OAU U OO TU TA O T A AA
tA
T t
t
SỰ SUY TÀN VÀ SỤP ĐỔ CỦA ĐẾ CHẾ LA MÃ (QUYỂN I & II)
Tác giả: Edward Gibbons
Bản quyền tiếng Việt © Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Được xuất bản theo thỏa thuận với Modern Library, một nhãn hiệu của Random House,
một thương hiệu của Penguin Random House LLC.
Bản dịch tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam xuất bản, bìa cứng, áo ôm, 2022.
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam - thành viên của Alpha Publishing Group.
CÔNG TY CP SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS) thành lập tháng 9/2016 với định hướng xuất bản tri
thức nền tảng trong lĩnh vực Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Chính trị - Xã hội, Triết học, Nghệ
thuật… Đến nay, chúng tôi đã xuất bản hơn 300 đầu sách thuộc 6 tủ sách bao gồm: Kinh điển, Sử Việt,
Khoa học, Nhân vật Vĩ đại, Nghệ thuật và Tủ sách Đời người. Thông qua việc xuất bản các ấn phẩm có giá
trị, mang hàm lượng tri thức cao, qua các hoạt động nhằm đưa tri thức hữu ích đến cộng đồng; Omega Plus
mong muốn đóng góp theo cách riêng vào sự phát triển đang ngày càng mạnh mẽ của xã hội.
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép, lưu trữ trong hệ thống truy xuất hoặc truyền
đi dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào gồm điện tử, cơ khí, sao chụp, ghi âm hoặc
mọi hình thức và phương tiện khác mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách
Omega Việt Nam. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả để sách
ngày càng hoàn thiện hơn
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Gibbon, Edward
Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã / Edward Gibbon ; Biên tập: Hans-Friedrich Mueller. - H. : Thế giới ;
Công ty Sách Omega Việt Nam. - 27 cm
Q.1, Q.2. - 2022. - 712 tr.
1. Lịch sử 2. Đế chế La Mã 3. Italia
937. 06 - dc23
TGK0201p-CIP
Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected]
Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected]
Liên hệ dịch vụ bản quyền, xuất bản, ký gửi và phát hành: [email protected]
D HG FK HOOH biên tập
SỰ SUY TÀN
VÀ SỤP ĐỔ CỦA
ĐẾ CHẾ LA MÃ
QUYỂN I-II
KD K K dịch
Đ I NG TRIỂN KHAI OMEGA+
Phụ trách xuất bản: Trần Hoài Phương
Điều phối sản xuất: Nguyễn Quang Diệu
Biên tập viên: Nguyễn Lê Hoài Nguyên
Thiết kế bìa: Phạm Ngọc Điệp
Trình bày: Minh Thái
Thư ký xuất bản: Vũ Thị Giang
ĐƠN VỊ HỢP TÁC TRUYỀN THÔNG
https://www.facebook.com/tramdocvn
website: http://tramdoc.vn/
LỜI TRI ÂN
ôi hiểu được tại sao Will Murphy, biên tập viên cao cấp của nhà
Random House, lại nóng lòng muốn làm một bản rút gọn tác
phẩm Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã của Edward Gibbon cho loạt
sách bìa mềm của hạng mục Modern Library Paperback Classics. Công trình
của Gibbon có nhiều điều để nói với ta, giá như ta có đủ thì giờ. Đến nay
vẫn không rõ lý do gì Will lại chọn tôi làm biên tập viên để cho ra đời bản
rút gọn mới này, nhưng trước giờ tôi không hề có thói quen dò xét quá kỹ
lưỡng những món quà mà số phận mang đến. Thay vào đó tôi bày tỏ niềm
tri ân chân thành nhất. Và niềm tri ân của tôi dành cho Will còn vượt cả sự
chọn lựa ban đầu đó. Will Murphy là người vừa có tác phong rất chuyên
nghiệp lại vừa hòa đồng; quả là duyên may khi lại được làm việc cùng ông,
và, một lần nữa, tôi xin bày tỏ niềm tri ân chân thành. Những người khác
ở Random House cũng rất đáng được nhắc đến: Vincent La Scala đã làm
việc rất mực cẩn thận trên văn bản. Evan Camfield, giữ vai trò biên tập viên
soát bản thảo, đã thực hiện một khối lượng công việc đồ sộ mà vẫn giữ nét
duyên dáng và hóm hỉnh, đã cứu văn bản rút gọn này khỏi vô khối những
chỗ sai lạc hoặc không phù hợp. Tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp tại Khoa
Kinh điển học Đại học Florida vì đã khích lệ, góp ý, và hỗ trợ tận tình. Tôi
không biết vợ tôi, Terri, hoặc các con gái, Sarah, Anna, Paula và Laura liệu
có tha thứ cho tôi vì đã thường xuyên vắng mặt để dành quá nhiều thì giờ
cho người khác, nhưng tôi thực sự hy vọng biết đâu sẽ có ngày họ tìm thấy
trong những trang sách này một phần nào sự đền bù cũng như sự ghi nhận
cho hành xử của tôi. Tôi xin dành tặng ấn bản này cho cha mẹ tôi, Hans O.
và Dorothy C. Mueller, với niềm cảm kích về tất cả những gì họ đã làm.
