The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.

“Nhìn lại về quá khứ, soi vào các đế chế trỗi dậy rồi suy tàn theo dòng chảy lịch sử, và ta có thể thấy trước được tương lai.”

- Marcus Aurelius, Hoàng đế La Mã


Sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã (tên tiếng anh là The decline and fall of the Roman Empire) của Edward Gibbon là một trong những bộ sách tham vọng, đồ sộ và kinh điển nhất về lịch sử văn minh thế giới mà bất kì ai mong muốn tìm hiểu về đề tài này không thể không đọc qua.

Tác phẩm này được coi là thành tựu của thời đại (thế kỷ 18) và được nhiều người coi là tác phẩm vĩ đại nhất của lịch sử từng được viết ra. Nó gây tác động lớn tới các nhà văn, sử gia lẫn chính trị gia cùng thời. Những nhân vật lớn như Isaac Asimov, Winston Churchill hay Virginia Woolf đều thừa nhận rằng mình chịu ảnh hưởng lớn từ tác phẩm lẫn lối viết châm biếm đặc trưng của ông.

Edward Gibbon cũng xuất bản những tác phẩm khác nhưng đây là bộ sách gần như trở thành cả cuộc đời ông và đưa tên tuổi Gibbon trở thành một trong những sử gia quan trọng nhất trong thời kỳ Khai minh tại Anh.

Thời gian và qui mô tác phẩm: Tác phẩm được xuất bản trong khoảng thời gian 1776-1788 (trong suốt 12 năm), bao gồm 6 quyển; với lịch sử trải dài hơn 13 thế kỷ (từ năm 98 đến khi Constantinople thất thủ vào năm 1453) và với phạm vi phủ rộng khắp, không chỉ giới hạn tên gọi “La Mã” trong châu u thế kỷ 18 và thời hiện đại, mà còn nhắm vào phần phương Đông của toàn bộ tổng thể Đế chế La Mã – tức Đế chế Byzantine (Đông La Mã). Điều này giúp gợi lên cảm quan về tầm mức vĩ đại phủ khắp của Đế chế La Mã, đồng thời gợi lên một nỗi niềm đầy suy tư: “thay vì tra vấn xem tại sao Đế chế La Mã bị phá hủy, chúng ta đúng ra phải lấy làm ngạc nhiên rằng làm sao nó tồn tại được lâu đến thế.”

Nội dung của tác phẩm: Với dung lượng đồ sộ hơn 1500 trang, bộ sách cũng không chỉ nói về nguyên nhân suy tàn và sụp đổ của La Mã, mà khung cảnh của Gibbon trong tác phẩm này là tái hiện không khí của cả một thời đại. Cuốn sách kể câu chuyện về số phận của một trong những nền văn minh vĩ đại nhất thế giới, về những thành tựu triết học, văn chương, tôn giáo, ngôn ngữ cho đến pháp luật, và dân tộc chí, về những người cai trị, về chiến tranh và xã hội, và những sự kiện dẫn đến sự sụp đổ thảm khốc của La Mã bất chấp mọi thành tựu quân sự và văn minh mà đế chế này từng kế thừa và đạt được.

Đọc thêm chi tiết tại đây: https://shop.alphabooks.vn/bo-sach-su-suy-tan-va-sup-do-cua-de-che-la-ma-p38567245.html

Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngocnm.alphabooks, 2022-10-27 22:16:49

Sự Suy tàn và Sụp Đổ của Đế chế La Mã 2

“Nhìn lại về quá khứ, soi vào các đế chế trỗi dậy rồi suy tàn theo dòng chảy lịch sử, và ta có thể thấy trước được tương lai.”

- Marcus Aurelius, Hoàng đế La Mã


Sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã (tên tiếng anh là The decline and fall of the Roman Empire) của Edward Gibbon là một trong những bộ sách tham vọng, đồ sộ và kinh điển nhất về lịch sử văn minh thế giới mà bất kì ai mong muốn tìm hiểu về đề tài này không thể không đọc qua.

Tác phẩm này được coi là thành tựu của thời đại (thế kỷ 18) và được nhiều người coi là tác phẩm vĩ đại nhất của lịch sử từng được viết ra. Nó gây tác động lớn tới các nhà văn, sử gia lẫn chính trị gia cùng thời. Những nhân vật lớn như Isaac Asimov, Winston Churchill hay Virginia Woolf đều thừa nhận rằng mình chịu ảnh hưởng lớn từ tác phẩm lẫn lối viết châm biếm đặc trưng của ông.

Edward Gibbon cũng xuất bản những tác phẩm khác nhưng đây là bộ sách gần như trở thành cả cuộc đời ông và đưa tên tuổi Gibbon trở thành một trong những sử gia quan trọng nhất trong thời kỳ Khai minh tại Anh.

Thời gian và qui mô tác phẩm: Tác phẩm được xuất bản trong khoảng thời gian 1776-1788 (trong suốt 12 năm), bao gồm 6 quyển; với lịch sử trải dài hơn 13 thế kỷ (từ năm 98 đến khi Constantinople thất thủ vào năm 1453) và với phạm vi phủ rộng khắp, không chỉ giới hạn tên gọi “La Mã” trong châu u thế kỷ 18 và thời hiện đại, mà còn nhắm vào phần phương Đông của toàn bộ tổng thể Đế chế La Mã – tức Đế chế Byzantine (Đông La Mã). Điều này giúp gợi lên cảm quan về tầm mức vĩ đại phủ khắp của Đế chế La Mã, đồng thời gợi lên một nỗi niềm đầy suy tư: “thay vì tra vấn xem tại sao Đế chế La Mã bị phá hủy, chúng ta đúng ra phải lấy làm ngạc nhiên rằng làm sao nó tồn tại được lâu đến thế.”

Nội dung của tác phẩm: Với dung lượng đồ sộ hơn 1500 trang, bộ sách cũng không chỉ nói về nguyên nhân suy tàn và sụp đổ của La Mã, mà khung cảnh của Gibbon trong tác phẩm này là tái hiện không khí của cả một thời đại. Cuốn sách kể câu chuyện về số phận của một trong những nền văn minh vĩ đại nhất thế giới, về những thành tựu triết học, văn chương, tôn giáo, ngôn ngữ cho đến pháp luật, và dân tộc chí, về những người cai trị, về chiến tranh và xã hội, và những sự kiện dẫn đến sự sụp đổ thảm khốc của La Mã bất chấp mọi thành tựu quân sự và văn minh mà đế chế này từng kế thừa và đạt được.

Đọc thêm chi tiết tại đây: https://shop.alphabooks.vn/bo-sach-su-suy-tan-va-sup-do-cua-de-che-la-ma-p38567245.html

SỰ SUY TÀN
VÀ SỤP ĐỔ CỦA
ĐẾ CHẾ LA MÃ

• E DWA R D G I B B O N •

OAU U OO TU TA O T AAA A

tA

T t
t

SỰ SUY TÀN VÀ SỤP ĐỔ CỦA ĐẾ CHẾ LA MÃ (QUYỂN III & IV)
Tác giả: Edward Gibbons
Bản quyền tiếng Việt © Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Được xuất bản theo thỏa thuận với Modern Library, một nhãn hiệu của Random House,
một thương hiệu của Penguin Random House LLC.
Bản dịch tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam xuất bản, bìa cứng, áo ôm, 2022.

Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam - thành viên của Alpha Publishing Group.
CÔNG TY CP SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS) thành lập tháng 9/2016 với định hướng xuất bản tri
thức nền tảng trong lĩnh vực Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Chính trị - Xã hội, Triết học, Nghệ
thuật… Đến nay, chúng tôi đã xuất bản hơn 300 đầu sách thuộc 6 tủ sách bao gồm: Kinh điển, Sử Việt,
Khoa học, Nhân vật Vĩ đại, Nghệ thuật và Tủ sách Đời người. Thông qua việc xuất bản các ấn phẩm có giá
trị, mang hàm lượng tri thức cao, qua các hoạt động nhằm đưa tri thức hữu ích đến cộng đồng; Omega Plus
mong muốn đóng góp theo cách riêng vào sự phát triển đang ngày càng mạnh mẽ của xã hội.

Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép, lưu trữ trong hệ thống truy xuất hoặc truyền
đi dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào gồm điện tử, cơ khí, sao chụp, ghi âm hoặc
mọi hình thức và phương tiện khác mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách
Omega Việt Nam. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả để sách
ngày càng hoàn thiện hơn

Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Gibbon, Edward
Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã / Edward Gibbon ; Thanh Khê dịch. - H. : Thế giới ; Công ty Sách
Omega Việt Nam. - 27 cm
Q.III, Q.IV. - 2022. - 480 tr.

1. Lịch sử 2. Đế chế La Mã
937.06 - dc23
TGM0380p-CIP

Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected]
Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected]
Liên hệ dịch vụ bản quyền, xuất bản, ký gửi và phát hành: [email protected]

DQ HG FK HOOH biên tập

SỰ SUY TÀN
VÀ SỤP ĐỔ CỦA
ĐẾ CHẾ LA MÃ

QUYỂN III-IV

KDQK K dịch

• E DWA R D G I B B O N •

Đ I NG TRIỂN KHAI OMEGA+
Phụ trách xuất bản: Trần Hoài Phương
Điều phối sản xuất: Nguyễn Quang Diệu
Biên tập viên: Nguyễn Lê Hoài Nguyên
Thiết kế bìa: Phạm Ngọc Điệp
Trình bày: Minh Thái
Thư ký xuất bản: Vũ Thị Giang

ĐƠN VỊ HỢP TÁC TRUYỀN THÔNG
https://www.facebook.com/tramdocvn
website: http://tramdoc.vn/

MỤC LỤC

QUYỂN III 11
29
Chương XXVII
CÁC CUỘC NỘI CHIẾN, 53
TRIỀU ĐẠI CỦA THEODOSIUS 63
85
Chương XXVIII
NGÀY TÀN CỦA NGOẠI ĐẠO 105
127
Chương XXIX
SỰ PHÂN CHIA CỦA ĐẾ CHẾ LA MÃ
GIỮA CÁC CON TRAI CỦA THEODOSIUS

Chương XXX
NGƯỜI GOTH TẠO PHẢN

Chương XXXI
QUÂN RỢ XÂM LƯỢC Ý, CHIẾM ĐÓNG LÃNH THỔ

Chương XXXII
CÁC HOÀNG ĐẾ ARCADIUS,
EUTRIPIUS, THEODOSIUS II

Chương XXXIII
CUỘC CHINH PHẠT CHÂU PHI

Chương XXXIV 141
A ĐỀ LẠP 149

Chương XXXV 163
CUỘC XÂM LƯỢC CỦA A ĐỀ LẠP 193
215
Chương XXXVI 251
ĐẾ CHẾ PHƯƠNG TÂY 257
BỊ TẬN DIỆT HOÀN TOÀN 269

Chương XXXVII
DÂN RỢ CẢI SANG ĐẠO KITÔ

Chương XXXVIII
TRIỀU ĐẠI CỦA CLOVIS

QUYỂN IV

LỜI NÓI ĐẦU CHO QUYỂN IV

Chương XXXIX
VƯƠNG QUỐC GOTH Ở Ý

Chương XL
TRIỀU ĐẠI CỦA JUSTINIAN

Chương XLI 303
NHỮNG CUỘC CHINH PHẠT 319
CỦA JUSTINIAN;
TÍNH CÁCH CỦA BELISARIUS 335
355
Chương XLII
TRẠNG THÁI CỦA THẾ GIỚI RỢ 391
407
Chương XLIII 427
CHIẾN THẮNG CUỐI CÙNG
VÀ CÁI CHẾT CỦA BELISARIUS;
CÁI CHẾT CỦA JUSTINIAN

Chương XLIV
Ý NIỆM VỀ PHÁP CHẾ LA MÃ

Chương XLV
NHÀ NƯỚC Ý DƯỚI THỜI
CỦA NHỮNG NGƯỜI LOMBARD

Chương XLVI
NHỮNG BẤT ỔN Ở BA TƯ

Chương XLVII
SỰ BẤT HÒA TRONG GIÁO HỘI

QUYỂN III

[1781]

ĐẾ CHẾ LA MÃ

THỜI THEODORIC

KHOẢNG NĂM 500



Chương XXVII

CÁC CUỘC NỘI CHIẾN,
TRIỀU ĐẠI CỦA THEODOSIUS

Gratian thăng hà. • Sự sụp đổ của giáo thuyết Arius.
• Cuộc nội chiến đầu tiên, chống lại Maximus. • Tính cách
và nền hành chính của Theodosius. • Valetinian II thăng hà.
• Cuộc nội chiến thứ hai, chống lại Eugenius. • Theodosius thăng hà.

anh tiếng của Gratian, trước khi ông tròn 20 tuổi, sánh ngang
với những vị quân vương lừng lẫy nhất. Tính khí hiền lành
và thân thiện khiến ông được bằng hữu quý mến, và phong thái tao nhã
cũng giúp ông dành được thiện cảm của dân chúng: đám văn sĩ, những
người được hưởng sự ân ban hào phóng của ông, công nhận khiếu
thẩm mỹ và tài hùng biện của vị nguyên thủ; lính tráng tán dương lòng
dũng cảm và sự mẫn tiệp của ông trong quân sự; và giới giáo sĩ xem lòng
mộ đạo khiêm nhường của Gratian là đức tính tốt đầu tiên và cũng là

1 Giáo thuyết Arius (Arianism): là một thuyết dị giáo, mang tên người sáng lập ra nó là Arius (256-336).
Arius, người xứ Libya, là một linh mục trông coi giáo xứ Baucalis ở Alexandria. Giáo thuyết này
quan niệm rằng Thiên Chúa là duy nhất và tự hữu, còn Chúa Kitô không phải là Thiên Chúa, không
đồng bản tính với Chúa Cha. Ngài chỉ là tạo vật hoàn hảo nhất, có trước thời gian, nhưng không
phải vô thủy vô chung. [ND]
2 Eugenius (?-394): là kẻ tiếm ngôi vị hoàng đế của Tây La Mã, trị vì từ năm 392 đến 394. Trên danh
nghĩa là theo Kitô giáo nhưng Eugenius được giới sử học xem là vị hoàng đế cuối cùng ủng hộ Đa
thần giáo. Không chấp nhận sự chính danh của Eugenius, Theodosius từ phương Đông xuất quân
sang phương Tây đánh tan quân của Eugenius, và Eugenius bị hành quyết sau đó. [ND]

• E DWA R D G I B B O N •

hữu ích nhất của ông. Chiến thắng Colmar1 đã cứu phương Tây thoát
khỏi một cuộc xâm lược đáng sợ; và các tỉnh bang hàm ơn của phương
Đông đã quy kết công lao của Theodosius cho người tạo tác nên sự vĩ đại
của Gratian, cũng như là người tạo tác nên sự an bình chung. Gratian chỉ
sống thêm được bốn hay năm năm sau những sự kiện đáng nhớ này; và
trước khi ngã xuống như một nạn nhân của cuộc bạo loạn, ông hầu như
đã để mất đi sự tôn trọng và niềm tin tưởng của thế giới La Mã (379-383).

