việt chăng? Tưởng chừng tiếng một đứa trẻ ngày xưa hắt vào căn nhà tranh của ông từ một
ngôi gò nào trong làng. Tưởng chừng tiếng mấy đứa trẻ la giỡn ở một góc phố vẳng lọt vào lớp học
hồi niên thiếu... Một cái gì rung lên, quẫy mạnh trong ông. Ông xao động cả người.

Ông nhớ bữa ăn sáng cuối cùng với một người đàn bà. Người đàn bà đã chung sống với ông hơn
chín tháng, ở một ngôi nhà mát mẻ thanh tịnh bên Tân Qui Đông. Hồi tưởng lại những ngày đó thật
êm đềm.

Hồi đó, hai người gặp nhau giữa một đám bạn. Ông có một cảm tình mơ hồ với Loan lúc vừa mới
gặp, tuy vậy ông không bắt chuyện, cũng không có dự tính gì. Vào một lúc nào đó ông nói một câu
vẩn vơ (bây giờ ông không còn nhớ đại khái ra sao nữa, hay nói cho đúng là ông quên bẵng đã từ lâu
chứ không phải mới bây giờ). Loan nghe xong, không nói gì; nàng quay mặt về phía khác, nhìn mông
ra xa, mỉm cười nhẹ nhàng, bâng quơ. Ông sực kiểm điểm và nhận thấy câu nói vừa rồi của mình quả
nhiên là có hướng về nàng, một cách vô ý thức. Sự hưởng ứng của nàng xa xôi dè dặt, lại hơi hững
hờ.

Vậy mà ít lâu sau hai người gần gũi, rồi ông rước nàng về chung sống.
Nghĩ lại, giá bấy giờ nàng niềm nỡ có lẽ ông đã lảng tránh. Độ ấy tự dưng ông tránh hết những
thái độ nồng nhiệt, tích cực, hăm hở. Tự dưng ông mệt mỏi tận chỗ sâu xa nhất trong tâm hồn. Đang ở

một căn phòng thuê tại đường Cô Bắc, đi lại các tòa báo khá tiện khá gần, ông quyết định rút hẳn về
bên Tân Qui Đông. Ông từ chối bớt một số công việc tòa soạn, hạn chế bớt một số khoản chi tiêu, hạn
chế giao du, để hưởng một thời gian yên tĩnh. Bên cạnh Loan. Và Loan là cả một sự yên tĩnh, êm
đềm.

Hai người sống với nhau không lâu, nhưng “hợp nhau kinh khủng”, ông công nhận thế.
Hôm về ở với ông, nàng không có gì nhiều nhặn để mang theo. Y phục, nàng cũng không sắm bao
nhiêu. Nhưng nàng có chở theo một chậu trúc đằng ngà. Kể ra không phải là thứ cây kiểng hiếm hay
quí. Một cây trúc đằng ngà nhỏ hơn cổ tay bị chặt ngang lưng chừng, cao chừng thước rưỡi tây, thế
thôi. Đưa cây trúc xuống xe, nàng cười. Ông bảo đặt nó ngay trước hiên nhà, ngoài cửa sổ từ phòng
khách trông ra. Nàng đồng ý dễ dãi.
Cây trúc thế mà khỏe. Cành lá nó tỏa rộng ra sum suê. Nhiều buổi trưa vắng lũ chim sẻ kéo đến
ríu rít trong tàn lá ấy. Mỗi lần nghe tiếng khua động trong nhà, chúng bay tán loạn. Trưa mùa hè nhiều
lúc không được trông đến, trúc khô nước, lá cuốn cả lại. Múc một lon nước đổ vào gốc cho nó, thử
lắng tai, có thể nghe tiếng lá khô mở ra rào rào, khe khẽ. Chừng vài giờ lá lại cuốn queo, lại cần thêm
lon nước nữa.
Tàn lá ấy làm khổ cây trúc. Có những đêm gió lớn, sáng ra thấy nó lăn kềnh, nằm chình ình trước
hiên. Cái chậu đất nặng nề là thế vẫn chưa đủ để giữ thăng bằng. Rốt cuộc Loan phải hè hụi trói cây
trúc vào song cửa bằng một sợi dây kẽm. Ông muốn giúp nàng một tay, nàng cười cười:
— Anh cứ để nó cho em. Em trị được mà.
Thực ra ông ngờ rằng không phải chỉ có thế. Không phải là nàng không muốn phiền đến ai khác
chỉ vì nàng đủ sức “trị” nó, mà bởi vì nàng muốn tự tay mình chăm sóc cây trúc “của mình”. Cây tre
cây trúc ít khi là cây kiểng của một người đàn bà. Có thể đây là một kỷ niệm riêng sao đó. Nàng có
cây trúc trong trường hợp như thế nào? nàng “thừa hưởng” của ai? Có lúc ông thoáng nghĩ ngợi về
điều ấy, nhưng rốt cuộc cả hai cùng lảng tránh, bỏ qua vấn đề. Sáng sáng hai người ngồi trước hiên
điểm tâm, uống cà-phê, và nhiều lần ông khen cây trúc đẹp. Nàng thắc mắc:
— Không thấy nó nẩy được mụt măng nào.
— Ờ nhỉ. Trồng lâu chưa?
— Lâu.
— Ờ, thế thì lạ.
Vậy rồi thôi. Ông không hỏi thực sự nó ở với nàng từ bao giờ.
“Trị” cây trúc là công việc của nàng. Ngoài ra nàng còn một thành tích nữa, cũng đáng kể. Sau
nhà có cây mít, không biết nàng tìm đâu ra cái chuông, đem về treo lên một cành mít, rồi lại buộc một
khúc cây bên cạnh làm cái dùi. Thỉnh thoảng, trong gian nhà vắng lặng, hoặc ông đang nằm đọc sách,
hoặc chợt ngừng bút giữa trang giấy, hoặc đang ngồi lơ mơ uống tách nước..., chợt nghe một tiếng
“boong.., oong...oong...” từ sau vườn.
Tiếng chuông đánh thức sự tịch mịch vắng vẻ. Ông tán thưởng:
— Hay nhỉ. Không có tiếng chuông, mình không để ý đến sự im vắng của xung quanh.
Nàng không nói gì. Một lát, ông lại ngẫm nghĩ:
— Thì vẫn là im vắng, nhưng một im vắng vô ý thức. Lâu lâu một tiếng “boong” làm cho sự im
vắng tự ý thức về mình. Thành ra một sự vắng lặng có ý thức.
Nàng vẫn không nói gì. Nàng nhìn mông ra ngoài, cười bâng quơ.
Người đàn bà ấy không có mấy nữ trang, mấy món phấn son trang điểm; nàng bỏ thì giờ vào
những thứ vớ vẩn: cái chuông, chậu cây... Hai người sống với nhau như thế cho đến một hôm ông bắt
gặp Loan với một vẻ khổ sở. Vài ngày sau, nàng bảo ông biết nàng vừa được tin nhà, nàng phải về
quê, ở dưới Sóc Trăng. Hoàn cảnh nàng có gì rối rắm khó khăn lắm. Ông khựng lại, nhìn nàng chăm
chú một lát, biết rằng sự thể không thể nào đổi khác được, ông thở dài.
Hôm cuối cùng, loay hoay thế nào mà họ thức trắng đêm. Buổi tối, ngồi trước hiên nhà mãi cũng
buồn, ông lấy xe chở nàng đi ăn cháo cá, rồi hai người ra ngồi bờ sông hóng mát tới khuya. Về, ông
lại pha cà-phê uống, rồi ngồi xem sách. Loan lên giường nằm hồi lâu không ngủ được, vẹt màn chui
ra. Ông bỏ sách, ngồi với nàng, chuyện trò lẩm cẩm. Đêm hết lúc nào không hay. Lúc nhìn qua cửa sổ
thấy chân trời ửng sáng, ông sực nhớ ra, kêu đói, bảo Loan chải tóc tai để đi ăn sáng. Nàng ái ngại:

— Anh thức suốt đêm, có mệt không? Nhà sẵn còn trứng. Hay để em chiên “ốp la” ăn với bánh
mì. Được không?

Ông lắc đầu. Lúc này ông muốn ngồi ở tiệm, ăn một tô phở nóng, thơm tho.
Thì đi. Qua cầu Tân Thuận, gặp hơi nước mát, ông hít mạnh vào phổi, thích thú. Rồi ông cao
hứng dừng xe lại bên kia cầu tìm một cái quán gần bờ sông, ngồi nhìn mặt nước sáng dưới ánh bình
minh, nhìn người qua kẻ lại, thấy khoan khoái, tỉnh người dần. Hỏi chủ quán: không có phở, chỉ có bò
kho, có trứng “ốp la”. Không muốn bỏ một chỗ ngồi thích ý, ông gọi trứng “ốp la” và quay lại bảo
Loan:
— Nhất ẩm nhất trác, định trước cả. Số mình sáng nay ăn trứng thì chỉ được ăn trứng thôi...
Huống hồ những chuyện lớn trong đời, chạy đâu khỏi số?
Nàng nhếch cười buồn bã.
Ăn xong, đốt điếu thuốc, ngồi trước tách trà thơm, ông lờ mờ nghĩ về những ngày sắp tới. Chắc
chắn ông sẽ trả ngôi nhà ở Tân Qui mà trở về bên Sài Gòn. Ở một mình chỗ quạnh vắng, buồn chết.
Vả lại, tiền dành dụm đã vơi, ông cần ở gần các tờ báo để làm việc nhiều thêm. Ông nghĩ đến cuộc
dọn nhà trong tuần tới, nghĩ đến công việc lấy tin vào lúc mờ sáng ở các tòa soạn nhật báo, đến công
việc viết lách liên tu bất tận suốt ngày... Ông thẫn thờ lẩm nhẩm: “Mệt kinh khủng!”
Nghe một tiếng cười khẽ, ông ngoảnh lại: Loan cười lớn hơn, nàng lấy tay che miệng cười ngặt
nghẽo, rồi lấy tay che cả mắt. Lát sau, khi nàng bỏ tay xuống, nước mắt hãy còn trên má. Lưng bàn
tay nàng cũng ướt.

Loan ra đi tuần trước thì tuần sau ông cũng dọn nhà đi luôn. Hai người để lại trong vườn cũ cái
chuông trên cây mít. (Cây trúc tất nhiên là Loan đem theo. Nó lên xe sau cùng, khi nàng đã chất đồ
xong và đã lên ngồi trên xích-lô máy nàng mới nhờ người phu xích-lô bê nó đặt lên sàn xe, và nàng
bảo ông: “Để lại, anh không trị nó nổi đâu. Nó sẽ vòi vĩnh, làm phiền anh.” Ông biết đó chỉ là một
cách nói. Đó không phải là lý do khiến nàng không rời nó.)

Ông thuê một căn phòng nhỏ ở tầng lầu hai một tòa nhà lớn gần chợ Thái Bình. Trong cái hiu hắt
của một cảnh sống đơn chiếc, có những buổi xế chiều, sau một giấc ngủ trưa mê mệt, ông thức dậy,
nằm thười trên giường, ngao ngán nhìn bức tường phòng trơ trụi không một cái tranh cái ảnh. Cửa sổ
đóng kín, căn phòng im mát và râm râm tối. Nằm im hồi lâu, trí nghĩ vẩn vơ từ chuyện nọ sang
chuyện kia; trong vắng vẻ tĩnh mịch chợt ông tưởng chừng nghe thấy một tiếng
“boong...oong...oong!”

Ông bàng hoàng ngẩn ngơ. Ông không nghĩ đến Loan, nhưng từng giác quan của ông chúng vẫn
nhớ nàng. Trong cùng thẳm cõi vô thức của ông cái hơi hướng của những ngày cùng Loan chung sống
vẫn còn vương vất. Từ cái này đến cái nọ, từ chuyện này đến chuyện kia, chúng trở về. Cái cổ tay của
nàng, bữa cháo khuya trước hiên nhà bên Tân Qui, và ơ kìa! cổ chân, còn cả cái cổ chân của nàng
nữa, thật là kỳ cục! và mùi tóc nàng nữa, và cái nhìn mông rất bâng quơ v.v... Ở tuổi ông vẫn còn
những vẩn vơ vậy sao?

Ông tự cười mình, lẩm nhẩm mấy câu lăng nhăng:
“Mình về mình nhớ ta chăng?
— Nhớ mình? Ta quyết đoan rằng là: Chưa!
Nhớ mình? đã nhớ đâu cơ
Chẳng qua chỉ có vẩn vơ nhớ... nhà
Vườn quê mỗi buổi chiều tà
Bâng quơ tai nhớ một và tiếng chuông
Cà-phê mỗi sáng tinh sương
Nhớ đôi cành trúc vấn vương bên thềm
Lưng trời nhớ một cánh chim”
Mãi sau đó khá lâu, một hôm ông có dịp sực nghĩ đến giọt nước mắt của Loan trong bữa điểm tâm
cuối cùng. Trong một thoáng, tự dưng ông tưởng thấy rõ cả cái lý do, như thoắt “ngộ” sự thực tròn
vẹn. Lý do là cái tiếng “kinh khủng”... Đó là một thói quen của ông. Ông thường nói: “Dại kinh
khủng. Hay kinh khủng. Rắc rối kinh khủng”... Hôm đó ông vừa kêu “Mệt kinh khủng” thì Loan cười.

Nàng cười một thói quen. Rồi lại nghĩ rằng từ đây nàng sẽ chẳng bao giờ còn nghe “kinh khủng” nữa,
chẳng còn gần gũi với cái thói quen hàng ngày ấy của ông nữa, nàng khóc lúc nào không hay. Một
thói quen ngộ nghĩnh, chẳng đâu vào đâu, nhưng nghĩ rằng nàng sẽ mất nó mãi mãi, cho nên cuối
tiếng cười có những giọt nước mắt.