MỤC LỤC
LỜI TRI ÂN 5
6
MỤC LỤC 9
21
LỜI GIỚI THIỆU 39
LỜI NÓI ĐẦU 45
LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ 55
81
QUYỂN I
109
Chương I
QUY MÔ ĐẾ CHẾ DƯỚI THỜI VƯƠNG TRIỀU ANTONINE 127
145
Chương II
SỰ PHỒN THỊNH BÊN TRONG ĐẾ CHẾ LA MÃ
DƯỚI THỜI VƯƠNG TRIỀU ANTONINE
Chương III
HIẾN PHÁP DƯỚI THỜI VƯƠNG TRIỀU ANTONINE
Chương IV
SỰ TÀN ÁC, NHỮNG HÀNH ĐỘNG ĐIÊN RỒ
CỦA COMMODUS VÀ VỤ SÁT HẠI ÔNG TA
Chương V
VỆ BINH CÔNG KHAI BÁN ĐẾ CHẾ
CHO DIDIUS JULIANUS
Chương VI
SEVERUS THĂNG HÀ, SỰ BẠO NGƯỢC CỦA CARACALLA
Chương VII 175
SỰ CHUYÊN CHẾ CỦA MAXIMIN, BẠO LOẠN, 201
CÁC CUỘC NỘI CHIẾN, CÁI CHẾT CỦA MAXIMIN 211
225
Chương VIII 251
NHÀ NƯỚC BA TƯ VÀ SỰ PHỤC HỒI CỦA NỀN QUÂN CHỦ 271
293
Chương IX 317
TÌNH TRẠNG CỦA XỨ ĐỨC DƯỚI THỜI DÂN RỢ 349
CHƯƠNG X 405
CÁC HOÀNG ĐẾ DECIUS, GALLUS,
AEMILRANUS, VALERIAN, VÀ GALLIENUS
Chương XI
TRIỀU ĐẠI CLAUDIUS. CUỘC CHIẾN BẠI CỦA NGƯỜI GOTH
Chương XII
CÁC TRIỀU ĐẠI CỦA TACITUS,
PROBUS, CARUS VÀ CÁC CON TRAI ÔNG TA
Chương XIII
TRIỀU ĐẠI CỦA DIOCLETIAN CÙNG BA CỘNG SỰ
Chương XIV
SÁU VỊ HOÀNG ĐẾ CÙNG TẠI VỊ
SỰ TÁI HỢP NHẤT CỦA ĐẾ CHẾ
Chương XV
SỰ TIẾN TRIỂN CỦA KITÔ GIÁO
Chương XVI
HÀNH XỬ CỦA CHÍNH QUYỀN LA MÃ
ĐỐI VỚI KITÔ HỮU, TỪ TRIỀU ĐẠI CỦA NERO
TỚI CONSTANTINE
QUYỂN II 457
491
Chương XVII 511
SỰ TẠO DỰNG THÀNH CONSTANTINOPLE 533
567
Chương XVIII 601
CÁ TÍNH CỦA CONSTANTINE VÀ CÁC CON TRAI 617
643
Chương XIX
CONSTANTIUS, HOÀNG ĐẾ DUY NHẤT 659
691
Chương XX
CONSTANTINE CẢI ĐẠO
Chương XXI
CUỘC BÁCH HẠI DỊ GIÁO, TÌNH TRẠNG CỦA GIÁO HỘI
Chương XXII
JULIAN ĐƯỢC TUYÊN XƯNG HOÀNG ĐẾ
Chương XXIII
TRIỀU ĐẠI CỦA JULIAN
Chương XXIV
SỰ THOÁI LUI VÀ CÁI CHẾT CỦA JULIAN
Chương XXV
CÁC TRIỀU ĐẠI CỦA JOVIAN VÀ VALENTINIAN,
SỰ PHÂN CHIA CỦA ĐẾ CHẾ
Chương XXVI
BƯỚC TIẾN CỦA QUÂN RỢ HUNG
LỜI GIỚI THIỆU
D H-
ó nhiều lý do để ngưỡng mộ Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã
của Edward Gibbon. Kể từ khi vài tập của bộ sách này được
xuất bản lần đầu trong khoảng năm 1776 đến năm 1788, chỉ một ít cuốn
sử nhận được lời ca ngợi thái quá. Người biên tập bộ sách này trong thế
kỷ 20, nhà sử học J. B. Bury, gọi Gibbon là “một trong số ít các tác giả giữ
vị thế cao trong lịch sử văn chương cũng như trong danh sách các sử giả
vĩ đại.” Hầu hết sinh viên chuyên ngành lịch sử và văn chương hẳn sẽ
đồng ý với nhận định đó.
Sự tán thưởng dành cho Gibbon (1737-1794) trở nên rất hợp thời cùng
với sự xuất hiện của những thành kiến Marxist và tự do chủ nghĩa chống
tôn giáo. Và khi ngày càng có nhiều người mang tư tưởng bi quan về
tương lai của văn minh Tây phương, Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã
đã trở thành một cuốn cẩm nang thuận tiện để tìm hiểu ngọn nguồn sự
suy bại trong các đế chế cũng như các nền văn minh khác. Tôi không
định tranh luận xem những giải thích của Gibbon về sự sụp đổ của La Mã
1 Tiểu luận này được xuất bản với nhan đề “The Intimacy of Gibbon’s Decline and Fall” (Tính
gần gũi của tác phẩm Sự suy tàn và sụp đổ của Gibbon) trong Hidden History (New York: Harper
& Row, 1987).
2 Nhà sử học đoạt giải Pulizer, giữ vai trò quản thủ danh dự của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, cũng là
tác giả của nhiều đầu sách, bao gồm The Creators và The Discoverers.
• E DWA R D G I B B O N •
có thỏa đáng hay không. Tôi cũng sẽ không thăm dò những nét tương
đồng, đáng ngại hoặc không đáng ngại, giữa đường lối của đế chế La Mã
và của nền văn minh Tây phương hiện đại.
Mối quan tâm tôi dành cho tác phẩm của Gibbon lại khá khác biệt.
Tôi sẽ không đánh giá bộ sách là một “tuyệt phẩm”. Đúng hơn tôi sẽ coi
nó là một tác phẩm “gần gũi”. Ý tôi muốn nói đến một cuốn sách gợi lên
điều gì đó rất cá nhân với chúng ta ngày nay. Tôi biết là có vẻ kỳ quặc khi
dùng cụm từ “gần gũi” để mô tả một con người với khí văn hoành tráng
như Gibbon và một tác phẩm nhiều tập về một chủ đề lớn lao nhường ấy.
Với cá nhân tôi, sách của Gibbon mang một ý nghĩa gần gũi đặc thù.
Đây là tác phẩm bao quát đầu tiên về văn học Anh (hoặc về lịch sử) mà
tôi đã đọc đi đọc lại. Nó chiếm lĩnh phần nhiều suy nghĩ của tôi suốt
mấy năm đại học. Và bản khắc họa khuôn mặt bầu bĩnh của Gibbon, do
Chapman thực hiện vào năm 1807, cách mấy chục năm sau ngày Gibbon
qua đời, treo trên tường phòng làm việc của tôi. Khuôn mặt của Gibbon
vẫn ở cùng tôi kể từ ngày tôi được biết ông.
Có thể tác phẩm của Gibbon có một ý nghĩa gần gũi, mang tính cá
nhân đối với tất cả những độc giả sách lịch sử và những tác giả viết sử
trong thời đại chúng ta. Có lẽ ông giúp ta khám phá ra một số điểm yếu
và điểm mạnh dị thường trong cách nhìn nhận quá khứ của ta. Để khám
phá ra sự gần gũi này ta phải cố sao đừng chỉ coi Gibbon như một người
phát ngôn cho công cuộc Khai minh, cũng đừng coi tác phẩm của ông
chỉ như một nỗ lực hòng hoàn thiện một thể loại trong khoa học xã hội.
Thay vào đó, ta hãy coi ông như một trường hợp độc đáo, tìm một định
hướng của riêng mình đối với một phần lớn của quá khứ.
Nghĩ theo hướng này thì ngay từ đầu ta sẽ nhận ra đặc điểm phân
biệt, nếu không nói là hoàn toàn độc nhất, về vị thế của ông trong danh
sách các nhà sử học Tây phương. Bất chấp tính phổ rộng và liên tục của
lượng người quan tâm đến Gibbon, dường như ông chưa hề lập nên một
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
“trường phái” lý giải lịch sử “kiểu Gibbon”. Ví dụ, Từ điển bách khoa quốc
tế về khoa học xã hội, vốn có cả những mục mở rộng viết về các nhân vật
có tầm ảnh hưởng kém hơn như Bryce, Burckhardt, Huizinga, Maitland,
Ranke, Savigny và Spengler, song lại không hề chú ý đến Gibbon. Những
học giả nghiêm túc không hề nghi ngờ tính độc đáo và tầm quan trọng
của tác phẩm Gibbon. Ấy vậy mà ông chưa từng trở thành nhà sáng lập
của một “trường phái”. Ông không đảm nhận cương vị người khởi xướng
của bất kỳ khung khái niệm mới nào, hoặc bất kỳ cách mới lạ nào để phân
định quá khứ nhân loại. Theo tôi đây chính là một đầu mối cho tính “gần
gũi” trong thông điệp của ông về thời quá khứ, và những gì ông có thể
nói cho mỗi chúng ta về vai trò của con người trong biên niên sử vĩ đại
của các đế chế và các nền văn minh.