Thay đổi đáng kể trong tính cách và lối hành xử của ông có thể không
phải do những chiêu trò nịnh nọt, những thứ vốn đã vây quanh con trai
của Valetinian ngay từ thuở nhỏ, cũng chẳng phải do những xúc cảm
bồng bột mà chàng thanh niên hiền lành đó tưởng đâu đã có thể thoát ra.
Có lẽ nếu xem xét kỹ hơn về cuộc đời của Gratian, người ta có thể nhận ra
được nguyên nhân đích thực là do công chúng đã phải nhiều phen thất
vọng. Những đức tính tốt có thể nhận thấy được nơi ông, thay vì được
tôi rèn nhờ trải nghiệm và nghịch cảnh, lại là những thành quả non nớt
và thiếu tự nhiên của một nền giáo dục hoàng gia. Sự chăm lo quá đỗi ân
cần của người cha đã liên tục được phát huy, để ban cho đứa con những
thuận lợi mà ắt hẳn ông đã càng trân quý nhiều hơn khi chúng cũng
chính là những gì ông không hề có được; những người thầy tài giỏi nhất
của mọi ngành khoa học và mọi môn nghệ thuật đã cố công định hình
nên trí tuệ và thân thể của vị quân vương trẻ tuổi. Kiến thức mà khó nhọc
lắm họ mới truyền thụ được bị đem ra phô bày theo hướng khoe khoang
quá đỗi, và được tán dương bằng những lời ngợi khen quá lố. Tâm tính
yếu mềm và dễ bảo của ông đón nhận ấn tượng tốt đẹp từ những lời dạy
bảo sáng suốt của họ, và sự thiếu vắng niềm đam mê có thể dễ khiến
người ta nhận nhầm rằng đấy chính là sức mạnh của lý trí. Các vị thầy
học của ông dần dà vươn lên cấp bậc và vai vế của các vị thuộc hàng nhất
phẩm trong triều: và vì lẽ họ khôn ngoan che đậy uy quyền bí mật của
mình nên bề ngoài có vẻ như Gratian là người hành động cương quyết,

1 Colmar: một thành phố ở miền Đông Bắc Pháp. [ND]

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

đúng mực và minh mẫn vào những dịp trọng đại của đời mình hoặc của
đế chế. Nhưng ảnh hưởng của sự truyền dạy kỹ lưỡng này thực sự chẳng
xuyên qua lớp vỏ ngoài; và những vị thầy học tài giỏi, những người đã
chỉ dẫn chính xác từng đường đi nước bước của cậu học trò hoàng gia đã
không thể khiến cho kẻ có tính cách yếu hèn và lười biếng như ông thấm
nhuần được nguyên tắc hành động mạnh mẽ và độc lập, một nguyên tắc
khiến cho việc gắng sức theo đuổi vinh quang trở thành điều thiết yếu
đối với phúc lành, và gần như là sự tồn tại, của người anh hùng ấy. Ngay
sau khi thời thế và biến cố đã đẩy các vị cố vấn trung thành đó ra xa khỏi
ngai vàng, vị hoàng đế của phương Tây vô tình hạ xuống tầm mức thiên
tư vốn có của mình; bỏ bê chính sự của triều đình cho những bàn tay
tham vọng đang dang rộng ra để thâu tóm lấy; và dùng thì giờ rỗi rãi để
mua vui bằng những lạc thú rất tầm thường. Một cuộc rao bán ân sủng
và thất sủng công khai được lập nên, cả trong triều đình lẫn ở các tỉnh
bang, bởi những kẻ tầm thường đại diện cho quyền lực của ông, mà giá
trị của những kẻ đó người ta không nên chất vấn, bằng không sẽ là phạm
thượng [năm 380]. Lương tâm của vị quân vương cả tin bị dẫn dụ bởi các vị
thánh và các giám mục; đám người này kiếm được một sắc lệnh đế vương
để khép tội chết cho những hành vi vi phạm, xao nhãng hay thậm chí là
thiếu hiểu biết về thánh luật. Trong vô vàn những ngón nghề đã học hồi
trẻ, ông đặc biệt chuyên tâm và cũng đạt được thành tựu trong kỹ thuật
điều khiển ngựa, dương cung, phóng lao; và các phẩm chất này, dẫu cho
có thể là hữu ích đối với một người lính, song lại trở nên rẻ rúng vì được
dùng cho những mục đích săn bắn thấp kém hơn. Những ngự uyển bề
thế được xây kín cổng cao tường để phục vụ cho lạc thú đế vương, chứa
chấp đầy mọi loài mãnh thú; và Gratian bỏ bê những nhiệm vụ, thậm chí
cả phẩm giá của bậc đế vương để phí phạm cả ngày vào trò phô trương
phù phiếm những tài khéo và sự gan dạ của mình trong cuộc săn bắn. Vị
hoàng đế La Mã kiêu hãnh và mong mỏi mình có thể vượt trội trong một
ngón nghề mà ông có thể bị vượt mặt bởi những kẻ bần tiện nhất trong
đám nô lệ của mình, một điều gợi ông nhớ tới đám đông khán giả và

• E DWA R D G I B B O N •

những tấm gương như của Nero và Commodus, nhưng Gratian mộc mạc
và nhã nhặn lại là người xa lạ với những thói xấu gớm ghiếc của hai vị kia;
đôi tay ông chỉ nhuốm máu động vật mà thôi. Hành vi đó của Gratian,
điều hạ thấp nhân cách ông trong mắt người đời, lẽ ra đã chẳng thể quấy
nhiễu sự yên bình trong triều đại của ông, nếu như quân đội không bị
khiêu khích để rồi cảm thấy phẫn uất vì những tổn hại của riêng họ.

Binh lính Anh nổi dậy và tuyên bố ủng hộ Maximus, người phát động cuộc
tấn công. Gratian bị hành quyết.]

Kẻ ám sát Gratian đã tiếm quyền các tỉnh bang thiện chiến nhất của
đế chế, nhưng thực chất là y chiếm hữu các tỉnh bang ấy: phương Đông
phải cùng kiệt vì những tai vạ của cuộc chiến Goth,1 thậm chí là vì sự
thành công của nó; và có lý do hoàn toàn chính đáng để lo ngại rằng, sau
khi sinh lực của nền cộng hòa đã bị lãng phí trong cuộc giao tranh điêu
tàn và đáng ngờ, kẻ chinh phạt yếu nhược sẽ chỉ còn là một con mồi dễ
bắt đối với đám rợ của phương Bắc. Suy xét tới những điều hệ trọng này,
Theodosius bèn che giấu niềm oán hận riêng, và chấp nhận liên minh
với kẻ bạo chúa (năm 383-387). Nhưng ông đặt điều kiện là Maximus
phải bằng lòng với quyền chiếm hữu những đất nước ở bên kia dãy Alps.
Người anh em của Gratian được thừa nhận và đảm bảo là vị nguyên thủ
của Ý, châu Phi và Tây Illyricum; và một số những điều kiện danh dự
được đưa vào bản hòa ước nhằm bảo vệ cho ký ức của vị hoàng đế quá
cố cũng như luật pháp của ông ta. Theo tục lệ thời ấy, những hình ảnh về
ba vị đế vương đồng trị vì được trưng bày để dân chúng tỏ lòng tôn kính;
cũng không nên xem nhẹ việc Theodosius âm thầm ấp ủ ý định phản trắc
và trả thù trong cái thời khắc hòa giải trang trọng ấy.