Một cuộc chung sống mấy tháng rồi tan rã đã lâu thỉnh thoảng còn hắt về một tiếng chuông mơ hồ
như thế. Và ở Sóc Trăng chắc chắn một đôi khi ở chỗ người qua kẻ lại, ở một góc đường, một quán
nước, đâu đó chợt thoáng nghe hai tiếng “kinh khủng” Loan cũng ngẩn người ra bồi hồi.

Hơi hướng một cuộc tình đã dai dẳng, ông nghĩ đến cái hơi hướng của cuộc đời. Của cả cuộc đời.
Mai kia, ông ra đi khỏi cõi đời này, chắc đâu cái hơi hướng của nó không đeo đuổi? Ba tấc đất
đâu đã thực là đủ sâu? Trong nghĩa trang, những khu nghĩa trang với đồi cỏ xanh mướt, cây xanh mơn
mởn, mười giờ lũ chim sẻ, chim quành quạch kêu tíu tít, kêu rối cả lên, và nắng thì chan hòa, những
khu nghĩa trang đô thị nằm ngay cạnh các con lộ rộn ràng, sát kề cuộc sống náo nức, trong những khu
nghĩa trang như thế làm sao yên được giấc nghìn thu! Khó đa. Cuộc đời còn inh ỏi hơn một tình nhân.
Dĩ nhiên ông không muốn nhớ, nhưng không nhớ mà được sao? Một tiếng còi xe, một tiếng gọi la
trong vắt của đứa bé ở một góc phố..., những cái ấy hắt lọt xuống lòng huyệt vào nửa buổi mai huy
hoàng, nó làm kinh động giấc nghìn thu đến chừng nào. Không nhớ Cuộc Đời, không nhớ “mình” mà
được sao? Mình réo gọi, mình hút ta lên từ đáy mộ mỗi buổi mai mười giờ chứ lị. Những inh ỏi của
trần gian, chao ôi!
“Mình “về” mình nhớ ta chăng?
— Nhớ mình? Không nhớ được răng hả mình?
Ba tấc đất, biết bao tình
Mười giờ mình vỗ rập rình nắp săng
Mình xua gió thổi mây giăng
Mình tung ánh nắng vang vang khắp trời
Mình rung chuyển đất lay đồi...
Mai kia rồi nữa ta rời xa nhau
Nhớ mình không nhớ được sao?”

Ông lẩm nhẩm trong trí mấy câu sau cùng, rồi đứng lên, bước ra sau vườn, nhìn bâng quơ: đàn
sáo đậu trên dây điện đã bay đâu mất cả. Ông nhìn mông lên trời xanh trống không một lát rồi quay
vào nhà.

Mười giờ, ông bỗng dưng như thể một kẻ lểnh lảng: ở trong nhà thì nghe như có tiếng réo gọi đâu
đó xa xa, tung cửa ra ngoài không thấy ai, không thấy gì cả. Trông bên nọ ngóng bên kia dáo dác một
lúc, cảm thấy tưng hửng, bèn quay vào.

Quay vào, thì nghe réo gọi bên ngoài. Văng vẳng, mơ hồ, mà khẩn trương, hối hả. Thoạt tiên
mình còn ngờ vực lấy mình, về sau càng lúc càng nhốn nháo cả ruột gan. Tiếng gọi thiết tha quá, cấp
bách quá, không sao không đáp ứng được. Lại tung cửa chạy ra. Và nhìn xuôi trông ngược vẫn chẳng
có gì. Chỉ có ngọn gió vừa lướt qua. Chỉ có cây gồi già đội một mảng mây trắng to tướng đứng trân
trên ngọn đồi...

Như vậy là chẳng có gì? — Lẽ đâu thế? Tiếng réo gọi mơ hồ nhưng không thể chối cãi. Sự Sống
đó. Tiếng réo gọi của Sự Sống đó mà. Từ nơi cùng thẳm hư vô, nó gọi ta. Cái lanh lảnh trong một
tiếng trẻ con, cái rào rào trong gió lá; một cánh bướm chập chờn, một cành tre dưới nắng: Nó đấy. Nó
cả đấy. Nó xa xôi tận cùng thẳm mà cũng gần gũi trong gang tấc. Sự Sống đó. Tiếng gọi của Sự Sống
nhiệm màu. Tiếng gọi của Trời Đất đó. Của Vũ Trụ Càn Khôn mịt mờ ảo huyễn mà quyến rũ mê hoặc
khôn lường đó.

Rồi mai kia:
“Nhớ mình không nhớ được sao?”

5 – 1987

Ổi Tàu

Bạn hiền,
Bạn đang cười ré lên đấy chứ gì? Bạn nên tiếp tục. Tốt lắm. Đời“di tản”, cười được lúc nào hay
lúc ấy. Giờ này bạn tha hồ thích thú. Bạn thích thú về sự lố bịch của tôi: “Tên này chúa nhảm. Chưa
chi đã dạy đời! Bảo người ta bôn chôn, rồi mình cũng nhấp nhổm như gái ngồi phải cọc. Sao không
cố bám luôn lấy đất ấy mà an cư lạc nghiệp?”
Tôi không chối cãi vào đâu được. Dù không có một trí nhớ tốt, tôi cũng chưa quên lá thư ấy. Hồi
đó, mới mấy tháng trước đây, bạn thay đổi địa chỉ liền liền, quả tôi có cảnh cáo bạn về một số hậu quả
không hay của sự lăng quăng. Tôi nói năng y hệt một kẻ biết điều, khôn ngoan, chín chắn, lúc nào
cũng làm chủ được mình, không để cho những phút yếu lòng, những cơn hứng bất tử lung lạc. Thế rồi
thoắt cái, bây giờ bạn bắt gặp quả tang tôi cũng lại dọn nhà ra đi.
Vâng, bạn cứ cười. Chỉ cần giơ phong bì lên, so hai cái địa chỉ cũ và mới, thấy ngay tôi đã đi một
mạch ngót hai nghìn dặm đường. Từ Trung Bắc tới tận Tây Nam nước Mỹ. Thế đáng gọi là một cuộc
chạy dài.
Gần đây, tôi vắng thư. Mãi bận rộn vì cuộc chạy dài ấy tôi không viết được cho bạn. Hôm nay
phải trở lại với bạn chút ít về chuyện nam di đấy. Không phải là để cắt nghĩa. Ối! “Ai đi cắt nghĩa
được thiên di, có nghĩa gì đâu... cứ việc đi”. Thế thôi. Mạnh bạn bạn ngược xuôi, mạnh tôi tôi ngang
dọc, mới đến xứ này, hãy cứ nhốn nháo như thế trong ít năm đầu, rồi sau sẽ hay.
Tuy không hẳn là cắt nghĩa được lý do tại sao tôi quyết định về sinh sống ở miền nam, nhưng đây
cũng là một chuyện có liên quan đến việc nam di. Thật vậy, hôm đó khi lần đầu trông thấy nó trên
đường xuống Cali tham quan, tôi đã biết ngay mình không thể cầm lòng được. Thế nào rồi cũng phải
xuôi nam thôi.

Tôi bắt gặp “nó” trước tiên ở tiểu bang Utah.
Hôm ấy chúng tôi đến thủ phủ tiểu bang thì trời vừa chạng vạng tối. Nghe nói ở đây có nhiều cái
hay: có niềm tín ngưỡng riêng, có nước mặn giữa đất liền, có đàn ông đèo bòng dăm bảy khối hạnh
phúc v.v... Dừng chân lại đây một đêm để học lấy đôi ba sàng khôn hẳn là điều rất đáng làm.
Thoạt tiên chạy ngang chạy dọc mấy vòng cho biết qua mặt mũi Salt Lake City, rồi chúng tôi tìm
vào một khách sạn. Kê xong mấy khoản khai báo trên mẫu giấy ghi danh tá túc, tôi xoay người lại,
sắp sửa rời cái quầy nơi văn phòng thì tầm mắt chợt hạ đúng vào chỗ bồn hoa giữa sân. “Ơ kìa, ngộ
chưa! cái gì lạ vậy cà?” Tôi vội vàng đến nỗi suýt tông cả người vào tấm kính lớn ngăn cách văn
phòng khách sạn với sân cỏ.
Quả nhiên tôi không lầm. Ra đến giữa sân, tôi đứng sững sờ. “Nó” đây rồi. Thực “nó” đây rồi.
Làm sao có thể ngờ được sau hăm mấy năm trời tôi lại tái ngộ với “nó” trên bước đường lưu vong, ở
mãi tận xứ Hoa Kỳ thế này. “Nó” đến đây từ bao giờ! định cư lúc nào? trải qua những bước thăng
trầm như thế nào mà rốt cuộc bây giờ trông phởn phơ quá vậy? thể thống quá vậy?
Nhưng “nó” là ai? Bạn đừng vội nổi cáu. Tôi không cố ý ỡm ờ. Tôi đang viết thư chứ có phải viết
truyện kiếm hiệp hay trinh thám đâu mà treo lơ lửng sự bí mật để bắt bạn hồi hộp? Tôi rất muốn kêu
phắt tên “nó” ra từ lúc đầu, nhưng không kêu được đấy thôi. Tôi kẹt quá.
Kêu bằng tên nào bây giờ? Ở vùng quê tôi ai nấy vẫn gọi “nó” bằng tên ấy: ổi tàu. Nào, tên đấy,
bạn đã thấy có gì rõ thêm chưa nào? Ổi tàu là thứ ổi quỉ quái gì vậy? Bạn suy luận: Vịt ta nhỏ bé, vịt
xiêm thì bự; dâu ta bằng đầu đũa, dâu tây bằng ngón chân cái; gà ta khiêm tốn, gà tây là gà khổng lồ;
trà ta xoàng, trà tàu thì nhất; thậm chí con chuột tàu cũng quí hơn con chuột ta... Vậy ổi ta bằng quả
bóng bàn, ổi tàu áng chừng nó là thứ ổi mỗi quả bằng một nắm tay, hay bằng quả bóng rổ chăng? thịt
nó vừa ngọt vừa thơm bát ngát chăng?
Bạn mà nghĩ thế, bạn khốn đốn ngay. Thật vậy, táo tàu tha hồ hơn táo ta, trà tàu tha hồ hơn trà ta
v.v..., nhưng ổi tàu thì lại là tính danh của một sự lố bịch đấy bạn ạ. Hạt ổi tàu nó bé như hạt tiêu, nó
chen chúc một khóm chi chít như thể một đám ruồi xúm nhau đậu chổng ngược đít lên vậy.

Nếu bạn muốn, tôi có thể khai thêm một tên nữa. Ở quê tôi, bà con còn gọi nó là... nho. Vâng, cây
nho trái nho ở tôi đấy. Bên Tàu bên Tây, người ta lấy nho làm rượu. Bồ đào mỹ tửu óng ánh dưới
trăng, ngời ngời trong thi ca xứ người. Ở tôi, thứ trái chi chít nọ cũng là nho: danh với thực nhảm là
thế.

Nhưng quê tôi thô lậu, bạn không biết đấy là đâu; tiếng nói địa phương ở vùng tôi không có sức
phổ biến rộng. Ở tôi nói gì, gọi là gì, bạn không biết được. Tốt hơn nên cung cấp cho bạn cái danh
xưng thông thái dùng trong sách vở, lẽ ra phải thông dụng toàn quốc. Nhưng cái đó lại khó, tôi có ý
muốn phục vụ bạn thực kỹ mà không xong, rồi bạn xem.

Muốn sách vở thì có sách vở. Trong sách thực vật của ông Phạm Hoàng Hộ, cây lantana camara
được gọi là cây thơm ổi. Lantana camara là thứ lantana nào? thuộc chi phái họ hàng gần xa ra sao?
cái đó tôi không rõ. Nhưng lantana thì chính thị là nó. Tên thơm ổi làm tôi mừng rơn. Nhà học giả đã
nhất trí với đồng bào vùng tôi ở tiếng ổi, lại còn bảo là nó thơm. Tuy nhiên vừa buông cuốn sách của
học giả xuống liền gặp rắc rối ngay.

Ông Phạm là con người của những cây cỏ miền Nam nước Việt, thế tại sao tiếng nói của ông
không mấy giống với tiếng nói những người miền Nam khác? Tôi gặp nhiều đồng bào miền Nam
sống quanh đây, tôi đưa thứ cây ấy ra hỏi. Liền có câu đáp:

— Cứt heo đấy mà.
— Hả? Thưa... theo ông...
— Thì cây cứt heo đấy, ông ơi. Nó đấy.
Kẻ bảo thơm, người gọi c..., biết chọn sự trung dung ở đâu bây giờ?
Rồi tôi nẩy ý hỏi đến đồng bào miền Bắc. Nhiều người không biết, chắc chắn đó là những vị sinh
trưởng ở đô thị, không mấy quan tâm đến cây cỏ. Một hôm tôi gặp một ông từng ở thôn quê. Ông cầm
nhánh cây, ngẫm nghĩ:
— Tôi chắc nó là cây cứt lợn... Chắc thế. Không hẳn là giống cứt lợn ở ta, nhưng...
Ông bứt một chiếc lá, vê vê, rồi ngửi, rồi lại ngẫm nghĩ:
— Cứt lợn đấy... Trông màu hoa có khác. Nhưng... nó đấy.
Như vậy tôi nghĩ số phận nó đã gần như được quyết định: kẻ Nam người Bắc cùng bảo thế thì hẳn
tên nó là thế rồi. Cả sách vở thông thái cùng với một địa phương nhỏ bé của tôi không đủ sức gỡ danh
dự cho nó đâu. Nó chỉ còn trông cậy ở chỗ này nữa thôi: là hình như có khá nhiều địa phương độc đáo
như địa phương tôi, tiếp tục từ chối cái tên xấu xa mà gọi nó cách khác. Ở Huế, ở Nha Trang, Phan
Thiết, Kontum v.v..., chưa từng nghe nói đến bông hoa c... heo hay c... lợn. Biết đâu nó không là nho
thơm hay ổi thơm? Ở Quảng Ngãi, bà con chú ý đến màu hoa, gọi là bông ngũ sắc.
Trong niềm hi vọng ấy, tôi đã ngập ngừng chần chờ, không muốn xưng ngay tính danh nó ra lúc
vừa bắt đầu. Nhưng từ lúc này, sau khi đã giải bày cặn kẽ, tôi xin gọi nó bằng cái tên quen thuộc ở
quê tôi: ổi tàu.
Tôi chắc bạn đang thắc mắc: vì sao tôi lại mê ổi tàu? lại làm lớn chuyện về ổi tàu?