Nghề làm sử, cùng tất cả những đồ lề cần thiết của nó lấy từ các xã
hội có học thức và các chuyên ngành học thuật uy tín, vốn chỉ bước đầu
phát triển kể từ thời của Gibbon. Mãi cho đến đầu thế kỷ 19 giới học
thuật mới chớm vượt qua được những kỹ thuật của nền học thuật và
phê bình văn bản cổ điển để tạo dựng các ngành mới như khảo cổ học
và ngữ văn, nhân loại học, xã hội học và kinh tế học, từ đó tạo ra những
công tác mới dành cho những người chuyên tìm kiếm các sự kiện, phong
trào và lực lượng.
Thật đáng ngờ nếu trong khoa học xã hội lại có ví dụ nào khác về một
tác phẩm lâu đời, đáng kính và nổi tiếng tầm cỡ như tác phẩm này mà lại
chỉ chứa đựng một thành phần nhỏ nhoi những thứ võ đoán và giáo điều.
Các công trình sử học toàn diện trong những năm gần đây - vốn được
những sinh viên các ngành hoa học xã hội xem trọng học tập - đều mang
nặng tính giáo điều. Tôi đang nghĩ đến các tác phẩm sáng giá, chẳng hạn,
của Macaulay, Carlyle, Marx, Pareto, Tawney và Toynbee. Các tác phẩm
này dường như đạt được phần nhiều danh tiếng và tầm ảnh hưởng là
nhờ vào sức hấp dẫn đặc biệt của một số công thức mới trong việc giải
thích và dung nạp kinh nghiệm lịch sử.
• E DWA R D G I B B O N •
Vậy, làm sao ta giải thích được sức mạnh, sự trường tồn và sức lôi cuốn
của Gibbon, mặc dù về thực chất ông thiếu khuyết nội dung mang tính
khái niệm nguyên bản.
Ngay từ đầu, chúng ta phải nhớ rằng Gibbon vốn có được lợi thế là
dân không chuyên. Không giống như một số nhà thông dịch đại tài khác
về thời quá khứ, mà trong đó có nhiều người cũng là dân không chuyên,
trong chủ đề của mình Gibbon không bị dẫn dụ hoặc thôi thúc bởi những
sự vụ cấp bách của thời ông, bởi một động cơ tôn giáo, hoặc bởi bầu nhiệt
huyết ái quốc. Trong cái nghĩa nguyên sơ của từ “dân không chuyên”,
ông đơn giản là một người yêu mến chủ đề ông đã chọn. Và ở một đoạn
nổi tiếng trong Hồi ký của mình, ông hồi tưởng chính cái khoảnh khắc
ông lần đầu cảm nhận được niềm say mê đó khi ông ngồi trong Đại hý
trường ở Rome. Trong một đoạn khác, không nổi tiếng bằng, ông đã nhớ
lại những cảm xúc xen lẫn khi kết thúc một mối tình:
Đó là tối ngày 27 tháng 6 năm 1787, khoảng giữa 11 giờ và 12 giờ khuya,
tôi viết những dòng cuối cùng của trang cuối cùng, trong một khu vườn ở
Summerhouse... Tôi không định che giấu những cảm xúc vui sướng ban
đầu vì lấy lại được tự do, và có lẽ, vì tạo dựng được danh tiếng cho mình.
Nhưng chẳng mấy chốc niềm kiêu hãnh trong tôi hóa tầm thường, và nỗi
sầu muộn điềm đạm dâng ngập tâm trí tôi, bởi tôi nghĩ rằng mình đã vĩnh
viễn chia xa một người bạn cố tri và dễ mến, và rằng dẫu mai đây công trình
sử của tôi xuất hiện vào ngày tháng nào đi nữa, thì cuộc đời của người làm
sử hẳn là ngắn ngủi và bấp bênh.
Giống như những tài năng không chuyên khác - và những người yêu
nghề khác - ông đã dấn thân mà không thực sự chuẩn bị sẵn sàng. Ông
đã không được đào tạo nghiệp vụ chính quy trong hành trang trở thành
một người làm sử về đế chế La Mã. Mười bốn “tháng vô bổ” của ông
tại Trường Magdalen, Đại học Oxford, ngôi trường mà ông cho là “ngập
chìm bầu không khí ẩn lánh và thành kiến”, chẳng trang bị cho ông những
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
công cụ học thuật mà ông cần. Ông than thở rằng chương trình đào tạo
thiếu bài bản bằng tiếng Hy Lạp đã khiến ông không có được “đôi tai biết
cân nhắc của nhà phê bình sắc sảo”. Công việc của ông trong vai trò một
nhà sử học cổ đại chẳng bao giờ là một phần trong những bổn phận chiếu
lệ của công tác học thuật.
Ngoại trừ mỗi một niềm say mê này, ông vốn không phải là kiểu người
nhiệt thành với bổn phận trách nhiệm. Năm 16 tuổi ông gia nhập vào
Giáo hội Công giáo La Mã, nhưng khi được cha gửi tới Lausanne [Thụy
Sĩ], vị gia sư của ông ở địa phương đã nhanh chóng đưa ông trở lại Tin
Lành. Mặc dù hoài nghi dòng Kitô giáo chính thức [Công giáo La Mã],
song ông nhận thấy mình có khuynh hướng tự nhiên của một người chủ
trương bảo thủ chính trị. Ông có lợi thế đôi chút về kinh nghiệm chính
trị - với cương vị một thành viên trong Nghị viện và một ủy viên hội đồng
về vấn đề thương mại và đồn điền. Đời sống chính trị của ông là thận
trọng và thực dụng. Ông là bạn và cũng là người ngưỡng mộ Lord North
[Frederick North (1732-1792)], ông cũng viết cho vị này một văn kiện chủ
trương chống Pháp trong những năm trước Cách mạng [tức Cách mạng
Pháp (1789-1799)]. Khi các thuộc địa xứ Mỹ phản kháng quyền lực của
Nghị viện và phát động một cuộc nội chiến, ông tin rằng họ đã sai. Nhưng
sau khi Trận chiến Saratoga đã cho thấy rõ rằng đại dương và những con
người ôm bầu nhiệt huyết độc lập vốn đã chia cắt các thuộc địa xứ Mỹ,
ông thừa nhận rằng những nỗ lực tốn kém của Lord North hòng khuất
phục dân Mỹ thật là vô vọng.
Trong một thời đại đầy rẫy những kẻ bợ đỡ và thói bợ đỡ vốn lại được
tưởng thưởng, ông không hề dốc sức cống hiến cho một ai - cũng vì vậy
mà ông không có được danh vọng tương xứng. Ông giúp ta hiểu tại sao,
và tình cờ cũng giúp ta chia sẻ cái nhìn của ông về nghĩa lý của con người
trong những thăng trầm thịnh suy của đế chế. Ông đã viết những lời sau
đây trong phần lời tựa của quyển IV và quyển cuối cùng, được xuất bản
sau khi Lord North đã sa cơ thất thế:
• E DWA R D G I B B O N •
Nếu tôi có cao vọng muốn tìm được bất kỳ người bảo trợ nào khác
ngoài công chúng, tôi sẽ đề tặng tác phẩm này cho một chính khách, vị
này, trong một chính quyền dài lâu, đầy sóng gió và cuối cùng là bất hạnh,
đã có nhiều đối thủ chính trị, song lại hầu như không có kẻ tư thù; con
người ấy ngay trong cảnh sa cơ thất thế vẫn giữ lại được nhiều bạn hữu
trung nghĩa và vô tư lợi; và cũng con người ấy, khi phải oằn mình dưới
trình trạng ốm yếu nghiêm trọng, vẫn tận hưởng sức sống tươi vui của trí
óc và niềm hạnh phúc của sự điềm tĩnh vô song. Lord North sẽ cho phép
tôi bày tỏ những cảm xúc của tình bạn trong ngôn ngữ của sự thật: nhưng
ngay cả sự thật và tình bạn hữu cũng phải lặng câm nếu như ông vẫn cứ
ban phát những ân huệ của vương miện.