Thái độ khinh miệt của Gratian đối với binh lính La Mã đã khiến ông
phải đối mặt với tai vạ từ nỗi oán hận của họ. Niềm tôn kính sâu sắc ông

1 Cuộc chiến Goth (376-382) của người Goth tấn công vào đế chế phương Đông và đế chế phương
Tây của La Mã. [ND]

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

dành cho giới giáo sĩ Kitô giáo được tưởng thưởng bằng sự tán dương
và lòng biết ơn của một giới quyền uy, mà xưa nay trong thời đại nào họ
cũng đòi cho được cái đặc quyền ban phát thanh danh, cả dưới thế gian
và trên Thiên đường. Các giám mục chính thống giáo tiếc thương cho cái
chết của ông, cũng là nỗi mất mát không lấy gì bù đắp được của chính
họ; nhưng rồi họ nhanh chóng an tâm khi nhận ra rằng Gratian đã giao
quyền trượng cho đôi tay của một vị quân vương mang trong mình đức
tin khiêm nhường cùng lòng nhiệt thành cháy bỏng, nhờ vào tinh thần
và năng lực của một nhân cách uy dũng. Trong số những vị ân nhân
của giáo hội, vinh quang của Theodosius có thể sánh cùng thanh danh
của Constantine. Nếu như Constantine đã có công xác lập nên cờ hiệu
thánh giá, thì người kế nhiệm của ông [Theodosius] lại ghi điểm trong
cuộc đua bằng hành động khuất phục được dị thuyết Arius và bãi bỏ tục
sùng bái ngẫu tượng trong thế giới La Mã. Theodosius là vị hoàng đế
đầu tiên được rửa tội theo đức tin chân chính của Chúa Ba ngôi. Mặc dù
sinh trưởng trong một gia đình Kitô giáo, nhưng những châm ngôn, hay
ít nhất là thông lệ của thời đại khiến ông mạnh dạn trì hoãn nghi thức
khai tâm1 của mình; cho đến khi ông bị cảnh báo về mối nguy hiểm trì
hoãn này đến từ bệnh tình trầm trọng đe dọa mạng sống vào khoảng cuối
năm đầu tiên trị vì. Trước khi lên đường hành quân đương đầu với người
Goth, ông nhận lãnh bí tích rửa tội từ Acholius, vị giám mục chính thống
của Thessalonica2 (ngày 28 tháng 2 năm 380): và khi từ bình nước thánh
bước lên, vẫn thấy lòng mình rạo rực những xúc cảm tái sinh nồng ấm,
ông ban ra một sắc lệnh trọng thể, công bố đức tin của chính mình và quy
định tôn giáo cho các thần dân. “Chúng ta hân hoan [đây là phong cách đế
vương] khi thấy rằng tất cả các quốc gia được cai quản bởi sự khoan hồng

1 Nghi thức khai tâm cho người lớn trong Kitô giáo gồm 3 giai đoạn: trong giai đoạn thứ nhất,
đương sự được Hội Thánh nhận làm người dự tòng. Giai đoạn thứ 2, khi đương sự đã vững lòng tin,
gần như xong thời dự tòng, được chấp nhận để tích cực chuẩn bị nhận lãnh các bí tích khai tâm. Giai
đoạn 3 là khi đã được chuẩn bị chu đáo, nhận lãnh các bí tích để bắt đầu đời sống Kitô hữu. [ND]
2 Thessalonica: một thành phố ở miền Đông Bắc Hy Lạp. [ND]

• E DWA R D G I B B O N •

và tiết chế của chúng ta thảy đều vững tin vào tôn giáo mà Thánh Peter
đã truyền dạy cho người La Mã; tôn giáo mà truyến thống đức tin đã gìn
giữ; và ngày nay được tuyên xưng bởi giáo hoàng Damasus và bởi Peter,
vị giám mục của Alexanderia, một vị tông đồ. Theo nguyên tắc của các vị
tông đồ và giáo lý phúc âm, chúng ta hãy tin vào vị thánh độc nhất của
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh linh; dưới oai nghi đồng đẳng và
một thể Ba ngôi thánh thiêng. Chúng ta cho phép những môn đồ của giáo
lý này mang lấy danh nghĩa là tín hữu Công giáo; và vì xét thấy rằng tất
cả những kẻ khác đều là đám xuẩn trí ngông cuồng, chúng ta gọi chúng
bằng danh xưng ô nhục là kẻ Dị giáo; và tuyên bố rằng những cuộc họp
bàn bất hợp pháp của chúng sẽ không còn được khoác lên danh nghĩa
đáng kính của các giáo hội nữa. Ngoài bản án của công lý thánh linh, sớm
muộn gì chúng cũng đáng phải chịu những hình phạt khắt khe từ uy
quyền của chúng ta, nhờ sự sáng suốt của Thiên đường chỉ lối.” Thường
thì đức tin của một người lính do được truyền dạy mà có, chứ không
phải là nhờ vào sự tra vấn trí năng; nhưng vì vị hoàng đế luôn chỉ chăm
chăm nhìn vào những cột mốc chính thống hữu hình mà ông đã thận
trọng dựng nên, những quan điểm tôn giáo của ông chẳng bao giờ bị lay
chuyển bởi những văn bản hoa mỹ bề ngoài, những lý lẽ tinh tế và những
tín điều mơ hồ từ các tiến sĩ của giáo thuyết Arius. Quả thực, có lần ông
đã mơ hồ biểu lộ ý định muốn chuyện trò cùng Eunomius1 thông thái và
có tài hùng biện, người sống cuộc đời ẩn dật ở khá gần Constantinople.
Nhưng cuộc chất vấn nguy hiểm ấy bị ngăn cản nhờ lời khẩn cầu của
hoàng hậu Flaccilla, bà lo sợ chồng mình gặp chuyện chẳng lành; và tâm
trí của Theodosius được củng cố bởi một luận điểm thần học phù hợp
với khả năng lĩnh hội quá ư thô lậu. Gần đây, ông đã trao cho cậu cả của
mình, Arcadius, tên gọi và danh tước augustus, và hai vị quân vương ngồi

1 Eunomius (333-393): giám mục Cyzicus (361), một người chủ trương cực đoan của giáo thuyết
Arius. Cùng với triết gia và giám mục Aetius, ông lập nên giáo phái Eunomian, một giáo phái dù đã
có một tổ chức giáo sĩ (đóng đô ở Constantinople) và vài vị giám mục, song không tồn tại được bao
lâu sau khi Enomius qua đời. [ND]

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

chễm chệ trên ngai vàng để đón nhận sự tôn kính của các thần dân. Một
giám mục, Amphilochius xứ Iconium, tiến gần tới ngai vàng, và sau khi
cung kính vái chào vị quân chủ của mình theo đúng nghi thức, ông ta
bắt chuyện với chàng thanh niên hoàng gia bằng cung cách ân cần gần
gũi hệt như ông vốn đã quen thể hiện với một đứa trẻ thường dân. Bực
tức vì hành vi xấc xược này, vị quốc vương truyền lệnh hãy mau đuổi gã
linh mục quê mùa đi cho khuất mắt. Nhưng trong khi đang bị đám vệ
binh đang lôi ra cửa, nhà luận chiến nhanh trí này vẫn có đủ thì giờ để
thực hiện ý định của mình bằng cách lớn tiếng kêu lên: “Chao ôi hoàng
đế, ngài đối đãi thế ư? Đây chính là kiểu đối đãi mà Đức vua của Thiên
đường dành cho những kẻ nghịch đạo nào làm ra vẻ thờ phụng Chúa Cha
nhưng lại chẳng chịu công nhận uy quyền ngang bằng của Con Trai thần
thánh của ngài.” Theodosius lập tức nghe lời vị giám mục xứ Iconium, và
không bao giờ quên bài học quan trọng ấy, bài học mà ông nhận được từ
câu chuyện ngụ ngôn kịch tính này. †

Người Công giáo ở Constantinople phấn chấn hẳn lên khi hay tin về
lễ rửa tội và sắc lệnh của Theodosius; và họ nóng lòng chờ đợi lời hứa
hẹn tử tế của ông phát huy tác dụng. Chẳng mấy chốc, niềm hy vọng
của họ đã được thành toàn; và vị hoàng đế, ngay sau khi đã hoàn thành
những hoạt động chiến dịch, dẫn một đội quân chiến thắng tiến vào thủ
đô (ngày 24 tháng 11 năm 380). Vừa tới nơi được một ngày, ông cho đòi
Damophilus tới diện kiến, và đề nghị rằng vị giám mục của giáo phái
Arius dứt khoát phải lựa chọn hoặc tán thành tín điều Nicaea1 hoặc phải
ngay lập tức trao lại cho các tín hữu chính thống quyền sử dụng và sở
hữu dinh thự giám mục, nhà thờ lớn của Thánh Sophia2, cùng tất cả các