Tôi mê ổi tàu? Nói thế là hãy còn nhẹ nhàng quá đấy. Có thể bảo về một phương diện nào đó tôi
tự đồng hóa với ổi tàu. Nó là tôi.

Gần như tôi sinh ra giữa ổi tàu. Không hiểu do đâu mà quê tôi lắm ổi tàu đến thế. Không có rào
dậu nhà ai mà không có ổi tàu chen chúc. Không có gò đống nào mà không có ổi tàu lan tràn, không
có bờ ruộng, bờ ao, bờ khe, bờ suối nào mà không có ổi tàu đứng giăng hàng san sát... Một khoảnh
đất khoảnh vườn ngưng canh tác hay thiếu chăm sóc trong ít lâu là đã thấy cỏ và ổi tàu dấy lên ngay.
Không mời mà đến, không gọi mà thưa: Thứ cây vô duyên ấy cứ tự xuất hiện lừng lững, xuất hiện
hàng hàng lớp lớp. Ở quê tôi ổi tàu tràn ngập như... bể cây. Chỗ nào cũng có nó, đi đâu cũng thấy nó;
mà không đi, cứ nằm liệt tại nhà, ngước mắt lên nhìn là đã thấy nó rồi.

Lớn lên trong cảnh ấy, riết rồi tôi có cảm tưởng ổi tàu là một sự tất nhiên của thiên địa càn khôn.
Hễ có đất là có ổi tàu, tôi không thể quan niệm nổi một vũ trụ vắng bóng ổi tàu. Tôi trịnh trọng suy tư:
“Ổi tàu có đó, vậy vũ trụ hiện hữu.” Tôi yên trí nằm ngủ trên một chân lý nền tảng.

Tôi nằm ngủ như thế suốt tuổi ấu thơ. Thế rồi xong tiểu học, bắt đầu xa làng xa huyện, tôi dần dần
tự tách rời khỏi ổi tàu. Đi học hành làm ăn ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội, Sài Gòn, Chợ Lớn v.v..., tôi

không có dịp gặp ổi tàu nữa. Hàng lâu, mãi lo sách đèn, bài vở, lo bạn bè đàm đúm nhởn nhơ, không
nghĩ đến nó. Khi nhớ lại, thì thấy vắng bặt tự bao giờ. Quả tình không hề thấy nó ở đầu đường Gia
Long cuối đường Hưng Đạo nào, không thấy nó lấp ló ở những cổng trường Đồng Khánh, Trưng
Vương, không thấy nó phất phơ dọc bờ sông Hương, sông Nhà Bè v.v... Rong chơi đây đó: Nha
Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Biên Hòa v.v...: không có đô thị lớn bé nào thấp thoáng bóng ổi tàu. Có lần
đánh bạo nêu lên cái tên nó để dò hỏi, thì ai nấy ngơ ngác. Kẻ Thừa Thiên, Quảng Trị, người Đồng
Nai, Bến Nghé, đều không biết mình nói đến cái gì. Một vài anh bạn che miệng khúc khích:

— Cái gì của tàu? Ghẻ tàu hả? “Nẫu” nói gì hỏi gì vậy cà?
Tôi biết sự tình không ổn, vội vàng tháo lui:
— Không không... Ơ, ờ... Đâu có! Có ai hỏi gì đâu...
Tôi cấp tốc thu hồi nó về ngay, cất giữ cho mình, như một niềm riêng tư không tiện tiết lộ cho bất
cứ ai khác. Ngay từ hồi ở trong nước mà ngoài làng quê ra, ai nấy đã ra người tứ xứ, không chịu cảm
thông. Đi đây đi đó, chỉ riêng tôi ấp ủ lấy tên tuổi cùng hình dáng của riêng nó mà thôi: trong trường
hợp ấy bạn bảo sao mà không có lúc tôi tự đồng hóa với nó.
Ổi tàu là vậy. Bỗng trong một lúc bất ngờ nhất, tự dưng tôi đối diện nó ở tân thế giới, giữa thủ
phủ xứ Utah. Không sững sờ được sao?
Bạn có tin hay không tin tùy bạn, tôi không ép. Nhưng tôi phải cho bạn hay đó là một đối diện
mừng mừng tủi tủi đấy bạn ạ. Bởi vì trong cuộc trùng phùng, ổi tàu của tôi không còn là ổi tàu hèn
mọn nữa, nó chợt ở một ngôi vị cao sang không chờ đợi!
Thú thực với bạn từ ngày bỏ nước ra đi nhiều lúc tôi tự thấy xuống giá ngang xương, cảm thấy
mình có vẻ rạc rài thế nào. Còn ổi tàu, trong buổi hoàng hôn tái ngộ ấy, ối tàu nó đang ngự giữa một
bồn hoa lộng lẫy. Nó đang trịnh trọng sánh vai cùng bao nhiêu là loài hoa rực rỡ. Vâng, nó đấy, ổi tàu
— nhất danh là cứt lợn — nó đang hớn hở giữa muôn hồng nghìn tía đấy, bạn có tin được không?
Ngày còn ở quê hương, không ai có thể tưởng tượng cứt heo lại đem làm cây cảnh. Sang Hoa Kỳ,
cứt heo lên ngôi. Sao mà vẻ vang thế? Tôi mừng cho nó, tủi cho mình.
Tình cảnh tựa hồ như thể một kẻ đồng hương với Chí Phèo bỏ làng ra đi lưu lạc nhiều năm, ngày
kia đến kinh đô một xứ lạ bỗng nhiên gặp lại Chí Phèo mũ áo xênh xang giữa chốn triều đình, hay gặp
Thị Nở đã hóa thành một đấng phu nhân đường đường với đầy đủ kẻ hầu người hạ.
Cây cỏ cũng như người, bạn ạ. Cũng là cây ổi tàu mà ngày xưa khi nó đứng ở đầu gò, góc rào,
ven suối, trông nó chẳng ra làm sao; bây giờ chễm chệ giữa sân trước tòa lâu đài sang trọng, trông lại
tư cách hẳn ra. Nó khoan thai gật gù nhè nhẹ trước gió chiều mát mẻ. Trông cao phẩm giá lắm cơ.
Nói cho đúng, ở đây nó có được bồi dưỡng kỹ càng hơn: những phân, nước, những thuốc trừ sâu
bọ, những cắt tỉa chăm sóc thường xuyên có làm cho lá nó xanh mướt hơn, hoa nó thắm hơn, dáng
hình nó óng ả hơn thuở hoang dại ngoài cõi thiên nhiên. Tóm lại, trông nó đắc ý ra mặt. Nó chịu Hoa
Kỳ hơn là quê tôi. Nó chịu lắm. Nó đắc ý một cách rất vong bản. Quả nhiên sau này rõ ra là nó đã dắt
díu tất cả bà con họ hàng di cư sang Hoa Kỳ từ lâu. Thật vậy, ngày bé tôi chỉ biết có một loại ổi tàu,
thứ bình dân xoàng xĩnh nhất. Sang đây tôi dần dà điểm mặt được ít ra là hàng chục loại ổi tàu khác
nhau. Có thứ cây có thứ dây, có thứ đứng có thứ nằm, nằm và bò lê bò la trên mặt đất, có thứ quấn
quít leo lên những loại cây khác, có thứ lớn có thứ bé, hoa lá lăn tăn như hường tường vi, có thứ hoa
đỏ, hoa vàng, có thứ hoa tím ngát, hoa hồng hồng v.v... Không biết từ đâu mà chúng lũ lượt kéo nhau
ra đông đảo thế.
Thế này thì quá cỡ. Hoa Kỳ thật quá cỡ: bom nguyên tử, nó có; phi thuyền vũ trụ, con thoi không
gian, nó có; to khổng lồ như loại cây hồng sam (sequoia) cả một chiếc xe hơi có thể chui tọt qua gốc
cây, nó có; nhỏ tí xíu như con chim vo ve (humming bird) lông lớn lông bé khắp người đếm không
quá chín trăm chiếc, nó có. Chưa hết! sau rốt nó còn sưu tập đủ loài đủ giống ổi tàu của tôi nữa.
Từ Utah xuống Cali, càng đi càng gặp thêm nhiều ổi tàu. Bạn bảo tôi còn sự chọn lựa nào khác
hơn. Một chút quê tôi đã bắt gặp ở đây rồi. Phải “về” Cali thôi.

Bạn đang ngờ ngợ, cho rằng tôi có thể thuộc vào hạng người tha thiết với quê hương, tôi có
khuynh hướng “về nguồn” đấy chứ gì? tôi là một phần tử có tinh thần dân tộc chứ gì? Nhảm, bạn

đừng cao xa như thế, đâm hỏng ra. Tôi không về cội về nguồn gì ráo. Tôi chỉ có khuynh hướng trở về
với... cái tôi đấy thôi.

Thú thực với bạn: trong khóm ổi tàu tôi chỉ trông thấy toàn những hình ảnh của chính mình.
Nhiều lắm bạn ạ.

Tôi trông thấy dọc theo chân rào trước nhà những đứa bé, trai và gái, những đứa bé bốn năm tuổi
lúc thúc bên nhau, giơ những bàn tay bé tí teo, xòe những ngón tay thật là xinh túm lấy mớ bông ổi
tàu để nhổ lên, ngửa cổ, xoay ngược gốc hoa vào miệng, cố mút lấy một hạt mật ngọt mà con ong
cũng chê là quá nhỏ. Đến mùa trái chín, những đứa bé ấy đi gỡ từng nhúm trái ổi tàu li ti như những
hạt tiêu đen, sung sướng cho vào mồm. Trái chín vỡ ra trong các bàn tay vụng về, quệt quạc trây lên
má lên mép, nom lem nhem luốc nhuốc. Ngày này qua ngày khác, tháng nọ sang tháng kia, các trò
chơi, các thú vui nghèo nàn của những đứa bé ấy diễn ra quanh quẩn bên các chân rào. Những cặp
mắt đen láy ấy, những bàn tay tí xíu ấy, những tiếng nói cười bi bô, ríu rít ấy... ngày lại ngày... bên
cạnh những bụi ổi tàu chen chúc dày đặc ở bờ rào. Bây giờ tôi còn tưởng tượng ngửi lại được cái mùi
của lá ổi tàu dập nát trên tay, cái mùi thật mạnh.

Này bạn, trong những đứa bé lúc thúc bên chân rào ấy, về sau có đứa cầm súng đánh nhau và chết
về súng đạn, có đứa từng trở thành mẹ chiến sĩ, rồi có đứa đã thành bà ngoại bà nội nhăn nheo!

Dĩ nhiên trước khi nhăn nheo họ đã trải qua một thời kỳ khác. Thời kỳ mà mắt họ long lanh, ngực
họ căng lên rạo rực, môi má của họ đỏ hồng... Tôi lớn lên, rời xa làng, thỉnh thoảng về quê, từng có
dịp gặp lại đôi người. Những cô bạn bé xíu ngày xưa giờ đâm ngượng ngùng, mặt đỏ ửng, trên một
khúc đường làng vắng vẻ họ ý tứ đứng nép sát một bờ rào (lại ổi tàu). Ánh mắt nhìn nhau, câu chào
giọng nói với nhau lúc bấy giờ, chao ôi, những cái đó sương khói thời gian lớp lớp tỏa mờ vẫn chưa
xóa lấp nổi đâu. Ở cuối trời, xa xôi tít tắp, sương khói lờ mờ cứ mãi rung lên, phải chăng là rung lên
vì những xôn xao đắm đuối chưa chịu lắng chìm hẳn.

Xin lỗi bạn, tôi có cao hứng quá không nhỉ? Tôi còn muốn nhắc thêm với bạn về một hình ảnh
nữa. Cái hình ảnh của chàng trai mới lớn, đầu đội chiếc nón cối, giữa buổi mai đứng bên bờ sông La
Tinh nghe chim hót... Ấy chết, bạn đừng nghĩ con sông La Tinh chảy đâu đó gần kinh thành La-mã,
hoặc giả quanh quẩn bên cạnh thành phố Venise thơ mộng! Không có đâu. La Tinh là tên con sông ở
quê tôi đó, bạn ơi. So với những tên tuổi lừng lẫy vừa nói qua, nó là một sự hài hước. Tuy gọi là sông,
nó bé lắm. Trong nhiều tháng trời nó cạn khô. Chỉ vào tháng chín tháng mười nước lũ mới tràn bờ; rồi
nước rút đi nhanh chóng; sang xuân là nó đã hiền khô như một con suối. Lòng sông gần như chỉ
những toàn cát với cuội. Gọi là nước, bất quá một dòng róc rách, ngoằn ngoèo cho vui vậy thôi. Ấy,
trên bờ một con sông như thế chàng ta đứng nghe chim hót. Và tay chàng thì... mãi vân vê một lá thư
tình cứ như đang lồng lên trong túi áo, lá thư tình đầu tiên!