Gibbon vẫn không hề gắn mình với bất kỳ quan điểm nào ngoại
trừ quan điểm của bản thân. Một người quan sát tinh tường là Horace
Walpole, đã chào đón quyển đầu tiên trong bộ sử của Gibbon bằng thái
độ kinh ngạc, xem đây là “một công trình kinh điển thực sự”; vị này cũng
lưu ý rằng trong Nghị viện, Gibbon vốn được gọi là “một người quái dị
vì ông ta biểu quyết mỗi lúc mỗi khác tùy theo ý kiến nhất thời. Tôi...
chưa bao giờ nghi ngờ tầm mức tài năng của ông ta, một người rất mực
khiêm nhường.”
Những mối gắn bó nặng tình của Gibbon cũng bị chi phối bởi bản
tính thận trọng và đúng mực. Năm 20 tuổi ở Lausanne (1757), ông mê
đắm nàng Suzanne Curchod (1739-1794) xinh đẹp và hóm hỉnh, khi ấy
mới 18 tuổi. Nhưng khi bị cha phản đối, Gibbon bèn cắt đức hôn ước. Về
sau cô kết hôn với Jacques Necker, nhà tài phiệt kiêm chính trị gia người
Pháp, và thành lập một trong những salon nổi tiếng nhất của Paris hiện
đại. (Thật tình cờ, con gái họ là người kinh doanh salon và cũng là tác
giả viết nhiều, Madame de Staël!). Hôn ước tan vỡ của Gibbon xảy ra bảy
năm trước khi ông viết Sự suy tàn và sụp đổ. Liệu Gibbon có thể làm gì với
tài năng của mình nếu như, thay vì nghe theo lời cha, ông lại chia sẻ đờ
mình với Suzanne kiều diễm?
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
Gibbon từng khiêm tốn bảo rằng “sự cần mẫn và chính xác là những
giá trị duy nhất mà một người viết sử có thể tự gán cho mình; nếu quả
có bất kỳ giá trị nào có thể nhận lấy từ việc thực hiện một nhiệm vụ thiết
yếu.” Tuy nhiên sản phẩm từ niềm say mê trải 20 năm của ông cho thấy
rằng một kiệt tác sử học đòi hòi nhiều hơn thế. Cũng không hề kém cạnh,
ấy là cảm thức kinh ngạc không vơi cạn cũng như sự tò mò đầy khoan
dung của ông dành cho những nhược điểm của người đời. Một con mắt
láo liên, một khát khao thái quá, những thị hiếu suy đồi, vẻ đẹp hoặc sự
méo mó của tầm vóc con người - ông chứng kiến tất cả những điều ấy với
niềm thích thú.
Ông có thể dễ dàng biến những thảm họa của tự nhiên thành những
ngụ ngôn về bản tính con người. Trận động đất làm rung chuyển Đông
Địa Trung Hải vào ngày 21 tháng 7 năm 365, nhân đó ông nhận xét:
... với trí tưởng tượng hoảng loạn, họ phóng đại tầm mức thực sự của
một sự kiện xấu nhất thời... Và vì sợ hãi mà đầu óc phù hoa của họ có
khuynh hướng lầm lẫn những triệu chứng về một đế chế suy tàn với một
thế giới đang chìm xuống. Theo cái mốt thịnh hành của thời bấy giờ, họ gán
mọi biến cố đáng kể cho ý chí đặc thù của Thần linh; những biến chuyển
của tự nhiên được liên tưởng bằng một sợi dây vô hình với những quan
niệm về đạo đức siêu hình trong tâm trí con người; và ngay cả những giáo sĩ
thông tuệ nhất cũng cố công phân biệt, tùy theo sắc thái thành kiến tương
ứng, rằng sự thiết lập của dị giáo thường khi làm phát sinh một trận động
đất, hoặc rằng một trận đại hồng thủy là hậu quả tất yếu cho sự tiến triển
của tội lỗi và lầm lạc. Không tự cho phép mình thảo luận về tính chân lý
hoặc sự thích đáng của những suy lý cao siêu này, người viết sử có thể tự
bằng lòng với một nhận xét, mà dường như được minh chứng bằng trải
nghiệm, rằng đáng ra con người phải sợ những dục vọng của đồng loại
mình nhiều hơn so với những biến động của các nhân tố tự nhiên.1
1 Trong đoạn đầu tiên, ở chương XXVI. [Cước chú của người dịch, về sau viết tắt là ND]
• E DWA R D G I B B O N •
Thói quen hằng ngày của những con người xa xưa và xa lạ giúp ta hiểu
những mối gắn bó mang tính sinh tử của họ. Về người Scythia hoặc người
Tartar, ông lưu ý “có phần miễn cưỡng” rằng “những phong tục của dân
chăn thả gia súc, vốn dĩ được tô điểm bằng thuộc tính ngữ quá ư mĩ miều
như hiền hòa hoặc chất phác, nhưng kỳ thực họ dễ thích nghi hơn nhiều
với những thói quen dũng mãnh và ác độc của cuộc đời chinh chiến.”
Cả chế độ ăn của họ (không phải ngũ cốc mà là thịt tươi vừa được giết
mổ) và loại lều nhẹ dễ di chuyển của họ đều giúp ta phần nào hiểu được
rằng những chuyện họ đã làm đối với họ mà nói là thật dễ dàng. “Những
chiến công của đám thợ săn xứ Scythia không chỉ giới hạn trong việc tiêu
diệt những con thú nhút nhát và vô hại; họ còn cả gan chạm trán con lợn
rừng hung tợn, khi nó quay ra tấn công kẻ săn đuổi mình, khơi gợi sự can
đảm ù lì của con gấu và kích động cơn giận dữ của con hổ, khi nó thiu
thiu ngủ trong bụi cây.” Và thế là những sắc thái của bản tính con người
lại vừa được hé lộ cho ta “trên những vùng bình nguyên mênh mông của
xứ Scythia và Tartary.”
Gibbon đã may mắn được sinh ra trong một thời đại những người có
học vấn được kỳ vọng mang đến “nguồn giải trí và khai trí”. Thế giới
khoa học - bất chấp những thứ sáo rỗng trong một Thời đại Lý trí của
chúng ta - mới được giải phóng khỏi sự đòi hỏi nghĩa lý thời Trung cổ.