1 Tín điều Nicaea: là kinh tuyên xưng đức tin của giáo hội Công giáo. Kinh sơ khai do Công đồng
Nicaea I soạn ra năm 325 để chống tà giáo Arius và một kinh thông dụng hơn là kinh Tin kính của
công đồng Constantinople (năm 381). [ND]
2 Thánh Sophia, hay Tuẫn sĩ Sophia, sinh trưởng tại Ý, mất năm 137 TCN. Ở đây đề cập tới nhà thờ
có tên là Hagia Sophia, là một công trình kiến trúc của đế chế Đông La Mã ở Istanbul; được xây
dựng vào thế kỷ 6 (khoảng năm 537) với vai trò một nhà thờ Kitô giáo. [ND]

• E DWA R D G I B B O N •

nhà thờ ở Constantinople. Với lòng nhiệt thành của mình, điều mà lẽ ra
xứng đáng được hoan nghênh nơi một vị thánh Công giáo, Damophilus
chẳng do dự bèn chấp nhận một cuộc sống nghèo hèn và lưu vong, và
ngay sau ông bị loại bỏ, cuộc thanh trừng ở kinh thành liền nổ ra. Các
tín hữu Arius có thể khiếu nại, bằng một buổi hầu tòa nào đó, rằng một
giáo đoàn nhỏ bé thế mà lại chiếm đoạt hàng trăm nhà thờ song chẳng
dùng hết được; trong khi bộ phận đông đảo hơn nhiều lại bị nhẫn tâm
đuổi khỏi nơi thờ phụng tôn giáo. Theodosius vẫn không hề lay chuyển;
nhưng vì các thiên thần bảo vệ chính nghĩa Công giáo vốn chỉ hữu hình
đối với những cặp mắt có đức tin, ông thận trọng tăng viện cho đám
thiên binh thiên tướng đó bằng sự trợ giúp đắc lực của những thứ vũ
khí nhục thể trần tục; và nơi nhà thờ của Thánh Sophia, một đội vệ binh
đông đảo chiếm đóng... Các tác phẩm của tín hữu Arius, giả như chúng
được phép tồn tại, có lẽ sẽ chứa đựng câu chuyện bi thương về cuộc đàn
áp làm giáo hội điêu đứng dưới triều đại của Theodosius nghịch đạo; và
những nỗi đau mà đám người thú tội mộ đạo phải chịu có thể lay động
ngay cả vị độc giả vô tư. Song cũng có lý do để phỏng đoán rằng ở một
chừng mực nào đó, bạo lực phát xuất từ lòng nhiệt thành và hận thù
đã tránh được vì không gặp phải kháng cự; và rằng trong nghịch cảnh
tín hữu Arius tỏ ra chẳng mấy cứng rắn so với những gì mà phe chính
thống giáo đã làm được dưới các triều đại của Constantius và Valens.
Đặc tính và lối hành xử đạo đức của các giáo phái thù nghịch dường
như đã cùng được chi phối bởi những nguyên tắc chung về tự nhiên và
tôn giáo: nhưng có thể nhận ra một tình tiết rất quan trọng có xu hướng
phân biệt mức độ đức tin trong thần học của họ. Cả hai phe, trong những
giảng đường cũng như trong đền thờ, đều công nhận và thờ phụng sự
uy nghiêm thần thánh của Chúa Kitô; và, vì họ luôn có xu hướng quy
kết những cảm thức và dục vọng của chính họ cho Thiên Chúa, nên sẽ là
thận trọng và lễ độ nếu phóng đại những điều hoàn hảo đáng mến của
Chúa Jesus thay vì hạn chế chúng. Môn đệ của Athanasius đắc chí trong
niềm tin tưởng đầy kiêu hãnh rằng mình đã được Thiên Chúa ân ban;

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

trong khi môn đệ của Arius ắt hẳn đã phải chịu nỗi giày vò vì lo sợ âm
thầm rằng có lẽ ông đã phạm vào một cái tội không thể dung thứ được
do chẳng mấy khi tán dương và do những thanh danh dè xẻn mà ông
trao tặng Vị quan tòa của Thế giới. Những quan điểm của giáo thuyết
Arius có thể làm thỏa mãn một tâm trí lạnh lùng và tư biện: nhưng giáo
lý của tín điều Nicaea, được giới thiệu tốt nhất bởi những giá trị của đức
tin và lòng mộ đạo, thích nghi tốt hơn nhiều để rồi trở nên phổ biến và
thành công trong một thời đại có đức tin.

Với hy vọng có thể tìm được chân lý và ý kiến sáng suốt trong những
cuộc họp bàn của giới giáo sĩ chính thống, vị hoàng đế bèn triệu tập
tại Constantinople một hội nghị tôn giáo gồm 150 giám mục (năm 381),
những người này, chẳng mấy khó khăn hay chậm trễ, đã tiếp tục hoàn
thiện hệ thống thần học vốn đã được thiết lập ở Công đồng Nicaea.1
Những cuộc tranh chấp kịch liệt trong thế kỷ 4 chủ yếu xoay quanh bản
chất của Con Thiên Chúa; và những quan điểm đa dạng mà người ta
tin theo, vốn dĩ có liên quan tới vấn đề Ngôi Thứ Hai được mở rộng và
chuyển dời Ngôi Thứ Ba của Chúa Ba ngôi, bằng một phép loại suy tự
nhiên. Song người ta thấy hoặc tưởng rằng những địch thủ đắc thắng
của giáo thuyết Arius nhất thiết phải giải thích thứ ngôn ngữ mơ hồ của
các tiến sĩ thần học khả kính; phải củng cố đức tin của tín hữu Công
giáo; phải lên án một giáo phái không phổ biến và đầy mâu thuẫn của
đám người Macedonia, những người tự tiện thừa nhận rằng Chúa Con
là cùng một thể với Chúa Cha, trong khi vì sợ mà họ phải vờ công nhận
sự tồn tại của ba vị Chúa. Một lời phán quyết đồng thuận và cũng là phán
quyết cuối cùng được xướng lên để xác nhận Thánh tính ngang bằng của
Chúa Thánh linh: giáo lý thần bí được tất cả mọi dân tộc và mọi nhà thờ

1 Công đồng Nicaea I, là công đồng gồm các giám mục Kitô giáo được triệu tập tại miền Nicaea
thuộc Tiểu Á (ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) bởi hoàng đế Constantine I vào năm 325. Mục đích đầu
tiên là nhằm tiêu diệt những người theo giáo thuyết Arius. Đây là Công đồng toàn thể đầu tiên
của Kitô giáo, đánh dấu sự ra đời của học thuyết Kitô giáo thống nhất đầu tiên được gọi là Tín
điều Nicaea. [ND]