Những con chim nào đã hót trong buổi sáng thần tiên hôm ấy? Chỉ biết ngày nay, cách xa ba
mươi năm dư, bên tai chàng còn vang vang tiếng cưởng tiếng sáo. Trời xanh trong vắt. Những con
khướu, con cưởng, con sáo ở đâu ven sông mà chúng kêu lên ong óng, kêu lanh lảnh, làm rung động
cả bầu không khí buổi mai rực rỡ. Tiếng cưởng sáo nó khua vang inh ỏi buổi mai, làm chàng nôn nao
rối loạn cả lên. Và làm cho từ đó chàng cứ có cái cảm tưởng là hạnh phúc trần gian toàn xuất hiện
dưới hình thức tiếng chim kêu!

Chúa quyền năng tha hồ làm được vô số những buổi mai như thế, cố nhiên. Nhưng trong đời
chàng, chàng không gặp lại một cơ hội tương tự. Thời gian trôi qua, mỗi lúc chàng mỗi xa cơ hội
tương tự. Phải chăng lặp lại là một việc làm thiếu sáng tạo, không xứng đáng, cho nên đấng quyền
năng nhất định không tái ban phát cho chàng buổi mai nào như thế nữa. Suốt đời chàng chỉ có thể
ngoảnh đầu ngóng về một buổi mai bên bờ sông La Tinh.

Và bờ sông ấy — tôi cam đoan với bạn — suốt từ nguồn cho đến bể, tuyệt nhiên không hề có
bóng dáng một cây liễu cây dương nào để gọi là thơ mộng. Chỉ có lau, có sậy, có tre, có dứa, có
những thứ cây loàng xoàng, cùng với... ổi tàu mà thôi.

Thành thử trong bao nhiêu năm thiếu vắng nó, mặc dù bị chế giễu vì sự dò hỏi về nó, tôi không
nản chí. Bị chế giễu, tôi tháo lui. Nhưng trong thâm tâm vẫn một mực đinh ninh: rồi sẽ có ngày... Tôi
tự an ủi: Yên chí! Chờ ngày thái bình thịnh trị, trở về làng, tha hồ tái ngộ. Đành là chiến tranh dữ thật,

nhưng bom đạn nào bột khai quang nào mà tru diệt nổi ổi tàu? Nó sẽ trơ trơ cùng tuế nguyệt. Rồi
xem: thế nào cũng lại gặp nhau mà!

Bây giờ bạn đang ở Mỹ, bạn nghe nhắc đến hình ảnh “thân yêu” của người thanh niên nón cối,
bạn cười muốn chết. Bạn cười cho cái thời vàng son của tôi chứ gì. Tốt thôi. Trong kho kỷ niệm của
chúng ta còn có nhiều mẫu hình ảnh ngộ lắm. Có câu hát:

“Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai”.
Người quân tử đội nón cối ước chừng là cháu ba bốn đời của người quân tử từng vắt lên vai thứ
khăn đậm màu nọ. Cũng như thế hệ quân tử đầu trần ở Mỹ hiện nay là con cháu của lớp quân tử đội
mũ dạ vừa qua. Thời thế đổi thay. Hình dạng người quân tử không ngớt tùy thời thay đổi. Duy ổi tàu
vẫn thế. Ở khách sạn Utah cũng như hồi ở xóm tôi.
Đến đây bạn kêu ngấy đến tận cổ rồi chứ gì? Bạn hết chịu thấu ổi tàu, bạn ngáp lên ngáp xuống,
bạn than dài thở vắn: Thư đâu có thư lê thê lòng thòng đến thế v.v... Mặc kệ! bạn không thể thoát ra
dễ dàng khỏi ổi tàu đâu. Tôi còn những mấy trang nữa dành cho bạn đấy. Không phải vì ác ý: chính
tôi cũng không thoát khỏi nó phen này. Đã khơi động đến niềm xưa, thôi thì liên miên, rứt ra không
nổi.

Hãy trở lại xóm tôi. Xóm tôi toàn những gò là gò: gò Huyện, gò Ngựa, gò Đu, gò Căng, gò Đình,
gò Cầy, gò Muồng, v.v... Cứ như chỗ tôi hiểu biết, cách đây không lâu vùng này còn là hoang địa.
Xóm tôi chưa có dấu vết văn minh. Nói cách khác, trước tôi đôi ba đời gì đó chủ quyền vùng này hãy
còn thuộc về cây cỏ và muông thú, chưa thuộc về loài người. Ông Kha-luân-bố tìm ra tân thế giới
trước, xong rồi các nhà thám hiểm vất vả còn phải nghỉ ngơi một thời gian dài, mãi về sau mới có
người tìm ra xóm tôi đấy, bạn ạ. Lúc mới tiến chiếm đất, người tạm sống chung với muông thú: chồn,
cáo, cọp beo, heo rừng v.v... Cuộc sống chung còn để lại nhiều kỷ niệm. Dân làng vẫn kể rằng trước
đây cứ đến đúng cái đêm trước ngày giỗ ông Bưng là có con cọp về ngồi ngoài hè, đưa chiếc đuôi lòn
qua ngạch cửa, quơ quất vào trong nhà. Đám con cháu phải quát đuổi om sòm lên cọp mới chịu bỏ đi.
Sở dĩ có chuyện ấy vì trước kia con cọp nọ đã vồ bắt ông Bưng trong lúc ông đang lom khom cắt
tranh; người nhà chỉ còn tìm được nửa thây ông để chôn cất.

Cọp bắt người thì thỉnh thoảng, nhưng chuyện cọp bắt heo bắt chó ở xóm tôi là chuyện thường, bà
tôi hãy còn nhớ rõ mồn một những vụ như thế. Vì vậy, ngay sau này, khi tôi đã lên năm lên bảy, vào
những lúc trời chạng vạng tối, tôi đang loanh quanh gần bà, chợt có tiếng te te cất lên đâu đó là bà tôi
liền lắng tai nghe ngóng, đầy e ngại.

Con te te, bạn biết chứ? Nó là loài chim nhỏ bằng nửa nắm tay, đặc biệt có cặp chân nhỏ và dài
lêu khêu như que hương. Nó thường kiếm ăn ở các gò. Te te, không thấy nó đi bao giờ; nó chỉ có
chạy. Bạn hãy còn xa, nó nghểnh cổ trông chừng; bạn đến gần thêm, nó vùng cắm đầu chạy một mạch
rồi dừng phắt bất ngờ. Bạn lại tiến, nó lại chạy, hay cất cánh bay luôn.

Chim thì bé mà tiếng kêu của nó vang rất xa. “Te te... ù uét! Te te... ù uét!” Tiếng cao và xẳng the
thé. Rất nhiều buổi tối, từ lúc chạng vạng cho đến bảy tám giờ đêm, thằng bé là tôi nằm trong ngôi
nhà ít người không đèn không lửa ở chỗ đồng quê quạnh vắng, nằm nghe tiếng côn trùng rỉ rả và nghe
cái tiếng lạ lùng của con te te kêu thét lên khi xa khi gần không biết từ những chỗ bìa rừng, những
khoảnh gò đống nào tràn đầy bóng tối trong khắp vùng. Tôi lo sợ chơi vơi như một mình bơ vơ giữa
cõi hồng hoang chất chứa bí ẩn, mơ hồ đe dọa. Bà tôi đinh ninh rằng hễ te te nó “đánh” vào lúc chạng
vạng tối thường thường là có cọp loanh quanh đâu đó. Te te nó nhạy lắm. Một bước động nhẹ trên
mặt đất cũng không qua khỏi tai nó.

Gạt ra một bên tất cả các định nghĩa lòng vòng cùng các tiêu chuẩn rắc rối về văn minh với văn
hóa, tôi nhất trí với những ai nhận định giản đơn rằng nơi nào có máy móc, có điện, có lắm xe, có xa
lộ mênh mông chằng chịt là văn minh, còn nơi nào người ở lẫn với cọp beo, với lợn lòi, với te te v.v...
thì còn hơi thấp văn minh. Tôi không thiên vị, không yêu xóm gò vì nền văn minh cao. Không, tôi chỉ
yêu vì nó là cõi thiên đường.

Khi tôi phải rời làng đi học trường huyện trường tỉnh, phải ở trọ nhà người ta tháng nọ sang tháng
kia, mỗi lần có dịp về, lúc còn cách nhà một vài trăm thước, là tự dưng chân tôi quýnh lên, líu quíu cả
lại, tôi gần như không bước được nữa.

Xung quanh nhà tôi toàn những gò. Muốn về nhà, dù đi đường nào tôi cũng bắt buộc phải băng
qua một cái gò.

Suốt dọc đường, trên xe lửa, xe hơi, tôi nén được niềm vui. Nhưng khi chân giẫm lên một đầu gò,
tôi trông thấy bóng dáng lẻ loi của một con te te lỏng khỏng giữa những nấm mộ lè tè, với mớ cỏ may
khô xơ xác, với những đám ổi tàu..., tức thì tim tôi nó lồng lộn lên, nó làm loạn cả lên, nó quá xá,
không sao kềm chế nổi nữa.

Tới gò là tới nhà. Tôi đã sắp đặt trong đầu bao nhiêu là kế hoạch, là trò lạ. Đã đến lúc đem ra thi
hành. Trò nào cũng hay ho, tuyệt vời, thần tình cả. Hoặc giả tôi rón rén đi rất nhẹ nhàng vào cổng, nấp
xem bà tôi đang lom khom bên luống rau nào, đang cặm cụi chăm nom những giàn cà với dây bí dây
bầu nào, tôi sẽ bước êm như ru đến đứng ngay sau lưng bà, đứng như thế mà nhất định vẫn không
chịu lên tiếng đâu, tôi đứng cho thật lâu xem bà tôi làm những gì, tôi sẽ nén cho khỏi bật cười, tôi
đứng chờ đến lúc bà tình cờ quay lại, trông thấy tôi... Lúc ấy... phải biết!

Hoặc giả tôi lẻn vào thẳng trong nhà như một cái bóng. Tôi cất mũ nón, thay đồ đạc, không để ai
nhận thấy vừa mới về, tôi làm y như thể tôi vẫn ở nguyên trong nhà với mọi người từ bao giờ, tôi vào
giường nhặt một chiếc gối mang ra nằm ngay xuống chiếc trường kỷ giữa nhà. Bà tôi có thói quen dù
làm gì ở ngoài vườn lâu lâu cũng ghé vào nhà uống một tách trà, có khi còn khều một vài lá trà tàu
trong bình ra bỏ vào miệng nhai móm mém cho thơm. Giữa hai hớp trà chợt bà ngước mắt trông thấy
tôi đang nằm... ngủ (?!) trên trường kỷ thì... ối chao ơi! Tưởng tượng đến cái cảnh bà luống cuống
quýnh quáng lúc ấy, tôi hết chịu nổi. Bà líu ríu kêu lên mấy tiếng. Thế là cô tôi, em tôi... nhào vô nhà,
cùng xúm lại la lối, cười rú. Tưởng tượng ra cảnh ấy, đột nhiên chính tôi lại đâm quýnh quáng ở đầu
gò. Lần nào cũng vậy.

Tôi có nhiều trò, nhiều mẹo lạ như thế. Tựu trung mẹo nào cũng căn cứ trên một niềm tin căn bản:
là sự hiện diện của tôi quí giá vô cùng, nó là một nguồn vui lớn lao kinh khủng, nó làm cho mọi người
mừng rỡ không thể tả được.

Ngày tôi còn bé, hai thân tôi đem nhau đi làm ăn trong Nam, vì chỗ quê hương quá nghèo nàn
không hứa hẹn gì. Tôi sống với ông bà cô chú. Các cô chú, cũng lại vì sinh kế, không luôn luôn có
mặt tại nhà. Trong nhiều năm trời thường thường không có cha mẹ nào chờ đón tôi ở gia đình, nhưng
tôi không có chút nghi ngờ gì về lòng thương yêu quí mến của mọi người đối với mình. Tự giấu mình
đi, để dành một cơn vui bất ngờ, khủng khiếp (!) cho ai nấy trong nhà, tôi tự trao cho mình cái giá
khiêm tốn của một... lô độc đắc! Tôi chọn một hình thức trao giải thật ngoạn mục, cho có một ép-phê
bùng nổ kinh hoàng. Và tôi không tính sai. Tôi thành công liên tiếp. Mỗi lần về là một chấn động. Tôi
hoan hỉ, hể hả, hài lòng về mình. Cho đến bây giờ không lúc nào thoáng nghĩ đến một mô gò xơ xác
với cỏ may hiu hắt, với ổi tàu bụi thấp bụi cao, mà tôi không rộn rã trong lòng.

Bây giờ, trên xứ này, thân tôi là một hạt cát. Sự hiện diện lạc lõng của tôi trên cõi lục địa mênh
mông này không là cái gì cả. Không có con đường nào, ngôi gò nào, lùm cây bãi cỏ nào làm tôi run
chân cả. Tôi tha hồ phất phơ lang bạt, không có nơi nào khác nơi nào, ở đây không có một nơi nào để
mà “về” cả. Có về, chẳng qua là một kiểu “về” vờ vĩnh như về Cali.

— Ủa! còn đòi gì nữa? Đời vô thủy vô chung vô cùng vô tận, ta là cát bụi trong khoảnh khắc. Bạn
không biết vậy sao?

— Bạn biết từ lời dạy của triết gia là một chuyện. Mà khi bạn thấm cái ý nghĩa cát bụi ấy mới
thấy nó thê lương là chừng nào.