Trong xã hội hoàng gia và “những đoàn thể vô hình khác”, giới khoa
học gia, nghệ nhân và dân không chuyên bấy giờ đang mở rộng thế giới
bằng cách gia tăng những lượng kiến thức nhỏ nhoi. Tất nhiên cũng có
vài tên tuổi chói sáng, như Ngài Isaac Newton. Nhưng sự dịch chuyển
quan trọng nhất trong thái độ truy tầm tri thức lại chuyển từ mối quan tâm
vũ trụ sang mối quan tâm đến sự kiện thực tế. Hiện nay dường như ai nấy
đều có thể trở thành nhà khoa học của chính mình. Kính thiên văn, “kính
bọ chét” (kính hiển vi), nhiệt kế và rất nhiều những thiết bị đo lường khác
bấy giờ đang biến trải nghiệm thành thí nghiệm. Hướng tiếp cận mới
này đối với thế giới vật lý - tạo ra một vùng đất hoang rất giàu tiềm năng
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
của những sự kiện và những trang thiết bị - cũng là hướng tiếp cận của
Gibbon đối với thế giới của bản tính con người. Bấy giờ chưa phải là thời
điểm khi chủ trương truy tầm nghĩa lý trong giới khoa học đặt ra mối đe
dọa biến thế giới xã hội thành một vũ trụ nào khác của những thứ giản
đơn đầy võ đoán. Gibbon mang lại cho ta nguồn lịch sử lũy tiến trên một
bình diện rộng lớn.
Với Gibbon, trong khi bản tính con người không dễ thấu hiểu như ta
tưởng, nó vẫn có thể giải thích được dẫu chỉ một phần nào. Theo ông cái
mối họa đối với sự hiểu biết không phải là quá dốt nát mà là ảo tưởng về
kiến thức. Những giải thích của ông về sự hưng vong, về thịnh suy luôn
luôn chỉ là danh sách liệt kê. Điều ông thuật lại là “thắng lợi của dân rợ1 và
tôn giáo”. Ông thuật lại những điều khoáy và những lý sự cùn của các
nhà thần học, sự đua tranh của các quân vương phương Đông, vợ con và
thê thiếp của họ, không đơn giản chỉ vì đó là những tình tiết vui cười, mà
cũng vì tính khai trí. Không có những tình tiết vụn vặt như thế, ta không
thể hiểu được đế chế phương Đông vốn là gì hay nó đã trở thành cái gì.
Nói cho chính xác hơn thì không hề có điều gì là vụn vặt đối với Gibbon.
Những tập quán nhân sinh, những tỏ bày, những cảm thán và những xúc
động thảy đều là cốt lõi trong công trình sử của ông - không đơn thuần là
thứ nguyên liệu thô để phục vụ cho những “lực lượng” và “phong trào”.
Càng nhìn thấy chúng sinh động hơn, ta càng hiểu biết hơn về đề tài của
mình. Thế rồi, không thể tránh khỏi, ông vẫn còn hoài nghi về khả năng
mà ta sau cùng cũng sẽ nắm bắt được toàn bộ câu chuyện lịch sử đó.
Nhưng mặc dù - mà có lẽ vì - nhìn nhận như thế, ông không phải là
người có tư tưởng bi quan. Khung cảnh tráng hiện đó, mà ông đã bày ra
về “cảnh tượng khủng khiếp nhất và có lẽ là lớn nhất trong lịch sử nhân
loại”, chính là phần thưởng cho ta. Ông coi toàn bộ hành tinh này như
một sân khấu cho những khung cảnh hùng vĩ, mà những khung cảnh này
1 Barbarian: phát xuất từ gốc từ Hy Lạp bacbaros thường gọi là dân man di hoặc rợ. [ND]
• E DWA R D G I B B O N •
cũng là sân khấu cho đổi mới. “Nếu một kẻ chinh phạt man rợ khởi hành
từ vùng sa mạc xứ Tartary, thì nhiều lần y phải đánh bại những nông dân
tráng kiện của Nga, những đội quân đông đảo của xứ Đức, những quý
tộc hào hiệp của nước Pháp và những con người gan dạ đã được trả tự do
của đảo Anh; không chừng họ có thể kết minh để cùng nhau phòng vệ.
Nếu như quân rợ chiến thắng gieo rắc cảnh nô lệ và tan hoang đến tận
Đại Tây Dương, thì mười ngàn tàu thuyền hẳn sẽ đưa cuộc truy tầm của
họ sang tới phần còn lại của xã hội văn minh; và châu Âu hẳn sẽ hồi sinh
và hưng thịnh trong thế giới châu Mỹ vốn đã tràn ngập những thuộc địa
và thiết chế của châu Âu.”
Theo cách nhìn lạc quan của Gibbon, xem ra ông là một phát ngôn viên
cho một Thời đại Khai minh. Đôi khi ông dường như bày tỏ một niềm tin,
luôn chan chứa trong cả cuộc đời mình, rằng năng lực phê phán của con
người ta một khi không bị cấm đoán thì có thể lĩnh hội được thế giới. Tôi
từng nghĩ về Gibbon chính xác theo cách đó. Ông đã nói với tôi từ một giai
đoạn lịch sử, về một giai đoạn lịch sử. Nhưng trong những năm tháng kể
từ lần đầu Gibbon nói với tôi, ông đã nói thêm điều gì đó nữa. Ông đã trở
thành một nhà sử học mang tư cách cá nhân hơn và do đó thân quen hơn,
cả trong những gì ông nói cũng như những gì ông nghe được.
Một số người chủ xướng thẳng thắn và có biện tài của Thời đại Lý trí
đã giúp giới làm sử dễ dàng giới hạn kỷ nguyên đó trong một tính ngữ.
Trong giới làm sử, những chuyên gia hệ thống hóa đại tài có thể kể đến
như Montesquieu (1689-1755), Vico (1668-1744) và Voltaire (1694-1778).
Tất nhiên những người này - vốn được chiếm chỗ rộng rãi trong các bách
khoa toàn thư về khoa học xã hội - vẫn thu hút sự quan tâm của những
đồng nghiệp chuyên về hệ thống hóa. Trong số những tác giả về lịch sử
tường thuật trong thời đại của Voltaire, ông vẫn nói với một số người
trong chúng ta theo một cách thật sinh động. Nhưng các đối thủ nối
tiếng nhất trong mảng lịch sử tường thuật sống cùng thời với ông - David
Hume và William Robertson - đã trở thành người thiên cổ trong lĩnh vực
sử học. Gibbon vẫn còn có thể và thực sự nói cùng tất cả chúng ta.
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
Những gì ông chứng kiến và thực hiện được có thể, ông vui vẻ thừa
nhận, chỉ là nhờ những lợi thế đặc biệt của mình về nơi chốn và thời
gian. “Tôi sẽ mãi mãi lấy làm hãnh diện khi mang họ tên và tính cách
của một người Anh,” ông bày tỏ niềm tri ân trong phần kết tác phẩm của
mình, “tôi tự hào vì mình đã được sinh ra trong một đất nước tự do và
khai minh; sự chấp thuận của đất nước đó là phần thưởng lớn lao nhất
và danh giá nhất dành cho những công sức mà tôi bỏ ra.” Nếu ông không
tận dụng những cơ hội mới và dự phần vào những triển vọng mới của
thời đại, ông đã không thể trao cho ta công trình sử của ông. Nhưng sự vĩ
đại của ông, tức thành phần gần gũi trong công trình của ông, ấy chính
là cái biệt tài trong việc vượt thắng những cảm nghĩ nồng nhiệt đặc trưng
của thời đại đó. Trong mắt người thời nay, John Dryden, Alexander Pope
và Jonathan Swift, thậm chí cả Laurence Sterne và Henry Fielding dường
như ít nhiều mang nét cổ quái. Điều đáng chú ý hơn, Edward Gibbon,
một người mà chí ít cũng mang nét độc đáo về phong cách như họ, bằng
cách nào đó lại có thể chuyện trò cùng ta bằng đặc ngữ của thời ta.