• E DWA R D G I B B O N •

của thế giới Kitô giáo đón nhận; và với niềm tôn kính đầy hàm ơn, họ đã
phân cho các giám mục của Theodosius vào tầng lớp thứ hai trong các đại
hội đồng. Vốn hiểu biết về chân lý tôn giáo của họ có thể đã được gìn giữ
nhờ truyền thống hoặc được truyền đạt bởi nguồn cảm hứng; thế nhưng
bằng chứng lịch sử đúng mức sẽ khiến cho uy quyền cá nhân của các vị
Cha của Constantinople không có được nhiều sức ảnh hưởng. Trong một
thời đại mà đám giáo sĩ bê bối đã suy thoái so với mô hình thuần khiết
của các tông đồ, thì những kẻ vô dụng và đồi bại nhất luôn là kẻ hăm hở
nhất trong việc lui tới và quấy nhiễu các cuộc họp bàn giám mục. Sự xung
đột và tình trạng náo động của bao nhiêu lợi ích và tâm tính đối nghịch
nhau thổi bùng lên dục vọng của các giám mục: và những dục vọng ngự
trị trong họ là say mê vàng bạc và say mê sự tranh chấp. Nhiều kẻ trong
chính đám giáo sĩ cấp cao đương ca tụng lòng mộ đạo chính thống của
Theodosius cũng từng không ít lần thay đổi giáo điều và quan điểm của
mình một cách linh hoạt thận trọng; và trong nhiều cuộc cách mạng khác
nhau của giáo hội hay nhà nước, tôn giáo của vị nguyên thủ là kim chỉ
nam cho thứ đức tin khúm núm của họ. Khi hoàng đế tạm ngưng cái ảnh
hưởng ưu thắng của mình, cuộc họp bàn náo loạn kia bị thúc đẩy một
cách mù quáng bởi những động cơ lố bịch hoặc vị kỷ của niềm kiêu hãnh,
căm thù hay oán hận... Cách tiến hành phi lý và mất trật tự như thế buộc
các thành viên nghiêm nghị nhất của hội đồng phải tỏ thái độ bất đồng
và ly khai; và số đông ồn ào hãy còn chủ trì bãi chiến trường ấy chỉ có thể
được đem so sánh với những con ong vò vẽ hay những con chim ác là, với
một đàn sếu hay một bầy ngỗng.

Người ta hẳn sẽ nảy sinh mối nghi ngờ rằng liệu một hình ảnh không
đẹp về các hội nghị giáo sĩ được vẽ ra bởi bàn tay thiên kiến của một kẻ
dị giáo ngoan cố hay một kẻ vô tín thâm độc nào đó. Nhưng nếu như
nhắc tới tên của vị sử gia thành thực đã truyền đạt bài học này đến tay
hậu thế, hẳn nhiên tên tuổi này sẽ làm im bặt những lời than phiền bất
lực của thói mê tín và mù quáng. Ông là vị giám thuộc hàng mộ đạo và
giỏi hùng biện nhất thời bấy giờ; một vị thánh và một tiến sĩ thần học của

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

giáo hội; một thành viên ưu tú của Công đồng Constantinople...; nói tóm
lại - ông chính là Gregory Nazianzen. Sự đối đãi hà khắc và hẹp hòi mà
ông phải nếm trải, thay vì khiến cho bằng chứng của ông giảm đi giá trị
sự thật, thì lại mang thêm một chứng cớ về thứ tinh thần thúc đẩy những
cuộc tranh luận trong hội nghị. †

Việc Theodosius đàn áp thế lực xấc xược của giáo thuyết Arius hay
chuyện ông cố công báo thù cho những tổn hại mà tín hữu Công giáo
phải hứng chịu từ lòng nhiệt thành của Constantius và Valens, tất cả đều
chẳng đủ. Vị hoàng đế chính giáo xem mỗi tín đồ dị giáo đều là một kẻ
phản loạn chống báng những quyền năng tối cao của Thiên đường và
của thế gian; và mỗi một quyền năng trong số đó có thể thi triển quyền
phán quyết riêng biệt lên linh hồn và thể xác của tội nhân. Các giáo điều
của Công đồng Constantinople đã minh định chuẩn mực đích thực của
đức tin; và đám giáo sĩ chi phối lương tâm của Theodosius đã trình lên
những phương cách bách hại hữu hiệu nhất. Trong khoảng thời gian 15
năm (380-394), ông ban hành ít nhất 15 sắc lệnh hà khắc gây bất lợi cho
tín đồ dị giáo, nhất là cho những ai phủ nhận giáo lý Chúa Ba ngôi; và
nhằm tước đoạt khỏi họ mọi hy vọng trốn tránh, ông nghiêm nghị ban
bố rằng nếu như xét thấy bất kỳ điều luật hay huấn lệnh nào ủng hộ họ,
các vị pháp quan phải xem đấy là sản phẩm bất hợp pháp của trò gian
trá hay giả mạo. Những đạo luật hình sự được nhắm vào các mục sư, các
cuộc hội họp và chính bản thân những tín đồ dị giáo; những cảm hứng
của nhà lập pháp được thể hiện trong thứ ngôn ngữ công kích khoa
trương. I. Các giảng sư dị giáo, những kẻ chiếm đoạt các tước vị thiêng
liêng của các giám mục hay trưởng lão, chẳng những không được hưởng
đặc quyền và nhiều khoản tiền lương hậu hĩnh được cấp cho giới giáo sĩ
chính thống, mà còn phải đối mặt với hình phạt nặng lưu đày hoặc sung
công nếu như họ dám rao giảng giáo lý hay thực hành nghi lễ của các
giáo phái đáng nguyền rủa của họ. Một khoản tiền phạt 10 pound vàng
được áp dụng đối với tất cả những kẻ nào dám ban, nhận hoặc đề xướng
một lễ thụ phong dị giáo: và người ta có lý do để trông chờ rằng nếu như

• E DWA R D G I B B O N •

có thể tiêu diệt được giới mục sư, thì đám con chiên bơ vơ của họ sẽ buộc
lòng phải trở về quẩn quanh trong hàng rào của giáo hội Công giáo vì
dốt nát hay vì đói khát. II. Lệnh nghiêm khắc cấm chỉ những cuộc họp
tôn giáo bí mật được cẩn thận mở rộng ra cho mọi hoàn cảnh khả dĩ mà
trong đó tín đồ dị giáo có thể tổ chức nhằm mục đích thờ phụng Thiên
Chúa và Chúa Kitô theo tiếng gọi của lương tâm họ. Những hội nghị tôn
giáo của họ, dù công khai hay bí mật, diễn ra ban ngày hay ban đêm,
trong thành thị hay nơi thôn quê, đều bị bài trừ bởi những sắc lệnh của
Theodosius; và các tòa nhà hay bãi đất vốn được sử dụng cho mục đích
bất hợp pháp đó bị sung vào phần đất đai của hoàng đế. III. Hẳn nhiên,
lỗi lầm của những kẻ dị giáo có thể chỉ phát xuất từ cái đầu bướng bỉnh
của họ; và rằng một tâm tính như thế là đối tượng xứng đáng phải nhận
chỉ trích và hình phạt. Những hình thức rút phép thông công được củng
cố thêm nhờ một thứ vạ tuyệt thông về mặt dân sự, tách họ khỏi đồng
bào bằng một vết ô nhục riêng biệt; và lời tuyên bố này của vị pháp
quan thần thánh có chiều hướng biện minh, hay ít nhất là bào chữa, cho
những lời lăng mạ của một đám quần chúng cuồng tín. Các thành viên
ấy dần dà bị tước mất quyền sở hữu những công việc danh dự và sinh
lợi; và Theodosius lấy làm hài lòng với thứ công lý của chính mình khi
ông tuyên bố rằng, vì lẽ những tín đồ của giáo thuyết Eunomius phân
biệt bản chất của Chúa Con với Chúa Cha, họ không đủ tư cách làm
những chúc thư hay không được nhận bất kỳ mối lợi nào từ những cúng
phẩm theo chúc thư. Tội lỗi của tà thuyết Mani1 bị đặt nặng tới mức nó
chỉ có thể được chuộc tội bằng cái chết của tội nhân; và án phạt tử hình
đó cũng giáng lên tín đồ Audius [Audianism], hoặc Quartodecimans2,