Nhưng ơ này! bất chấp mọi dạy dỗ của thánh hiền, tôi cứ cam đoan với bạn: Đời ta có thể phù du,
vũ trụ có thể là hư không, nhưng ngày nào ta còn đi về một chốn quê xó xỉnh hoang vu nào đó có
chim te te với ổi tàu, ta còn là lớn lao choáng cả càn khôn, ta còn là cả một càn khôn đấy bạn ạ. Tôi
tin thế nên tôi dọn nhà đến sống bên cạnh ổi tàu đây.

Tôi thấy bạn lắc đầu ngao ngán: “Úi dào! thư với thả! Con cà con kê mãi chỉ vì một nỗi... cứt
lợn!”

Thôi thì buông tha bạn vậy. Nhưng bạn nhớ ghi lại cái địa chỉ mới của tôi trước khi vứt bỏ lá thư
chán ngắt này đấy nhé.

12 – 1987

Hoan Ca

Từ hồi nào tới giờ tôi vẫn khoái câu hát xẩm ấy:
“Buồn về một nỗi tháng giêng
Con chim cái cú nằm nghiêng thở dài
Buồn về một nỗi tháng hai v.v...”
Cứ thế buồn miết. Tháng nào cũng buồn. Dân tộc tôi ham buồn và kính trọng cái buồn. Tuy vậy,
trong trường hợp này, thực tình mà nói tôi không khoái vì nỗi buồn. Mà vì chuyện nằm nghiêng.
Không biết trời xui đất khiến thế nào một ý kiến ngộ nghĩnh như thế lại nảy ra trong đầu óc một nghệ
sĩ nào đó xa xưa. “Con chim cái cú nằm nghiêng thở dài”. Ngộ quá!
Một người có thể nghe câu hát ấy với đôi tai hờ hững là một người đắc tội. Người như vậy giá
một hôm tình cờ có gặp trên đường vài con ngựa rủ nhau khiêu vũ trên sáu chân cũng không lấy làm
ngạc nhiên, có trông thấy chiếc cầu vồng mười tám màu cũng không lấy làm ngạc nhiên. Tức là một
người không chịu xúc động trước bất cứ biểu thị ngoạn mục nào của cuộc sống, của trời đất. Đối với
người ấy, Chúa có ra sức làm phép lạ cũng vô ích thôi. Đối với người ấy, không có cái gì là lạ.
Câu hát nọ, lâu lâu tôi tưởng tượng dông dài, và càng khoái thêm. Câu lục bát “con chim cái cú”
đâu phải do một nghệ sĩ bất thần nghĩ ra, rồi viết xuống, rồi rung đùi một mình? Đó là bài hát mà. Một
người hát, trăm người nghe. Một người hát, hát biết mấy trăm mấy nghìn lần, trước biết bao nhiêu
thành phần đối tượng khác nhau: ở hè phố, trên bến tàu, ở đầu chợ, mép sông v.v... Tức là đã chịu
hằng hà sa số cuộc thử thách, và đã vượt qua tất cả. Giả sử trong một lần nào đó nó xuất hiện mà có
kẻ thắc mắc, buột miệng kêu “kỳ cục”, thì bài hát đâu có lưu truyền được lâu? Không. Tôi tin không
hề có lời thị phi nào về con cú nằm nghiêng, con cú thở dài cả. Tôi tin nó chỉ gặp toàn sự tán thưởng.
Cho nên nó cứ nằm nghiêng một mạch luôn mấy trăm năm. Hẳn là nó phải lấy làm đẹp lòng. Mà tôi
thì đắc ý về chỗ mình đã bắt kịp cái khiếu thưởng ngoạn khoáng đạt của đồng bào mình. Tôi hí hửng
như thế cho đến gần đây, sau chuyến đi chơi Hạ-uy-di về, tự dưng có “vấn đề”.
Cũng bài hát ấy:
“Buồn về một nỗi tháng năm
Chưa đặt mình nằm gà gáy chim kêu.”
Nỗi tháng năm làm tôi ái ngại quá chừng. Ca hát kiểu ấy là có ý trách đêm ngắn ngày dài. Là
phiền lòng về chỗ con chim con gà nó bắt đầu sinh hoạt quá sớm. Là ham cái ngủ mà chê cái sống.
Sao vậy cà?

Hạ-uy-di đêm tháng năm cũng ngắn. Tôi chắc nó phải tận lực bình sinh co rút hết sức, cho cùng
cực ngắn, vì áp lực thôi thúc; thế mà người ta vẫn cứ sốt ruột.

Trời chưa kịp sáng, mới bốn giờ bốn rưỡi gì đó, một sự rậm rật vô ý thức đã đánh thức tôi dậy.
Nằm nán một lúc, trông qua cửa kính, thấy ánh sáng bên ngoài đổi màu. Không chỉ còn là ánh điện.
Có một thứ ánh sáng gì khác hẩng lên rồi, không biết từ lúc nào. Và tai cũng bắt gặp những khua
khuống không thường. Đêm Hạ-uy-di nó vẫn vậy sao? nó không lúc nào an giấc cả sao? Không phải
gió dữ lộng hành, không phải mưa xối tầm tã. Chỉ là những tiếng động khẽ thôi, rời rạc thôi, nhưng
cũng đủ chứng tỏ rằng đêm Hạ-uy-di ngủ cứ chập chờn, làm cho mình cả thẹn về giấc ngủ nặng nề
của mình, ngủ một mạch tù tì luôn mấy giờ qua; thức giấc, khoác mền ra, dưới cổ ướt nhâm nhấp mồ
hôi. Mình ngủ nghê cách nào mà thô tục thấy rõ.

Chợt có tiếng gì như tiếng huýt sáo mồm? Tiếng mỗi lúc mỗi lớn thêm rất nhanh. Không còn ngờ
gì nữa. Tôi xô cửa, chạy ra bao lơn, nhìn xuống. Một người đàn ông bưng cái khay nhựa, trên có năm
chiếc ly nhựa đậy nắp trắng toát, bước nhanh qua trước cửa phòng tôi. Đó là một người vạm vỡ mà
thấp, da đậm màu, mình trần, ngực nhiều lông, chân mang dép. Thoáng trông thấy bóng tôi xuất hiện,
ông ta ngước mặt lên, giơ bàn tay phải với ngón trỏ và ngón cái khoanh một vòng tròn: dấu hiệu “Tốt.
Tốt lắm.” Cái gì tốt? Ông ta giải thích vắn tắt: “Ở hành lang khách sạn.”

Tôi tự trách mình chậm hiểu. Cái gì xảy ra ngoài chỗ hành lang vào giờ này? Tất nhiên một người
đang huýt sáo mồm bước đi nhún nhẩy thế kia không thể loan một tin tức án mạng. Vậy thì ở chỗ
hành lang phía mép bể kia đang diễn ra một vũ hội bán phần loã thể chăng?

Tôi vội vội vàng vàng, đánh răng súc miệng qua loa, chải tóc qua loa, bương bả đi về chỗ mách
bảo, bụng bảo dạ: “Ấy. Những món vũ như thế dám chấm dứt cấp kỳ trước khi bình minh ló dạng lắm
đa. Thì con người tốt bụng nọ không phải đã mang tấm lưng trần về phòng rồi đó sao? Biết bao tấm
lưng nõn nà khác đang lẩn trốn? Không khéo lỡ hội Long Hoa mất!”

May quá, tôi không hề lỡ hội. Tôi đến nơi, chen vào giữa đám người hớn hở, chào mừng nhau,
chúc tụng lẫn nhau, nói cười hể hả, trong khi chờ đón nhận một ly cà-phê nóng hổi, hoàn toàn miễn
phí. Trong khoảng hành lang đèn đuốc sáng trưng, ai nấy rộn ràng, lăng xăng, kẻ rắc vào ly thêm tí
kem, người rót chút sữa, kẻ khuấy đường lia lịa... Ánh điện thì sáng choang, không khí thì thơm lừng:
tôi không tưởng tượng ra một khung cảnh bình minh nào kích thích hơn. Cái hoạt động vào lúc mặt
trời chưa kịp ló dạng, trong một gian phòng ngào ngạt mùi cà-phê, là một cảnh hoạt động lạ lùng, nó
làm phấn chấn hẳn con người. Lao vào đám người ấy, tôi bị cuốn phăng tới, tôi quên mọi chuyện:
Mình có thực sự cần cà-phê không? có phải đang định đi kiếm cà-phê mà uống không? uống gấp gáp
hối hả vào giờ này để làm gì? để kịp một chuyến khởi hành quan trọng nào? kịp bắt đầu một công tác
khẩn trương nào? Không thắc mắc về ba cái lỉnh kỉnh ấy, tôi xông vào làm theo mọi người: cũng bốc
ngay một cái cốc, cũng vồ lấy chiếc que, lọ đường, bình sữa v.v..., cũng khuấy lia khuấy lịa. Vô ý
thức, tôi hoạt động vì hoạt động (cũng như nghệ thuật vị nghệ thuật).

Có cốc cà-phê trên tay, lững đững bước tới cửa, bấy giờ tôi mới ngớ ra: Đi đâu? Về lại phòng mà
ngủ tiếp chăng? Mua tờ báo, bật đèn lên ngồi đọc chờ sáng chăng? Quay trở lại chỗ hành lang rộn rịp
này, kéo chiếc ghế ngồi nhấm nháp chăng?...

Chợt một ý kiến nảy ra: tôi theo chân mấy người vừa vượt qua mặt, rẽ về phía bãi bể. Ở đó tôi bắt
gặp ý nghĩa của một buổi sáng tháng năm, vào cái lúc “gà gáy chim kêu”. Ở đó, quặt một tay vớ chiếc
ghế nhựa kéo đến bên một gốc cây bàng, sửa ghế cho ngay ngắn, tôi ngồi xuống, gác chân lên một
gốc cây khô chưa kịp dọn nằm cạnh đấy, tay kia nâng cốc cà-phê lên tợp liền mấy tợp, hít hít cái mùi
cà-phê trộn lẫn với mùi sương mai mùi nước bể, rồi ghếch mỏ nhìn mông ra mặt nước với chân trời...,
đột nhiên tôi “ngộ” cái nghĩa sống trên cõi đời quí báu. Tôi ngộ cái một, không kịp tốn một sát-na suy
tưởng nào.

Bạn định hỏi tôi bãi bể ở chỗ ấy nó đẹp cách nào? cát nó phẳng nó mịn ra làm sao? màu trời ở đấy
xanh kiểu nào? cái gió cái mây buổi mai ấy nó đặc biệt ra sao? v.v... Phải vậy không? — Ấy, đừng!
Bạn đừng hạch hỏi, tra vấn nhiều quá. Lỡ tôi bốc lên tán bậy huyên thiên, phải tội chết. Tôi là kẻ yếu
lòng. Hứng lên rất có thể tôi khoác lác, khiến thiên hạ bực mình. Ai mà không bực mình khi bị những
lời lẽ ba hoa thiên địa vã tới tấp vào tai? cái ba hoa của một kẻ đi chưa được nửa ngày đường đã đòi
rùm beng.

Bạn hỏi là kẹt cho tôi! Vả lại không cần hỏi ai cả. Bạn chỉ cần đến đấy, một chỗ xa cách mọi công
việc bận bịu, ngồi xuống nơi lằn ranh giới giữa đất và nước, vào cái giờ ranh giới giữa đêm với ngày,
thế thôi. Thế là tất cả năm giác quan của bạn sẽ bỏ phiếu theo tôi, theo cảm tưởng của tôi. Cái làn da
của bạn nó vui, lá phổi của bạn nó phập phồng phởn phơ, từ cái tai cái mắt cái mũi, cho đến cái thần
trí của bạn, tất cả chúng đều thấy khinh khoái. Bạn sẽ thông cảm với tôi ngay.

Lúc này tôi không dám giấu bạn điều gì, và xin thú thực rất khẽ vào tai bạn: Bấy giờ tôi chẳng hề
có được một ý nghĩ nhỏ nào trong đầu, cũng không hề triển thi một môn thuật nào, hoặc hít khí hạo
nhiên đưa thẳng vào đan điền nhốt lại, hoặc vận khí công chuyển lang thang khắp huyệt nọ huyệt kia
v.v... Bấy giờ tôi rổng như cái xị mà một tửu đồ vất ra sau khi nốc cạn giọt đế cuối cùng. Tôi ngồi
trống trơ hàng giờ. Xung quanh tôi cũng thế: chỗ này một chiếc ghế trắng, chỗ kia vài chiếc ghế khác
chiếc xanh chiếc vàng v.v..., trong cái nhá nhem trước bình minh những khối đen lù lù ấy cũng lặng
lờ, cũng im thin thít như tôi, cũng thỉnh thoảng làm một tợp cà-phê, hít một khói thuốc. Và chúng tôi
cứ thế mà... sung sướng. Sung sướng cùng mình.

Bạn không tin? Vâng, bạn đừng tin điều gì trước khi bằng cớ được trưng ra. Và bằng cớ thì lúc
trời dần dần hửng sáng, tôi bắt đầu góp nhặt đây đó được dăm ba cái cớ để trình bạn. Tôi không phao
truyền một tin lành, một niềm vui vô căn cứ. Xin trình:

Thoạt tiên là những mẫu tàn thuốc quanh chân ghế. Nhiều lắm. Trông bẩn mắt lắm, bạn ạ. Bẩn
mắt mình, và nhất định là bẩn mắt luôn đám quản lý khách sạn. Tất nhiên phải có nhân công thuê làm
công việc dọn tàn thuốc cho sạch sẽ khoảng bãi bể trước mặt khách sạn. Nhưng không cách nào dọn
kịp. Không phải vì lẽ ở Hạ-uy-di tàn thuốc nó có tài đẻ thêm tàn thuốc tới tấp. Mà chỉ vì sự sống ở
đây nó thao thức không ngừng.