Đây là điều tôi muốn diễn đạt khi nói đến sự gần gũi trong tác phẩm
Sự suy tàn và sụp đổ của Gibbon. Ông tạo được sự gần gũi này chính bởi
ông không đưa cho ta những câu chuyện ngụ ngôn cổ lỗ về khoa học hoặc
khoa học xã hội. Ông cũng không bị ràng buộc trong khuôn khổ quy ước
của một thể loại văn chương cụ thể. Sự thiếu cân xứng về trình tự thời
gian trong tác phẩm của ông - dành nhiều không gian hơn cho mấy thế
kỷ đầu tiên so với thiên niên kỷ cuối cùng trong câu chuyện trải dài 13 thế
kỷ - tự nó là bằng chứng cho thấy quyết tâm của ông ngõ hầu định hình
cốt truyện không phải bằng chiều kích mang tính diễn dịch của các thế kỷ,
mà bằng mối quan tâm của riêng ông. Ông đã mạnh dạn đặt bản liệt kê
những công cuộc lớn đối sánh với những chi tiết vụn vặt về con người và
nơi chốn. Ông nhắc nhở ta về những mối ràng buộc của ta với vũ trụ mà
không hề tỏ vẻ vén mở những bí mật của nó. Ông vẫn là một con người
khiêm nhường, từ chối khơi những con kênh gọn gàng nơi dòng lịch sử
• E DWA R D G I B B O N •
trôi chảy. Ông thiếu đi thủ pháp ví von kỳ ảo [conceit] của người kiến tạo
hệ thống mà qua nhiều thế kỷ thì sự ngô nghê mới dần lộ ra.
Không một người làm sử nào nhìn thấy rõ ràng hơn rằng kết cấu của
quá khứ nhân loại thật khó nắm bắt nhường nào. Thế nhưng vài người
đã mạnh dạn hơn hoặc thành công hơn trong việc cố nắm bắt tính chất
khó nắm bắt này. Ông giúp ta chia sẻ thú vui được chạm vào sự gai góc
ngẫu nhiên của trải nghiệm. Ông đã làm tất cả những điều này bởi lẽ ông
không đánh giá quá cao những năng lực giáo điều của “Thời đại Khai
minh” bấy giờ, cũng không đánh giá quá thấp sự huyền bí của những gì
vẫn được kể và không thể kể.
Lúc kết thúc chuyến du hành vào đế chế La Mã trải 20 năm, ông tự hỏi
liệu mình có nên thử làm một chuyến du hành như thế nữa hay không.
Với bản tính thận trong, ông kết luận rằng “nếu cứ lặp lại những nỗ lực
tương tự, một tác giả thành công có nhiều thứ để mất hơn những gì ông
ta có thể hy vọng đạt được”. Tuy nhiên, ông khẳng định “những trang
sử về thời cổ đại và hiện đại có thể mang lại nhiều đề tài phong phú và
thú vị... Đối với một tâm trí tích cực, lười biếng còn là điều khổ sở hơn
lao động.” Vậy là ông khích lệ ta, cả những người đọc sử và những người
viết sử. bởi vì ông, cũng như với bất kỳ tác giả nào khác trong ngôn ngữ
của chúng ta, nhắc nhở chúng ta rằng con người có thể nói về con người,
thậm chí vượt qua trở ngại của nhiều thế kỷ và các đại dương. Gibbon đã
không bị tù hãm trong những thủ pháp ví von kỳ ảo [conceit] bằng biệt
ngữ đặc thù trong chính thời đại ông, vậy thì ta cũng không nên chịu tù
hãm trong những thủ pháp của thời đại mình.
LỜI NÓI ĐẦU
D HF HH
Phương pháp, sự chọn lựa, và trung thực [là] các đức tính
khiêm nhường, dù không thể thiếu được, của một soạn giả.
ất nhiều lần Edward Gibbon gắn nhãn “kẻ cuồng tín” cho những
ai lấy niềm tin tôn giáo ăn sâu bám rễ của mình làm cơ sở cho
hành động. Nhưng bấy giờ Edward Gibbon sống trong giai đoạn Khai
minh, Thời đại Lý trí, một thời buổi chan chứa niềm tin tưởng vào năng
lực của con người trong việc suy tư tự do (và quản lý chính họ bằng công
lý). Ta có thể lưu ý rằng Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã bắt đầu xuất
hiện vào năm 1776, chính vào lúc hầu hết các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ
đã tuyên bố độc lập. Ông khép lại quyển VI và cũng là quyển cuối cùng
vào năm 1787, năm mà một hiến pháp đã chế định cho Hợp chúng quốc
Hoa Kỳ mới thành lập một vận mệnh tương lai theo đường hường cộng
hòa thoát khỏi sự can thiệp của tôn giáo càng nhiều càng tốt. Tập này xuất
hiện vào năm 1788. Năm sau đó, Hoa Kỳ đạt được Dự luật Nhân quyền
(và người Pháp làm cuộc cách mạng). Sau một thiên niên kỷ rưỡi của nền
quân chủ và đạo Kitô, chính thể cộng hòa thêm một lần trở nên hợp mốt. Và
các vị khai quốc của Hoa Kỳ, giống như Edward Gibbon, không phải là tín
đồ Kitô nhiệt thành tin theo Tin mừng. Chỉ riêng lý do này thôi, ngày nay
• E DWA R D G I B B O N •
nhiều người Mỹ nếu có dịp đọc sách của Edward Gibbon sẽ tìm thấy ở ông
nhiều điều xúc phạm. (Tôi viết vào năm 2002). Gibbon phê phán gay gắt
sự nhiệt tâm của tất thảy các tín ngưỡng: những tín đồ của đạo Islam, đạo
Kitô (bao gồm tất thảy những dị thuyết đa dạng của nó), đạo Do Thái, và
Đa Thần giáo, kể cả trong văn hóa Hy-La lẫn thời kỳ phi Cổ điển. Người
ta tìm thấy ở Gibbon nhiều điều xúc phạm, và bản rút gọn này không hề
cố ngăn cản cái chất hóm hỉnh sâu cay của một thời đại tự do hơn và hào
sảng hơn. Tuy nhiên, ta hãy tạm gác lại cơ chế của quy trình rút gọn để
tìm hiểu đôi nét tổng quan về tác phẩm của Gibbon, về lịch sử của bộ sách
và cuộc đời ông.
CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM CỦA GIBBON
Đối với Gibbon lịch sử tôn giáo gắn liền với sự suy tàn và sụp đổ của
chế đế La Mã, nhưng tôn giáo không hẳn là đề tài duy nhất của ông. Ta
bắt gặp “dân rợ” (một thuật ngữ đại khái áp dụng cho những người ở bên
ngoài đế chế, thường thèm muốn sự giàu có mà họ nhìn thấy), chủ nghĩa
quân phiệt hám lợi (vô năng, thiếu dũng khí, không có lòng ái quốc), thuế
khóa áp bức (đánh thuế một cách bất công và ép nộp một cách nhẫn tâm
nhất đối với những người ít có khả năng chi trả nhất), các chính trị gia đồi
bại, chính phủ chuyên chế và chiến sự liên miên chống lại những kẻ thù
của trật tự La Mã, cả trong và ngoài đế chế.
Khung vẽ của Gibbon là khá rộng về mặt địa lý và trình tự thời gian.