1 Manichaean heresy, tức Manichaeism: Một hệ thống tôn giáo nhị nguyên do nhà tiên tri Ba Tư là
Mani sáng lập vào thế kỷ 3, dựa trên cuộc xung đột nguyên thủy của ánh sáng và bóng tối, giữa cái
thiện và cái ác, kết hợp với các yếu tố của phái Linh Tri (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism),
Bái hỏa giáo (Zoroastrianism), và các yếu tố ngoại giáo khác. Mani giáo được truyền bá theo cả hai
hướng Đông-Tây, nhánh ở Trung Hoa còn được gọi là Minh giáo. [ND]
2 Quartodecimans: tên Latin của “Fourteenthers” (“những người thứ mười bốn”), vì họ kỷ niệm
ngày lễ Vượt qua vào ngày thứ 14 của Nisan (tháng thứ bảy theo lịch Do Thái). [ND]

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

những kẻ cả gan phạm tội tày đình là cử hành lễ Phục sinh không đúng
ngày. Người La Mã nào cũng có thể sử dụng quyền công tố; nhưng chức
danh của các Quan tòa Đức tin,1 một cái tên thật đáng ghê tởm, lần đầu
tiên được lập nên dưới triều đại của Theodosius. Tuy nhiên, chúng ta tin
chắc rằng việc thực thi những sắc lệnh trừng phạt hiếm khi được tuân
thủ; và rằng vị hoàng đế sùng đạo có vẻ như muốn cảnh tỉnh, hoặc muốn
dọa dẫm, các thần dân khó trị của mình hơn là muốn trừng phạt họ.

Lý thuyết bách hại được Theodosius thiết lập, các vị thánh tán dương
ông vì công lý và lòng mộ đạo: nhưng việc thực hành nó, trong quy mô
trọn vẹn nhất, lại được dành cho kẻ thù và cũng là người đồng sự của
ông, Maximus, ông hoàng Kitô giáo đầu tiên làm đổ máu những thần dân
Kitô của mình vì quan điểm tôn giáo của họ. Thủ tục tố tụng các tín đồ
Priscillian, một giáo phái mới nổi của những người dị giáo bấy giờ quấy
nhiễu các tỉnh bang ở Tây Ban Nha, được chuyển từ công đồng Bordeaux
tới thượng tòa Treves [địa danh ở Pháp] do có sự kháng cáo; và bởi phán
quyết của Chưởng quản Vệ binh, bảy người bị tra khảo, bị kết án, rồi
bị hành quyết. Người đầu tiên trong số này chính là Priscillian, vị giám
mục của Avila, ở Tây Ban Nha (năm 385)... Nếu như có thể tin tưởng chút
nào vào những lời thú tội bị ép cung trong cơn đau đớn hoặc sợ hãi, vào
những lời đồn đại mơ hồ, con đẻ của dã tâm và thói nhẹ dạ, thì sẽ thấy
dị giáo của tín đồ Priscillian bao gồm đủ thứ đáng ghê tởm nào là yêu
thuật, nghịch đạo và tà dâm. Priscillian, kẻ lang bạt khắp thế giới cùng
với bạn đường là những người chị em tinh thần của mình, bị cáo buộc là
đã hoàn toàn lõa lồ khi xuất hiện ngay giữa giáo đoàn; và người ta khẳng
định chắc chắn rằng những hệ lụy từ thói chung chạ đáng tội của ông
với cô con gái nhà Euchrocia đã bị bưng bít bằng đủ phương cách còn
ghê tởm và đáng hổ thẹn hơn. Nhưng một cuộc điều tra xác đáng, hay
đúng hơn là công tâm, sẽ khám phá ra rằng nếu như người nào theo giáo
thuyết Priscillian vi phạm những phép tắc tự nhiên, thì đó chẳng phải là

1 Những người chuyên thẩm tra trong các phiên tòa dị giáo. [ND]

• E DWA R D G I B B O N •

do thói phóng túng mà do lối sống khổ hạnh của họ. Họ hoàn toàn lên
án việc sử dụng giường cưới;1 mối quan hệ gia đình thường chẳng mấy
khi yên ấm do có những ngăn cách vô ý. Họ thích, hoặc khuyên, kiêng
cữ hoàn toàn thức ăn có nguồn gốc động vật; những buổi cầu nguyện,
chạy tịnh và những ngày lễ vọng liên miên luôn khắc sâu một phép tắc
của lòng mộ đạo nghiêm chỉnh và hoàn hảo. Những giáo lý tư biện của
giáo phái có liên quan tới nhân thân Chúa Kitô và bản chất của linh hồn
con người bắt nguồn từ phái Linh Tri và hệ thống Mani giáo; và thứ triết
học hão huyền này, vốn đã truyền bá từ Ai Cập đến Tây Ban Nha, khó
mà thích ứng được với những tinh thần thô lậu hơn của phương Tây.
Môn đệ vô danh của Priscillian cứ thất thoát, hao mòn rồi dần dà biến
mất: những giáo lý của ông bị giới giáo sĩ và dân chúng bác bỏ, nhưng cái
chết của ông lại là chủ đề cho một cuộc tranh luận kịch liệt và dai dẳng...
Các vị chưởng quản dân sự và giáo hội đã vượt quá giới hạn tỉnh bang
tương ứng của mình. Vị quan tòa thế tục được cho là đã nhận được một
khiếu nại, và tuyên đọc một bản án dứt khoát đối với một vấn đề thuộc
về quyền phán quyết của giám mục và thuộc lĩnh vực đức tin. Các giám
mục đã tự làm ô danh mình khi vận dụng các chức năng của nguyên cáo
trong tố tụng hình sự. Sự tàn nhẫn của Ithacius, kẻ đứng nhìn những tín
đồ dị giáo bị tra trấn và nài nỉ được xử chết, khiến cho người đời phẫn nộ;
và những thói xấu của vị giám mục trác táng đó được thừa nhận như một
bằng chứng cho thấy lòng nhiệt thành của ông ta bị thôi thúc bởi những
động cơ tư lợi nhơ bẩn. Kể từ khi Priscillian chết đi, những nỗ lực bách
hại man rợ đã được tinh lọc và hệ thống hóa thành thánh vụ, rồi được
đem phân cho những quyền hạn thuộc về giáo hội và thế tục. Nạn nhân
cứ đều đặn được linh mục chuyển cho pháp quan, rồi vị pháp quan lại

1 Vài trích dẫn tham khảo: “Mọi người phải kính trọng sự hôn nhân, chốn khuê phòng chớ có ô uế,
vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình.” [Hebrews 13:4]; “Cho đến
nay, trong một vài nhà thờ người ta thông báo ngày cưới của họ, và kiêng dùng giường cưới vào
đêm đó.”, Calmet’s Great Dictionary of the Holy Bible (Đại từ điển Kinh thánh của Calmet); Charles
Taylor, Edward Wells, và Augustin Calmet; mục từ “MAR”, trích dịch. [ND]

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

chuyển cho đao phủ; và lời phán quyết không khoan nhượng của giáo
hội, lời phán quyết công bố tội lỗi tinh thần của tội nhân, được thể hiện
bằng thứ ngôn ngữ nhẹ nhàng của lòng thương xót và cầu nguyện hộ.

Maximus xâm lấn Ý, nhưng bị Theodosius đánh bại (năm 387). Theodosius
trả lại ngai vàng cho Valentinian II (năm 388). Sau một nỗ lực nhằm bãi chức viên
chỉ huy người Frank là Arbogastes, Valentinian bị ám sát, và Arbogastes nâng
đỡ cho Eugenius, nhà diễn thuyết và cũng là viên thư lại của ông, lên ngai vàng
phương Tây (năm 392). Theodosius quay trở lại Ý và đánh bại bọn tiếm quyền
(năm 394).]