Ngày tháng năm thì dài, mà đêm đến mình vẫn không ngủ được. Ngoài bãi lại có tiếng nói tiếng
cười, trên các lối đi cứ có bóng người loáng thoáng, nước bể cứ rập rình mãi, trên trời thì hằng hà sa
số vì sao cứ thi nhau sáng, sao lớn sao bé chập chùng nô nức cứ lao nhao như hội như hè giữa thinh
không suốt đêm v.v...; ngoảnh qua ngoảnh lại khắp trời đất chưa có thứ gì chịu ngủ cả thì mình ngủ
thế quái nào được. Cho nên nếu mình không tham gia một hoạt động nào cho vui nhộn, ít nhất cũng
cầm đôi ba lon bia và gói mực khô hay tôm khô gì đó, ra biển với một vài người bạn. Thế rồi người
thức thì thuốc điếu chúng nó cũng thức theo, thỉnh thoảng nó lóe sáng một cái trong khoảng bóng tối
một tàn cây bàng, thỉnh thoảng một mẫu tàn bị vứt xuống cát giật mình bắn ra mấy tia lửa nhỏ giận
dữ. Những tàn thuốc của đêm khuya vừa nhắm con mắt sáng rực của chúng được một lát thì lác đác
những mẫu tàn thuốc đón đợi bình minh đã kế tiếp nằm lóm đóm trên bãi.

Sự sống của hôm trước không chịu tắt, chịu nghỉ; sự sống của hôm sau lại không chịu chờ. Nó
không kiên nhẫn, nó không nhường nhịn. Nó nhấp nhổm, nó rậm rật, rốt cuộc nó bắt đầu trước cái lúc
được phép bắt đầu. Vì vậy mà hôm trước với hôm sau suýt nữa va chạm nhau.

Tàn thuốc lặng lẽ tiết lộ niềm hân hoan của con người, cái rạo rực của sự sống là như thế. Và như
thế tôi chợt ái ngại về nỗi tháng năm ở xứ mình. Ở đây ngày không đủ dài cho cái chơi, cái sống; ở
mình đêm quá ngắn, không đủ cho một chút nghỉ ngơi. Mình vất vả quá. Thương lắm thay.

Bạn không thích loại bằng cớ bẩn thỉu vừa được trưng dẫn chăng? Tôi xin trình bạn loại khác vậy.
Lúc ánh sáng còn chưa đủ để nom rõ mặt người, cách tôi chừng chục thước tây có anh chàng hai
tay bưng hai ly cà-phê, đã ngồi xuống một chiếc ghế lại còn lấy chân khều thêm chiếc ghế nữa đến
bên cạnh. Anh ta ngồi xuống được một lát thì từ trong khách sạn te tái chạy ra một thiếu nữ. A! Cô
nàng còn mãi bận nhiều công việc trước chiếc gương nên chậm trễ. Cô phăng phăng lao tới, nhảy tót
vào lòng anh chàng Hai Ly, khiến anh ta phải giang rộng cánh tay ra để nước khỏi chao đổ lên người.
An tọa vào ngôi vị hạnh phúc xong, cô nàng cười ngặt nghẽo, rồi níu lấy một cánh tay anh Hai Ly,
kéo vào tận môi mình một ly để cô ta khánh thành hớp nước thơm đầu tiên trong ngày.
Sau đó, anh chàng hạ hai tay xuống, ôm vòng trước ngực cô bạn. Họ ngồi yên, và sung sướng...
cùng mình.
Rồi trời sáng rõ hơn nữa, đủ để tôi đoán con người đang đứng cách tôi ba thước tây là một người
Phi-luật-tân. Mái tóc muối tiêu thật ướt, chải lật ngược ra sau, phủ ót. Quần jeans, áo sơ-mi màu vàng
tươi; áo quần thật sạch sẽ, khô dòn. Ông bạn cài một chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ gắt lủng lẳng bên
hông. Một tay ly cà-phê, một tay kẹp điếu thuốc. Tôi chưa hề trông thấy ai phô diễn sự hài lòng lặng
lẽ mà hùng hồn như ông bạn. Hít thật sâu một khói thuốc, khuỳnh rộng vòng tay nâng ly cà-phê lên,
nghiêng người cúi đầu hớp một hớp nóng hổi, rồi thở khói ra ào ào bát ngát giữa trời. Ông bạn không
đơn điệu: lúc phun khói bằng mồm, lúc xịt khói bằng mũi, lúc ngước mặt lên mà phà, lúc cúi đầu
xuống mà thổi v.v... Kiểu nào trông cũng hay ho cả. Không có một kiểu nào hững hờ, máy móc, như
cái ăn cái hút đều đều trong cuộc sống thường nhật buồn tẻ. Ở ông bạn, mỗi khói thuốc là một sáng
tạo.
Ông bạn đứng thì dạng chân ra. Nhưng ông bạn không đứng yên: một khói thuốc, đi tới mấy
bước, đạp chân vào gốc cây nhún thử mấy cái, thu chân về, dạng chân ra; một hớp cà-phê, quay ra, dí
mũi giày xuống đất, dấm dứ mấy cái, lại thu chân về, dạng chân ra; ông dùng ngón trỏ đập lên điếu
thuốc, dùng ngón út gạt rụng tàn thuốc; khịt mũi, quẫy mạnh đầu, nghiêng mặt dùng lòng bàn tay đỡ
cằm thốc mạnh lên một cái, bẻ cần cổ cho máu huyết lưu thông (?) v.v... Và ông bạn cựa quậy đến
đâu thì chiếc mũ lưỡi trai cựa quậy đến đó. Khắp người ông bạn là một niềm hân hoan. Không phải

thứ hân hoan e dè, mà là thứ hân hoan rậm rật nó không cho phép một đường gân thớ thịt nào được uể
oải, được yên nghỉ.

Có điều làm tôi ân hận. Số là niềm vui nọ có sức thu hút cao: mắt tôi bất giác cứ hướng mãi về
ông, khiến ông bạn tự dưng cảm thấy bất an. Phun khói thuốc lên trời xong, ông bạn quất một khóe
mắt về phía tôi; thổi một khói thuốc xuống đất xong, ông bạn lại liếc qua về phía tôi v.v... Tôi áy náy,
rồi sợ hãi, lấy làm phiền lòng về mình, tự trách thái độ khiếm nhã của mình. Tôi vật vã kêu thầm
trong bụng: “Oan cho tôi lắm, ông bạn ạ! Tôi không hề có ý chế giễu chút nào. Sự hài lòng về mình,
sự hài lòng lộ liễu về cuộc sống, về một khoảnh khắc an lành nào đó của cuộc sống, những cái đó
không bao giờ lố bịch cả. Ông bạn hồ nghi về ý nghĩa sự quan sát lén lút vụng trộm chăng? Cái lén lút
ấy chỉ nhằm giấu giếm một lòng ganh tị, ao ước, thèm muốn thôi. Ông bạn hãy nhún nhẩy thêm nữa
vào, cứ việc ve vẩy thêm nữa, để cho những kẻ xấu tính hay ganh tị, những kẻ ấy uất lồng lên. Tôi sẵn
sàng đón chịu sự trừng phạt...”

Ấy, khi lũ tàn thuốc thao thức tiếp nhau lóe lên ngoài bãi, khi anh chị Hai Ly tọa vị trên ghế mà
tưởng trôi trên mây, khi đàn sáo cứ bay lên đáp xuống giữa khoảng bãi cỏ và các ngọn dừa, kêu ong
óng vang cả bình minh v.v...; xin tưởng tượng xem: Khi ấy mà tôi còn nằm chình ình một đống trên
giường, ngáy ồ ồ, ngủ mê ngủ mệt, ngủ lăn ngủ lóc, mồ hôi mồ kê đầm đìa, thỉnh thoảng mớ mết ú ớ
mấy tiếng, ngủ như một đứa trẻ chưa dứt sữa mẹ, như một gã tục tử sau đêm trác táng, say sưa, sau
một đêm bài bạc... Hoặc giả như một tên dân thành thị ở lục địa, tất tưởi bôn ba đầu tắt mặt tối vì
công việc! Tưởng tượng ra như thế, cái đống lù lù trong phòng một khách sạn Hạ-uy-di vào lúc bình
minh trông nó thô tục biết chừng nào.

May mắn làm sao, nhờ một tiếng huýt sáo mồm mà tôi thức dậy gần kịp thời, bắt gần kịp nhịp
sống địa phương, mà tôi bắt theo gần kịp ông bạn Phi-luật-tân. Ông bạn, mũ kết đã lủng lẳng cài
ngang hông rồi, tức là đã sẵn sàng. Sau bãi bể là cuộc họp, sau cuộc họp là ông bạn chụp chiếc mũ lên
đầu, vù luôn. Còn tôi — ấy chết — tôi phải chạy về phòng chỉnh đốn y phục dung nghi, xếp đồ lặt vặt
vào túi hành trang, tất cả phải nhanh nhanh một chút để khỏi trễ buổi họp.

Họp cái gì vậy? Chấn hưng kinh tế chăng? Mở rộng tự do chăng? Đoàn kết đấu tranh chăng? —
Ấy, đừng có om sòm như thế. Ở đây, chỉ có một đề tài thôi. Mọi hoạt động chỉ nhằm một chuyện:
Chơi.

Chiều hôm qua, sau mười tiếng đồng hồ rong chơi hết rừng này bãi kia đến núi gần đồi xa, trở về
khách sạn, vừa xô cánh cửa bước vào phòng đã thấy có kẻ nào lòn vào một tờ giấy mời họp. Hứa hẹn
có thuyết trình viên kinh nghiện lão luyện. Thuyết trình về... nghề chơi. Đúng tám giờ, người lão
luyện thao thao: Bãi nào nông bãi nào sâu? Muốn lặn xem cá màu đáy bể thì đi đâu? Muốn phóng
ngựa đồi hoang đi ngả nào? Ăn luau có bao nhiêu nơi tổ chức? Du thuyền chạy ven đảo có mấy hãng
chuyên trách? v.v... Nhao nhao hỏi đáp náo nhiệt một hồi; rồi xổ số. Người này trúng hai chỗ ngồi
trên trực thăng bay quanh đảo; người khác trúng cái vé cưỡi ngựa xem hoa; người khác nữa trúng vé
đi thuyền ra khơi và lặn xem cá v.v... Vỗ tay mừng đôm đốp. Rồi kẻ trúng người không cùng rời
phòng họp toả ra, xông vào cuộc chơi cho đến chiều.

Chơi là lẽ sống của kẻ đến Hạ-uy-di, là nguồn sống của người ở Hạ-uy-di. Quanh năm thiên hạ
các nơi lũ lượt kéo đến đây vui chơi, mùa hè cũng như mùa đông. Và ở đây trăm nghề hầu hết là nghề
phục vụ du khách bốn phương.

Tôi đến đảo Kauai vào những ngày mà ông Gorbachev thăm viếng Hoa Kỳ. Buổi tối, bật ti-vi lên,
vặn ngược vặn xuôi khắp các đài, tôi không bắt gặp bóng dáng nhân vật nọ đâu cả. Chỉ có bãi tắm, có
thác nước đổ ào ào giữa cảnh rừng xanh sum sê cây cỏ! Chỉ có những toà khách sạn lộng lẫy chiếm cả
từng khu vực mênh mông, với hồ, với rạch đào ngoằng ngoèo cho khách chèo outrigger nhởn nhơ, có
đảo nhân tạo đắp lên cho hạc cho công cho trĩ nó múa v.v... Tôi không có ý cam đoan rằng truyền
hình Hạ-uy-di tuyệt đối cấm cửa các chính khách; tuy nhiên muốn tìm cho được khuôn mặt ông
Gorbachev hay khuôn mặt ông Bush dưới khóm lá bụi hoa nào đó, công phu lắm đa. Chắc là phải chờ
đợi lâu lắc, phải kiên nhẫn lắm. Tôi không có đức kiên nhẫn. Sau một ngày đường vất vả, tôi ngủ khò
trước khi kịp thấy mặt lãnh tụ hai siêu cường.

Hôm sau, có tin tổng thống Nam Hàn bay sang Cựu-kim-sơn để gặp Gorbachev, làm cho Kim
Nhật Thành lồng lộn lên. Tôi lấy làm tò mò quá, đến quầy báo mua một tờ xem thử. Ơ kìa! không hề
có những cái nhảm nhí ấy trên báo chí Kauai. Tuyệt không! Garden Island Extra là một tờ báo kỳ cựu
ra đời từ đầu thế kỷ; giá có dịp lưu lạc sang ta nó là một bậc huynh trưởng đấy. “Đảo Vườn” là mỹ
danh của Kauai, vì đảo này cây cối um tùm xanh tốt như một khu vườn lớn. “Vườn ai mướt quá xanh
như ngọc.” Tờ báo của Đảo Vườn ra mỗi tuần một số mười hai trang. Phần quan trọng nhất (hai trang)
dành cho mục gia chánh! (Tuesday’s kitchen. Báo phát hành mỗi ngày thứ ba). Trang một loan các tin
chấn động: hoạt động của những ông bà thị trưởng, nghị viên, dân biểu địa phương, của một trại chủ
nuôi được con bò to tướng sắp mang đi đấu xảo tại hội chợ nông nghiệp ở Lihue hay có thể tận
Waikiki chẳng hạn v.v... Phần còn lại tất nhiên là của nền văn minh vui chơi: lại trượt nước, lại bơi
lội, ăn luau, lại câu cá, ngắm cá v.v...