Người ta mong có sự tập trung rõ nét vào Địa Trung Hải, nhưng Gibbon
dàn trải đề tài từ khu vực châu Phi Hạ Sahara tới Trung Hoa. Và mặc dù
có vẻ như ông bao quát giai đoạn kể từ thời các vị Antonine trong thế kỷ 2
cho tới sự sụp đổ sau cùng của Constantinople vào năm 1453, nhưng ngay
cả như vậy thời lượng phổ rộng này cũng không chứa đựng vị tác giả của
chúng ta [Gibbon sinh năm 1737]. Ba chương theo dòng sự kiện về sự sụp
đổ của Constantinople. Gibbon lần theo sự trỗi dậy của quyền lực chính
trị giáo hoàng ở phương Tây, ông cũng khảo sát những tàn tích của Rome
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
vào chính thời đại của mình. Thêm hơn, các chương trước đó khởi đầu từ
một màn trình diện lịch sử vốn được cảm nhận xuyên suốt tác phẩm, nhà
độc tài quân sự nọ cuối cùng đã chôn vùi nền cộng hòa La Mã và cũng trở
thành một hình mẫu tiêu biểu cho rất nhiều nhà độc tài kể từ đó: người
đàn ông mang tên Gaius Octavius, tức Caesar Augustus, con nuôi của Julius
Caesar. Gibbon, chấp bút trong một thời đại đang hối hả truy tầm sự phóng
khoáng cá nhân, các thiết chế cộng hòa và quyền tự do, đã chọn thuật lại
một lịch sử đặt khởi điểm từ sự chấm dứt của cuộc thử nghiệm sau cuối về
chủ quyền nhân dân và chính thể đại diện (chúng ta loại trừ những trường
hợp dị thường như thể chế cộng hòa Venice). Sau khi tự xóa bỏ nền quân
chủ, La Mã (giống như Hoa Kỳ ngày nay) không phải là một thể chế dân
chủ mà là thể chế cộng hòa. Khoảng 500 năm sau, vào buổi đầu của thời
đại Augustus, thành La Mã dựng nên cả một đế chế nhưng đánh mất nền
cộng hòa theo một cách không thể vãn hồi: người dân La Mã chỉ còn giữ
chủ quyền trên danh nghĩa. Thế giới thuộc về Caesar. Kết quả là làm vơi
bớt quyền tự do cho các cá nhân, nhưng lại tăng thêm sự bình đẳng cho
tất cả: một vụ giao dịch mà đã có nhiều người (và vẫn còn nhiều) sẵn lòng
trao đổi. Chẳng hạn, lịch sử của luật pháp La Mã (được Gibbon làm sáng
tỏ trong chương XLIV), tiết lộ một khái niệm thậm chí còn bao quát hơn về
quyền công dân cũng như sự gia tăng đáng khen ngợi về vấn đề bảo hộ và
các quyền cho phụ nữ và nô lệ. Mặt khác, tư cách cá nhân được soi xét kỹ
hơn. Ngôn luận tự do bị cắt giảm nghiêm ngặt. Đời sống tính dục là vấn đề
được hình sự hóa. Những hình phạt ngày càng khắt khe. Tội trạng nào nền
cộng hòa đã có thể trừng phạt bằng một món tiền (và nhắm mắt cho qua)
thì đế chế về sau lại trừng phạt bằng cách thiêu sống.
Tuy nhiên, những lưu ý này về lối tiếp cận của Gibbon vẫn không thể
phác họa được phạm vi chủ đề của ông thực sự bao quát đến nhường nào.
Bắt đầu tại thời điểm kết thúc của chính quyền cộng hòa, ông lần theo
những thăng trầm của đế chế. La Mã đã không sụp đổ ở phương Tây mà
không tranh đấu hoặc không có lý do chính đáng. Những câu trả lời của
• E DWA R D G I B B O N •
Gibbon (giống như những câu hỏi của ông) có lẽ là khác biệt với của các
học giả gần đây hơn, nhưng ông thu thập một luận điểm thuyết phục. Nền
chuyên chế quân sự và tình trạng vô chính phủ đã phá tan nhà nước không
chỉ một lần. Máu đổ xuống và các nền kinh tế đã tiêu tan vì nội chiến được
đỡ gượng dậy hết lần này đến lần khác trên một cái nền móng thậm chí còn
áp bức hơn bao giờ hết. Những xung đột tôn giáo nội bộ giữa những người
say mê tín ngưỡng tổ tiên và những người từ bỏ truyền thống để chạy
theo một giáo thuyết độc thần khép kín, nhiệt thành và cách mạng, trào
lưu này đã xé nát cơ cấu xã hội. Thừa thế đắc thắng, tôn giáo mới này sách
nhiễu những địch thủ cũ của mình cũng như phe phái dị giáo trong lòng
nó. Những xung đột nội bộ chỉ gia tăng cùng với sự gia tăng của quá trình
Kitô hóa. Trong suốt giai đoạn đó, những kẻ xâm lấn mới liên tiếp xuất
hiện như sóng triền miên, giáng đòn vũ lực vào những thành lũy phòng vệ
được dựng lên bởi một lực lượng quân đội ngày càng hống hách, suy đồi
và vô kỷ luật. “Quân Man di” không hiếm khi được dân các tỉnh bang xem
như quân giải phóng đến phá bỏ những gánh nặng thuế khóa bất kham.
Ta chứng kiến sự phân chia của phương Đông và phương Tây, ban đầu là
về quân sự, rồi đến chính trị và cuối cùng là tôn giáo. La Mã sụp đổ, nhưng
La Mã mới của hoàng đế Constantine, một La Mã Kitô giáo, tức thành
Constantinople, vẫn tồn tại gần một ngàn năm nữa, một thiên niên kỷ
chứng kiến sự trỗi dậy của một giáo thuyết độc thần khác, Islam, cũng như
của các đế chế của người Ả Rập, nhiều tộc du mục (trong đó có Zingis, hay
Thành Cát Tư Hãn) và dân Thổ thuộc đế chế Ottoman. Châu Âu phong
kiến đòi lại những lãnh thổ đã mất vào tay người Islam trong một loạt các
cuộc thập tự chinh tôn giáo. Tất cả những sự kiện này (và nhiều nữa) được
mô tả bằng ngòi bút biện tài không biết mệt mỏi.
Xuyên suốt tác phẩm của mình, Gibbon không chỉ làm mỗi việc là kể
lại những câu chuyện hay (mặc dù ông cũng làm điều đó). Ông tìm kiếm
những cách lý giải, và ông tìm kiếm những lý giải đó trong các thiết chế
(chính quyền, quân sự, luật pháp), dân tộc chí [ethnography] (“phong tục”
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
của một giống dân), kinh tế học (Gibbon thường say sưa dường như
không dứt với thương mại, nông nghiệp và các nghề cơ khí), địa lý học
(nhiều nỗ lực điều tra chi tiết hầu khảo sát những bầu khí hậu và những
vùng miền xuất hiện như bối cảnh cho lịch sử) và bằng tấm lòng. Gibbon
tìm kiếm động lực thúc đẩy tiềm ẩn trong những nhân vật lịch sử. Ông
phơi bày lòng tham và niềm khao khát quyền lực như là thứ động lực
thông thường và cũ mòn nhất của những người đàn ông và phụ nữ trong
chính trường, nhưng ông dành chỗ cho sự đố kỵ, tình yêu và toàn bộ
những loại cảm xúc đặc trưng của con người. Nói ngắn gọn, Gibbon tìm
kiếm những nguyên nhân ở nơi ông có thể tìm thấy chúng, và trong tôn
giáo ông tìm thấy một nguyên nhân có thể thôi thúc các cá thể cũng như
các nhóm xã hội, đồng thời, đổi lại, cũng đóng vai trò là phương tiện mà
nhờ nó các nhân vật lịch sử có thể đạt tới mục đích của riêng họ bằng
những nghị trình đa dạng nhất.