Chiến thắng [của Theodosius] mang tính quyết định; và cái chết của
hai kẻ thù của ông chỉ được phân biệt ở sự khác nhau về tính cách của họ.
Nhà diễn thuyết Eugenius, người gần như đã giành được quyền thống trị
thế giới, phải van xin hoàng đế rủ lòng thương; và đám lính tàn nhẫn đã
cắt lìa đầu ông khi ông phủ phục dưới chân Theodosius. Arbogastes, sau
khi thất trận, rũ bỏ bổn phận của một người lính và một tướng quân, đã
lang thang mấy ngày giữa núi non. Nhưng khi bắt đầu tin rằng sự nghiệp
của mình chẳng thể vãn hồi mà trốn chạy cũng là điều bất khả, gã rợ gan
dạ ấy bèn theo gương của những người La Mã cổ đại và quay mũi gươm
cắm vào ngực mình. †

Sau thất bại của Eugenius, giá trị cũng như uy quyền của Theodosius
được những cư dân của thế giới La Mã vui vẻ công nhận. Họ đã thấy
phẩm hạnh của ông trong quá khứ, nên họ phấn khởi kỳ vọng về triều
đại của ông trong tương lai; và tuổi tác của vị hoàng đế, lúc đó chưa ngoài
50, dường như khiến cho triển vọng của phúc lành muôn dân càng thêm
xán lạn. Dân chúng xem cái chết của ông, chỉ bốn tháng sau chiến thắng,
là một sự kiện tai hại khôn lường trước, phút chốc đã làm tiêu tan những
hy vọng của thế hệ đang lớn lên [ngày 17 tháng 1 năm 395]. Nhưng việc
dung túng thói dễ dãi và xa hoa đã âm thầm bí mật nuôi dưỡng những
mầm hại. Sức mạnh của Theodosius không thể chống đỡ được cho cuộc

• E DWA R D G I B B O N •

chuyển tiếp bất ngờ và đầy bạo lực từ cung điện cho đến doanh trại; và
ngày càng có nhiều triệu chứng của một căn bệnh phù nề báo hiệu về cái
chết sắp sửa xảy đến với vị hoàng đế. Quan điểm của quần chúng, và có
lẽ cả lợi ích của họ nữa, chứng thực cho sự phân chia của đế chế phương
Đông và phương Tây; và hai chàng thanh niên hoàng gia Arcadius và
Honorius, vốn đã được nhận tước vị augustus nhờ sự chu đáo của cha,
sớm muộn rồi cùng chiếm giữ các ngai vàng của Constantinople và La
Mã. Các ông hoàng đó không dự phần vào hiểm nguy và vinh quang của
một cuộc nội chiến; nhưng ngay sau khi Theodosius đã thắng các đối
thủ không xứng tầm, ông cho vời cậu con út Honorius tới để tận hưởng
thành quả chiến thắng, và để nhận lấy quyền trượng của phương Tây từ
tay người cha sắp lìa đời [ngày 16 tháng 1 năm 395]... Bất chấp những
mối oán thù vừa qua trong một cuộc nội chiến, ai nấy đều than van khi
Theodosius thăng hà. Đám rợ mà ông đã đánh bại và những giáo sĩ đã
bị khuất phục dưới tay ông, thảy đều nhiệt liệt và chân thành ca tụng
những phẩm chất của vị hoàng đế đã khuất, những phẩm chất dường
như là giá trị nhất trong mắt họ. Người La Mã thấy kinh hãi khi nghĩ về
chính quyền yếu nhược và bị phân chia, trong khi mọi khoảnh khắc ô
nhục trong các triều đại bất hạnh của Arcadius và Honorius lại gợi nên ký
ức về nỗi mất mát không gì bù đắp nổi. †

Nếu như có chút sự thật nào để khẳng định được rằng thói xa hoa của
người dân La Mã trong triều đại Theodosius là đáng hổ thẹn và phóng
đãng hơn triều đại Constantine, hay thậm chí là của cả Augustus, thì sự
thay đổi đó không thể nào được quy cho bất kỳ những cải thiện nào đã
dần dà làm tăng nguồn của cải dự trữ của quốc gia. Một thời kỳ tai ương
và sa sút kéo dài ắt hẳn đã cản trở kỹ nghệ và làm giảm sút đời sống sung
túc của người dân thời bấy giờ; và thói xa hoa đến mức hoang phí của họ
có lẽ là kết quả của nỗi tuyệt vọng biếng lười, chỉ muốn tận hưởng giờ
phút hiện tại và né tránh dự kiến chuyện tương lai. Điều kiện bấp bênh
về tài sản xui khiến những thần dân của Theodosius không tham gia

• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •

vào những sự vụ hữu ích và nặng nhọc vốn phải cần tới một khoản chi
phí tức thời trong khi mối lợi tương lai quá xa vời. Thường phải chứng
kiến những cảnh tượng hoang tàn, họ không khư khư ôm giữ lấy cái
phần gia sản còn lại, bởi lẽ bất cứ phút giây nào nó cũng có thể trở thành
miếng mồi cho bọn Goth tham tàn. Và sự hoang phí điên rồ thường thấy
trong cảnh hỗn loạn của một cuộc tàn phá hay một cuộc vây hãm trường
kỳ có thể giúp giải thích được sự tiến triển của đời sống xa hoa ngay giữa
nghịch cảnh và giữa nỗi kinh hoàng của một quốc gia đang chìm đắm.

Thói xa hoa ẻo lả đã làm hỏng tập quán của các cung điện và các thành
phố cũng chính là thứ tiêm nhiễm một chất kịch độc bí mật vào doanh trại
các quân đoàn; và sự suy đồi trong doanh trại đã được một tác giả chuyên
viết về đề tài quân sự chỉ ra, người này đã nghiên cứu tường tận những
nguyên tắc đích thực và cổ xưa của kỷ luật La Mã. Chính là Vegetius, ông
đã có một nhận xét quan trọng và xác đáng rằng bộ binh lúc nào cũng che
kín thân mình bằng tấm áo giáp phòng vệ, kể từ ngày thành La Mã được
kiến lập cho tới triều đại của hoàng đế Gratian. Sự buông lung kỷ luật
và bỏ bê luyện tập khiến cho lính tráng trở nên kém cỏi và cũng chẳng
hề hào hứng gánh vác công việc mệt nhọc trong quân dịch; họ phàn nàn
về trọng lượng của áo giáp, thứ chẳng mấy khi họ khoác lên; rồi họ năm
lần bảy lượt đạt được quyền gạt bỏ đi cả áo giáp kín thân lẫn mũ phòng
hộ. Các món binh khí nặng nề của tổ tiên, thanh đoạn gươm và cái lao
đáng gờm từng một thời chinh phục thế giới, mà nay rơi tuột khỏi đôi
tay yếu nhược của họ từ lúc nào không hay. Vì khiên che không hợp với
cung tên, họ miễn cưỡng hành quân vào chiến trường, cam chịu những
vết thương đau đớn hoặc đành tháo chạy nhục nhã, và luôn có khuynh
hướng thích chọn lựa sự ô nhục kia hơn. Kỵ binh của người Goth, Rợ
Hung và người Alani đã nhận thấy lợi ích của áo giáp phòng hộ, và quyết
định sử dụng nó; và vì vượt trội hơn trong việc kiểm soát những loại vũ
khí dùng để phóng, họ dễ dàng áp đảo các quân đoàn trần trụi và run rẩy
cam chịu phơi trần ngực mình trước những mũi tên của đám rợ. Tổn thất

• E DWA R D G I B B O N •

của quân đội, cảnh tan hoang của các thành thị và sự hoen ố của danh
xưng La Mã, tất thảy như van lơn, song vô vọng, các vị kế nhiệm Gratian
hãy khôi phục mũ phòng vệ và áo giáp kín thân cho bộ binh. Lính tráng
đã mỏi mòn, chẳng thiết tha gì đến việc che chắn cho cộng đồng cũng
như cho chính họ; và thói biếng lười khiếp nhược của họ có thể được xem
là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự suy sụp của đế chế.


Click to View FlipBook Version