Những ai không theo phép tắc địa phương, không tuân lệ làng, đều bị phạt vạ nặng nề. Thật vậy,
tôi quay ra hỏi mua một tờ Los Angeles Times: một đồng bảy mươi lăm xu! Gấp bảy giá bán tại Eo Ê.
Đáng đời những kẻ táy máy, đã đến đây còn đòi bận tâm theo dõi cái vớ vẩn xa vời.

Lệ làng có thưởng tất có phạt chứ. Những tách cà-phê miễn phí phát ra vô hạn định mỗi buổi sáng
là thưởng đấy, còn gì nữa? Trước bảy giờ nhà hàng chưa mở cửa bán bữa ăn mai, mà cuộc sống ở Hạ-
uy-di thì nó không thể chờ đợi đến bữa ăn mai. Đối với những ai biết hưởng ứng theo địa phương, biết
tỏ ra sốt sắng đối với cuộc sống, Hạ-uy-di vui vẻ chiều chuộng ngay. Sau bảy giờ, hạng sống lười
sống lĩnh sống uể sống oải uống một giọt là phải trả tiền một giọt. Sau bảy giờ, Hạ-uy-di sòng phẳng
như mọi nơi trên thế gian.

Cái chơi ở đây là cái thiêng liêng.
Tại thung lũng Kakalau thuộc đảo Kauai, trên một ngọn đồi có mỏm đá Tiên Đồng. Kìa, trẻ con
làm gì, trông chờ ai mà đến nỗi hoá đá? Trông cha lặn lội trèo non vượt núi đi “giải phóng” chăng?
Trẻ con đã làm gì có công lao hiển hách mà nên tượng, mà thành tiên thành thần. Chúng cưỡi ngựa sắt
đánh giặc Ân chăng? — Không đâu. Đấy là hai đứa trẻ biết chơi thôi mà. Tục truyền rằng xưa kia vào
một đêm trăng có hai tiên đồng xuống trần gian giỡn trăng vui đùa mải mê quên về. Lúc mặt trời lóe
sáng, cả hai bị hoá đá.
Trẻ xưa biết chơi, trẻ nay càng biết chơi. Trẻ trai biết chơi, trẻ gái càng biết chơi. Trong một cuốn
sách gọi là tiểu thuyết, cuốn Hawaii của James A. Michener, hồi đệ nhị thế chiến một thiếu tá mang
quân hàm đại tá giả định trong một phái đoàn Hoa Kỳ sang đảo Bora Bora lo quốc quân trọng sự.
Trong những ngày bàn quốc sự, phái đoàn không được mời ở khách sạn đâu. Mỗi vị có một túp lều
tranh với một... quả tim vàng. Riêng phần đại tá Hale cô bé tiếp ông chỉ lớn hơn con gái ông có một
tuổi. Cô bé mười lăm tuổi nọ được bố mừng tuổi bằng cách cất cho ngôi nhà con con gần bãi bể để
vui hưởng lạc thú đến tận cùng thỏa mãn trong thời gian trước khi lấy chồng.
Buổi sáng cuối cùng cùng nhau trên bãi bể cô bé hỏi và được vị đại tá bảo rằng ở lục địa Hoa Kỳ
không có phong tục như thế, cô ta buồn xo: “Thật đáng tiếc. Năm tháng qua nhanh lắm mà. Chẳng
mấy chốc...” Cô bé chỉ về phía một bà lão đang còng lưng mò bắt từng con sò trên bãi, nói một câu
tiếng Pháp theo giọng địa phương: “Et bientôt c’est tout fini et nous ne jouons plus.”1
Ối Trời! Không chơi nữa thì còn gì là đời! là cuộc sống!
Thế cho nên tiên chơi lấn sang ngày, mà người thì chơi lấn về đêm. Và chơi quanh năm...
“Tháng giêng ăn tết ở nhà,
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè...”
Tháng tư, tháng năm, tháng sáu..., cứ thế chơi miết. Tất cả sẽ thành tiên đồng tiên lão. Ở đây
không có sự phân biệt: Thứ bảy chủ nhật là ngày nghỉ ngày chơi đã đành. Thế thứ hai là ngày gì? Là
ngày phè phỡn đấy. Còn thứ ba thứ tư, là những ngày gì? Thưa, là những ngày nhởn nhơ... Ngày nào
cũng là ngày của Chúa cả, xin đừng phân biệt. Hãy hỏi ông thuyết trình viên lão luyện ở các cuộc họp
tám giờ mai thì biết. Ôi, Hạ-uy-di!
Ở Hạ-uy-di nếu có ngày kiêng cữ, có một tháng ngừng chơi, tất xảy ra trục trặc lớn ngay. Trăm
nghề sẽ bị chấn động to. Sinh hoạt xã hội tha hồ điên đảo. Đảo Bora Bora của cô bé Tehani nọ chính
là quê xưa đất tổ của dân Hạ-uy-di. Xứng nguồn xứng ngọn lắm.

Từ Hạ-uy-di nhìn về nguồn như thế; từ Hạ-uy-di nhìn ra ngoài vũ trụ xa xăm cũng có thể bắt gặp
một lời nhắn nhủ như thế lắm. Viễn vọng đài Keck từ ngọn núi Mauna Kea vừa chụp hình được giải
thiên hà NGC 1232 nào đó cách quả đất 65 triệu năm ánh sáng. Mỗi năm ánh sáng là cả một khoảng
cách chúng ta ước chừng sáu nghìn tỉ dặm đường đấy.

Viễn vọng kính đài Keck là cái kính mạnh nhất, lớn nhất thế giới hiện thời. Thành thử tại Hạ-uy-
di, chúng ta có khung cửa sổ lớn nhất để loài người nhìn ra vũ trụ, ra cái Mênh Mông hãi hùng. Cái
Mênh Mông còn có lời nhắn nhủ nào khác lời bé Tehani!

Giữa Mênh Mông Vô Thủy Vô Chung, mỗi đêm khuya mỗi mai sớm, bên một mép nước đại
dương, tay bưng cốc cà-phê, ngồi mà rình xem cái chân diện mục của từng phút giây. Hồi hộp, run lên
vì cái rạo rực ngấm ngầm trong mỗi phút giây. Chẳng phải là điều nên làm sao?

12 - 1990

1 “Chẳng mấy chốc mọi chuyện qua đi và chúng ta sẽ chấm dứt cuộc chơi.”

Cô Quì Còn Không?

Bình Nguyên Lộc có tập truyện bằng văn vần, gọi là Thơ Ba Mén. Truyện ấy hình như chưa bao
giờ xuất bản. Thơ Ba Mén là thơ thế nào, tôi không biết. Chỉ tình cờ biết qua lời khai từ, trên vài chục
câu. Và chỉ nhớ vài câu:

“Ghe ơi, vài bữa ghe về
Nhắn người dưới ruộng, cô Quì còn không?”
“Ghe ơi”, ghe ấy tức những chiếc ghe thương hồ đậu ở bến sông Ông Lãnh một buổi sáng mưa
dầm. Trong thời chiến tranh, chốn nông thôn bất an, lắm kẻ bỏ quê lên tỉnh sinh sống. Trong số những
kẻ ấy có người đã yên thân làm ăn ở Sài Gòn; nhưng thân có yên mà lòng chưa chịu yên. Những hôm
mưa rơi nhẹ nhàng, tiết trời lành lạnh, người nọ ra bến sông, ngồi uống tách cà-phê nóng ở một quán
nhỏ, nhìn lũ ghe thương hồ từ dưới quê chở nông phẩm lên bán mà nhớ về làng xóm cũ. Ghe đi vài
bữa ghe về, mà mình thì biền biệt, nhớ cô Quì muốn chết. Một ông khách bới tóc (tức cũng người gốc
quê) ngồi bàn bên cạnh liếc sang có trông thấy người nọ khóc trộm. Thảm quá.
Vì bấy nhiêu mà tôi không quên được thơ Ba Mén. Mà tôi bị thơ Ba Mén ám ảnh.
Áng chừng người nọ bỏ quê ra đi cũng không lâu mấy. Cô Quì vẫn còn gọi được là cô Quì thì xa
cách có gì là lâu. Xa như chúng ta — một số đông đảo trong chúng ta, những kẻ rời bỏ xóm làng từ
tuổi đôi mươi cho đến tận cuối đời — xa nhau đến thế thì nhớ về người cũ đâu còn nỡ gọi nhau là cô!
Từ lục tuần thất tuần về sau, dẫu có còn đấy các cô Quì cũng thành ra cụ Quì cả thôi.
Đàng này, mới tách lìa nhau đấy đã mếu máo, đã rối rít: “Cô Quì còn không?” — Làm gì mà chả
còn. Lo sao lo quá lắm vậy.

Giờ tạm gác qua chuyện tuổi tác, tuổi cô tuổi cụ.
Trước, hãy nói về những cô Quì muôn thuở. Muôn thuở và muôn phương luôn. Những cô Quì
làm cuống quít người khác phái khắp cùng đó đây.
Sống giữa Sài Gòn, ngày ngày lội ngược lội xuôi các con phố đông nghìn nghịt, bộ người đàn ông
nọ không gặp được cô nào vừa mắt, khả dĩ sánh với người dưới ruộng sao? Sức mê hoặc nằm ở chỗ
dưới ruộng chăng? Chốn lâu đài phố xá là không đáng kể, phải gốc “dưới ruộng” mới hấp dẫn chăng?
— Giả thiết ấy nghe rối trí quá. Trong kháng chiến, có những kẻ bỏ thành đi khu lại quay quắt nhớ về
mấy bóng hồng ở một căn gác nhỏ ngay tại Hà Nội:
“Gác Dì Năm thuở ấy họp bình thơ
Người trong cuộc bây giờ đâu nhạn cá?”
Nguyễn Tuân đấy. Vũ Hoàng Chương đấy. Quê nhớ thành đấy.
Cô Quì không nhất thiết ở một nơi nào. Có thể tin rằng người bỏ Cà Mau đi làm ăn xa thì nhớ da
nhớ diết cô Quì Cà Mau, kẻ di cư rời Phát Diệm Bùi Chu thì mơ tưởng bóng hình cô Quì Bùi Chu
Phát Diệm... Ở đâu mà không có một cô Quì? Cô Quì ruộng, cô Quì thành, cô Quì da đen, cô Quì tóc
vàng, cô Quì Trường Sơn, cô Quì Vàm Cỏ, cô Quì Hương Giang, cô Quì Trèm Trẹm, cô Quì thảnh
thơi giữa đồng xanh bát ngát, cô Quì tơi tả dưới bom đạn mịt mù v.v... Cô nào cũng là cô độc nhất vô
nhị trên đời, tuyệt không thể thay thế được. Tách rời một cái là tha hồ đau lòng mỏi miệng như con
cuốc cuốc cái gia gia.
Ông Trời khôn ngoan, láu lỉnh, đã đặt để ra như thế. Nếu không thế sẽ không có cách nào ngăn
cản nổi người giết sạch người. Nếu trên thế gian chỉ có một người đẹp thôi thì chúng sinh còn có cách
giải quyết nào khác cách giết nhau? Cho nên người độc nhất phải là người vô số. Mầu nhiệm thay.

Thuở thơ ấu ta đã có mắt tinh vi, thấy được con dế trốn dưới cỏ, thấy ổ sáo con nằm sâu trong
bộng cây, thấy từng cái kẹo trong túi áo của bà nội bà ngoại... Chớm tuổi đôi mươi thì ta có mắt thần.

Gậy tiên chỉ vào, hòn đất hóa cục vàng. Gậy tiên quí vậy nên cực hiếm, nên huyền hoặc. Mắt thần
càng quí hơn, nhưng mỗi người mỗi có. Con bé hàng xóm vẫn gặp nhau hàng ngày, vẫn tranh nhau

trái me trái ổi cãi cọ chí chóe; lớn lên, một ngày nào đó ta được trao cho mắt thần, trông lại con bé
bỗng ngẩn ngơ: Cô Quì đây rồi.

Cô Quì xuất thế, mọi sự đổi thay. Ta vừa mở cánh cửa bước sang một cuộc đời khác. Ta trông ánh
sáng cách khác, nghe tiếng gió thổi cách khác. Ta biết những cảm xúc mới lạ, những cảm xúc chưa
từng. Nhìn lại từng bộ phận nhân thể của chính mình, ta ngỡ ngàng. Ta không còn nhận ra ta nữa: ta
thay đổi từ vóc vạc, giọng nói, cho tới cái hơi thở. Ta như con rắn lột da, thành con rắn khác.

Ta đối với ta còn thế, huống hồ đối với người khác. Cho nên cô Quì là một khám phá: dẫu gần gũi
cũng hóa ra mới lạ. Làm ta ngây ngất, mê tơi. Nhờ mắt thần, mỗi chàng trai đều có được một cô Quì
tuyệt vời.

Nguyên một sự thay đổi ở ta đã thế, huống hồ laị có sự thay đổi cùng lúc về phía cô Quì. Thì ở cô
cũng có chứ sao không? Đến tuổi ấy, cô mở mắt trông ta, bỗng ngạc nhiên, bỗng đắm đuối. Ta đã
thành một cậu Quì rồi. Cô ấy với cậu ấy, chao ôi!

Trên thế gian vẫn có bày sẵn nhiều món quí. Tạm ghé nơi này trong chốc lát, chúng ta được thết
đãi tử tế. Thượng Đế đâu có bỏn xẻn. Nhưng hoa quả thịt cá, có ăn mới thấy ngon; rượu, có uống mới
thấy khoái; thuốc, có hút mới thú, mới đã. Cô với cậu thì chỉ có nhau, chỉ bên nhau, là hoan hỉ đã vô
ngần. “Em đi chàng theo sau”. Thế là “em” đã vui sướng, đã mở hội trong lòng, đã cuống cả chân. Em
đi, em có làm gì chàng đâu? chàng có làm gì em đâu? Em là gái nhà lành, gái khuê các, em là con nhà
gia giáo, chàng con nhà lễ nghĩa. Không hề có chuyện lườm qua liếc lại, cười qua cợt lại; chỉ mới bén
cái hơi là mê tơi rồi. Chỉ một cái hơi bên cạnh. Chỉ có em đây có anh đấy, chỉ là “có”, tức khắc sảng
khoái cả tinh thần rồi. Rượu với thuốc phiện mà đến ngồi bên cạnh đã hả hê được à?

Đến đây đâu đã hết cái hay ho của cô với cậu. Trẻ với kẹo: chỉ có trẻ yêu kẹo, kẹo không yêu trẻ.
Người với rượu: chỉ có người nghiện rượu, rượu không nghiện người. Xưa nay không ai bắt gặp có
kẹo nào náo nức trong hũ trong lọ. Không ai bắt gặp rượu nào xôn xao rạo rực trong ve. Đàng này, cô
với cậu thì... ối, không gian như chứa đầy những tín hiệu tìm nhau xao xác. “Không gian như có dây
tơ”. Trai gái mỗi bước mỗi vướng chạm cái mạng tơ giăng tình cảm. Cứ ra khỏi cửa là háo hức tưởng
chừng nơi góc phố này ngã ba kia, con hẻm kia vườn hoa nọ... đều có thể gặp một mối tình đang lấp
ló đợi chờ. Nơi này một ánh mắt chỗ kia một nụ cười. Trong sương sớm, trong nắng vàng, đều có thể
phục sẵn những tình cảm vu vơ mà nồng nàn. Những mối-tình-khả-dĩ rập rình đợi khắp đó đây.

Thế rồi mai kia, từ một nơi xa hơn bờ sông Ông Lãnh — vâng, có phần xa hơn — từ một nơi thái
thậm an lạc, tuyệt đối an lạc — nơi cực lạc — ta thẫn thờ nhớ về một cốc cà-phê bất khả. Bất giác
buột miệng kêu: “Nhắn người dưới thế, cô Quì còn không?” Rồi bật khóc nức nở. Bấy giờ Thượng Đế
ngồi cạnh (tựa như ông già bới tóc trong quán thuở nào), Thượng Đế lòng lành liếc thấy, tha hồ ái
ngại xót thương. Cô Quì còn không? — Thì vẫn còn. Cô Quì của thiên hạ vẫn còn hoài dưới thế. Vẫn
mặt hoa da phấn. Phây phây khắp nơi. Tóc bay trong gió. Mắt long lanh. Mắt lúng la lúng liếng... Ôi
cái nhớ của kẻ xa xôi, nhớ quay nhớ quắt, nhớ da nhớ diết. Vô phương giải cứu. Ông Trời già bên
cạnh mỗi lúc mỗi bồn chồn xót thương. Vô phương.

Cái nhớ ấy, sánh với nó họa chăng chỉ có cái nhớ của cụ Quì hướng về cậu Quì. Cụ Quì (hoặc bới
tóc hoặc không bới tóc), lù khù lọm khọm, âm thầm trong tuổi già ở trần gian, thỉnh thoảng ngẩn ngơ
sực hỏi: “Cậu Quì ngày nọ... Đâu rồi cà?”

Một cái nhớ da diết, sánh với một cái nhớ quá đỗi hắt hiu.

10 – 1998

Tư Bề Người Dưng

Thơ Ba Mén của Bình Nguyên Lộc, một hôm nhớ lại vài câu khai từ, kẻ bép xép đã trót vui miệng
phun ra mấy câu nhảm nhí.1

Hôm nay bỗng dưng nhớ ra vài câu khai từ nữa; e không khỏi nhảm nhí thêm nữa.
“Nhìn ghe bỗng chạnh tình quê
Rưng rưng nước mắt: tư bề người dưng.”
Ba Mén thế đấy: ngồi quán uống chơi một cốc cà-phê, trông thấy mấy chiếc ghe thương hồ từ
dưới quê mới lên, tự nhiên muốn khóc. Nhớ quê, nhớ quá. Dân là dân Biên Hòa mà lưu lạc tới tận Sài
Gòn, xa lạ ôi xa lạ. Cầm lòng sao đặng? Khóc thôi! Khóc về cảnh ngộ tư bề người dưng.
Cảnh ngộ ông Ba Mén xui nhớ tới cảnh ngộ ông Xuân Hiến ngày nào. Năm 75, thi sĩ Xuân Hiến
hớt hơ hớt hải bỏ Sài Gòn bôn tẩu. Bay một mạch tới chỗ thị trấn Tacoma ở tiểu bang Washington,
thuộc miền tây bắc nước Hoa Kỳ, được cho tá túc tại một ngôi nhà lạ hoắc (cố nhiên). Vào nhà, ngó
trong ngó ngoài, thò đầu ra nhìn phố xá. Nhìn xuôi nhìn ngược một hồi, ông kêu:
“Cúi nhìn con phố bơ vơ,
Đất xa lạ đất, trời ngơ ngác trời.”
Ông Ba Mén, ông Xuân Hiến, hai ông đều đáng thương cả. Giọng nói đều thấm thía chân tình cả.
Thảm não quá chừng. Đời sau hẳn phải có thơ. Chẳng hạn thơ rằng:
“Nhất ông Ba Mén
Nhì ông Xuân Hiến
Tha thiết tình quê
Người người biết tiếng.”
Ông Ba Mén ông Xuân Hiến, hai ông cùng nói một điều. Là con người nhất sợ cái lạ. Không gì
kinh hãi bằng bị nhích ra khỏi chỗ quen thuộc.

Ấy vậy mà con người bắt đầu cuộc đời bằng một đối đầu đột ngột với cái lạ.
Mỗi chúng ta thuở mới đến đây là nghìn lần mạo hiểm hơn ông Kha-luân-bố. Từ chỗ không đến
chỗ có: tuyệt đối lạ. Ánh sáng mênh mang — món lạ đầu tiên — khiến hoảng hốt. Liền khóc lớn;
khóc oa oa, khóc oe oe. Xung quanh, kẻ lạ cười ầm ĩ.
Lớn lên, càng trông càng nghe càng thấy xa lạ. Trời xa lạ, đất xa lạ. Là “dưng” cả. Mặt nước rộng
dửng dưng, vòm trời dửng dưng bất động. Núi non xa cách dửng dưng; con kiến con dán gần, bận rộn
không ngừng, cũng là kiến dán dưng thôi. Mây trôi dửng dưng, nước chảy dửng dưng... Ai lo phận
nấy, đâu có phần đấy. Tư bề đều dưng.
Mỗi chúng ta bơ vơ sợ hãi, quơ quào lạng quạng, túm níu bám bậy bám bạ vào bất cứ món gì
trong tầm tay để có một cái gần gũi, tin cậy, để tìm chút an tâm. Kẻ bấu vào bụi chuối sau hè, người
gốc tre cuối vườn, kẻ cây đa đầu làng, người níu một chéo áo bà con, một góc mảnh vải gọi là cờ, một
sắc da một màu tóc, một thói quen truyền kiếp, một tục lệ, một thành kiến, một sợi tơ một mạng nhện
tư tưởng mong manh, một danh từ rỗng tuếch v.v... Lụp chụp bấu víu vội vàng, trượt tay, lại quýnh
lên chộp bấu vào món khác. Giành giật nhau, xô đẩy nhau, kêu la chí chóe. Loay hoay mấy chốc, vừa
đầy bảy, tám chục năm. Có thể trăm năm. Rồi trượt tay, “đi” luôn.
Đi đâu? Tất nhiên không phải đến một chỗ quen thuộc nào cả. Từ các chốn thiên đường, nát bàn,
từ khắp các cõi ba nghìn thế giới, ai nấy tha hồ khóc, khóc rưng rưng, rồi khóc nức khóc nở, nhớ về
bụi chuối sau hè, về cây đa đầu làng... Nhớ tha nhớ thiết.

Mỗi chúng ta trượt tay bám víu, lần lượt ra đi, gửi lại mớ xẩu vùi giấu đâu đó dưới mặt đất. Năm
này qua năm khác qua, bên trên mặt đất vẫn tiếp tục:

“Tư bề rầm rập hội người
Tiếng chân xuôi ngược tiếng cười râm ran
Trời xanh gió nhẹ thênh thang...”

Thênh thang cách dửng dưng. Tất cả cùng tiếp diễn một cách dửng dưng.
Nghìn năm sau (năm bảy chục nghìn năm sau nữa cũng nên), có gã đào đất xem đời cổ sơ, gặp
chiếc sọ vớ vẩn, bốc lên ngắm nghía: “Ơ hơ! cái này trông lành lặn đa”. Từ thế giới ba nghìn trông
xuống, thấy khắp cùng. Ta thấy, và giật mình đánh thót, kêu la rối rít: “Kìa, của tôi đấy. Sọ tôi đấy
mà...”
Thoắt cái, đã sà ngay xuống. Trông gần, ta sững sờ. Chiếc sọ với các lỗ hổng, trống hoác trống
trơ. Ta nhìn sọ, sọ nhìn ta không một biểu thị. Đôi bên đã hoàn toàn xa lạ. Sọ là sọ “dưng” rồi. Tất
nhiên toàn thể mớ xẩu đều thành xẩu dưng luôn, mất hẳn tinh “của tôi” không biết tự lúc nào.

12 – 1998
1 ‘Cô Quì còn không?’ (V.P.)

Cửa Sổ

Dọn nhà là chuyện vất vả. Hôm dọn đến nhà mới, đêm hôm ấy tôi ngủ mê mệt. Sáng, thức giấc rất
muộn: mở mắt ra thấy ánh sáng đã đầy phòng. Từ phía cửa sổ, ánh mặt trời ùa vào chói chang. Hóa ra
mình không hề thức dậy; mình bị đập dậy tàn bạo.

Về sau, nhắc lại chuyện ấy, chúng tôi vẫn gọi cái sáng xông vào cửa sổ hôm đó, gọi buổi sáng đó
là “Thằng cha Sấn Sổ”. Ngay từ sơ ngộ, sao mà đường đột, ngổ ngáo quá vậy? Cửa sổ phòng ngủ mở
về hướng đông. Rồi sẽ còn lắm chuyện với Thằng cha Sấn Sổ. Người ta còn đang sõng sượt chình ình
trên gường. Làm gì mà vội vàng xông xáo... Hừm!

Hóa ra không phải thế. Từ phía cửa sổ ấy không phải chỉ có một “thằng”. Ngay hôm tiếp theo,
thức giấc thấy yên ắng, êm ru bà rù, tôi nghĩ là không có ai quấy rầy. Chắc thế. Lờ mờ, êm ru, vắng
lặng thế này.

Tôi kéo mền lên đầu, định nằm thêm một lát. Không ngờ khi hướng mắt về phía cửa gặp ngay
“nhân vật” về sau mang tên “Gã Mặt Mốc”. Màu trời phương đông, ngay ở chỗ đáng lẽ mặt trời xuất
hiện, lúc ấy lại toàn một màu xám nguội, như tro. Khoảng mây xám ấy cứ thản nhiên hướng mặt vào
khung cửa sổ. Thản nhiên. Bất cần. Hừm! Mặt Mốc!

Sau đó, lần lượt: Thằng Ủ Ê, cô E Ấp, lão Trầm Ngâm, rồi gã Hí Hửng, chàng Hân Hoan, rồi cậu
Hả Hê v.v... Không hẹn hò mà hôm nào tôi cũng sẵn một tâm lý đón đợi.

Sáng hôm nọ, tỉnh giấc muộn. Linh tính khiến mình liếc mắt về hướng cửa sổ. Khung trời xanh
nhạt, gợi một cái xanh mênh mông. Cây thông cao đứng không một lay lắc. Sự chờ đợi kéo dài, hờ
hững. Một con quạ từ đâu bay đến. Quạ đáp xuống chỗ cuối một cành mềm, oặt qua oặt lại. Con quạ
loay hoay, vung cánh, đạp chân lung tung, trật qua trật lại, mãi hồi lâu mới tạm yên. Nhưng nó vẫn
chưa tìm được thế đậu ổn định. Chốc chốc quạt cánh, đạp chân, trầy trật...

Trời xanh cao rộng, ngọn thông yên lặng, con quạ loay hoay... Ơ kìa! Linh tính xui tôi bắt gặp
đúng cái gì như thể là... hạnh phúc? Bắt đúng niềm sung sướng không ngờ. Đời hay ho quá cỡ.

Chợt tai nghe: “Á a! Á a!” vang lên mấy tiếng.
Tôi ngẩn ngơ, tần ngần. Á a? Á a? Cái gì á a? Trời xanh mênh mông tự dưng cao hứng quá đỗi
mà phát lên thế chăng? Hay lại quạ, một con quạ vô duyên đâu đó quác mỏ... á a?
Dù sao, tôi bỏ qua mọi suy tưởng vẩn vơ, tôi tiếp tục vui sướng, vô cớ.

Vô cớ, đúng là vô cớ. Cớ? biết gán cho cái gì? Cho con quạ vụng về? Cho cành thông mềm oặt?
Cho cái sáng hững hờ?... Bậy bạ cả.

Không nghe nói về kiểu huyệt mộ nào có cửa thông lên trần gian.
Cho đời nhìn xuống, cho người nhìn lên.
Liệu rồi sẽ có kẻ nghĩ ra một kiểu thích hợp cho những hồn ma nhấp nhổm nhớ trần gian?
— Không có? Chán!

1 - 2004


Click to View FlipBook Version