Trong kỷ nguyên vốn đã trôi xa của chúng ta đây, rất khác với thời
đại của Gibbon khi ông chấp chút vào giai đoạn nở nộ đầu tiên trong làn
sóng phóng khoáng chủ nghĩa thế tục rất mạnh mẽ ở châu Âu, vẫn có thể
lặp lại một kỷ nguyên mở rộng tự do và triển vọng mà khó bề trụ lại sau
những cuộc tắm máu của thế kỷ 20 và hệ lụy của nền kinh tế xã hội Hoa
Kỳ do chiến sự bất tận, dù chiến tranh nóng hay lạnh, chống lại mọi kẻ
thù, cả trong và ngoài nước. Điều đáng chú ý là Gibbon, trong giai đoạn
đầu tiên tràn trề khí thế lạc quan và hy vọng về nền cộng hòa đổi mới,
đáng lẽ phải đưa ra sự chẩn đoán chi tiết về tham vọng đế vương và nền
chuyên chế quân sự đã từng vùi chôn cuộc thử nghiệm sau cùng của thế
giới hầu tìm kiếm quyền tự do và chính thể cộng hòa dưới bối cảnh tôn
giáo nô lệ trải hơn một ngàn năm.
Lẽ tự nhiên người ta nảy sinh tò mò về người viết tác phẩm này. Mặc
dù ngôn từ của Gibbon có lẽ tự lên tiếng, nhưng một bản tóm lược vắn tắt
về những nét nổi bật trong cuộc đời ông không phải là thừa. Sinh ngày 8
• E DWA R D G I B B O N •
tháng 5 (27 tháng 4, theo lịch cũ1) năm 1737, Gibbon xuất bản tập đầu tiên
trong bộ kiệt tác của mình vào năm 39 tuổi. Gibbon mất vào ngày 16 tháng
1 năm 1794, khoảng bảy năm sau khi hoàn tất quyển VI và cũng là quyển
cuối cùng. Chi tiết này không cho ta biết nhiều điều. Edward Gibbon là
một người Anh, một thực tế mà ông luôn lấy làm hãnh diện. Và dù lưu
ý trên đây có gợi nên ấn tượng gì đi nữa, Edward Gibbon không phải là
người có quan điểm cấp tiến. Xuất thân từ gia đình danh gia vọng tộc (đã
phần nào sa sút), ông là một người ủng hộ chính quyền được công nhận.
Vậy thì, điều gì khiến cho ai đó coi ông là người có tư tưởng lật đổ? Gibbon
vốn say mê truy tầm chân lý, và những ai giải thích lịch sử theo chiều
hướng phù hợp nhất với lợi ích bản thân thì sẽ luôn luôn dán cái nhãn lật
đổ cho những bậc trí thức biết khơi gợi những sự kiện thực tế làm xói mòn
những niềm tin có căn cứ vững vàng (và, mở rộng ra, [làm xói mòn] nền
tảng trí tuệ vốn là chỗ dựa cho đặc quyền đặc lợi). Hơn nữa, Gibbon đã
kết hợp niềm khao khát chân lý với thú vui châm biếm. Chẳng hạn, một
phương pháp đơn giản để đánh giá tính cách một người có bao gồm việc
so sánh điều ai đó nói với điều họ làm. Khi hai khối cầu đó không tương
ứng, tất dễ nảy sinh một tình huống trái khoáy. Người đưa ra những phép so
sánh như vậy có lẽ là nói lên sự thật, nhưng kẻ bị soi xét lại cho là đặt điều.
Những phương pháp như vậy có lẽ được áp dụng cho các cá nhân hoặc các
tổ chức làm sử. Chẳng hạn, những so sánh của Gibbon giữa những tuyên
xưng của Tin mừng và giáo hội sơ kỳ với những hành động của tín đồ
Kitô sơ kỳ làm nảy sinh những cặp so sánh tương cận [juxtapositions] trái
khoáy mà có lẽ nhiều người cho là xúc phạm và bất công. Chính nhờ cách
soi tỏ này mà lịch sử tôn giáo đậm chất cá tính của Gibbon trở nên rất thú
vị, và có lẽ là xác đáng. Năm 15 tuổi, Gibbon đã sớm trúng tuyển vào Đại
học Oxford. Sự học của ông vốn dĩ có phần thiếu quy củ. Bị mẹ bỏ rơi, suốt
thời thơ ấu hay đau ốm Gibbon nhận được sự săn sóc và nuôi dạy chu đáo
1 Ở các nước Công giáo, lịch cũ (lịch Julius) đã được thay bằng lịch mới (lịch Gregory) vào cuối thể
kỷ 16. Nhưng mãi đến cuối năm 1752, nước Anh mới chấp thuận bộ lịch này. Gibbon sinh năm 1737,
tức là trước thời điểm đổi sang lịch mới. [ND]
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
tận tình của người dì sống độc thân. Thi thoảng ông cũng được học với các
gia sư riêng và từng trải nghiệm những quãng thời gian ngắn ngủi ở nhà
trường, nhưng lần nào cũng sớm phải bỏ dở vì đau ốm. Tuy nhiên, Gibbon
đã đọc rất nhiều trong thư viện gia đình, và vì vậy bước vào trường Oxford
mà không phải là hoàn toàn thiếu kiến thức. Oxford không phải là ngôi
trường ông ưa thích. Các học giả ở Oxford, theo lời Gibbon, trong Hồi ký
của ông, ngập chìm trong “bầu không khí ẩn lánh và thành kiến”. Nói về
vị thầy dạy riêng của mình, Gibbon còn bổ sung rằng “Tiến sĩ, nhớ chuyện
nhận tiền lương thì tốt lắm, chỉ là quên mất nghĩa vụ ông ta phải làm mà
thôi.” May sao, Gibbon nhanh chóng bị đuổi khỏi Oxford vì tội phản giáo.
Vốn là một người Tin Lành sinh trưởng trong một đất nước mà Tin Lành
được pháp luật công nhận, ông cải sang Công giáo La Mã vào năm 16 tuổi,
một hành động trái phép và do đó phải chịu các hình phạt dân sự. Được
cảnh báo bởi một bức thứ dài mà trong đó cậu con trai biện minh cho ý
hướng cải đạo của mình, cha của Gibbon bấy giờ lại không nhàn rỗi. Ông
gửi cậu con trai tới chỗ một mục sư theo phái Calvin ở Lausanne, Thụy Sĩ.
Sau hai năm tu học ở chốn riêng tư, mà nhờ đó Gibbon thông thạo tiếng
Pháp, Latin, Hy Lạp, và toán học đến tận phần “tiết diện Conic”, ông cũng
- điều này quan trọng hơn, xét từ góc độ của người cha và quan điểm ái
quốc - bắt đầu từ bỏ niềm tin vào sự hóa thể [transubstantiation] (sự biến
đổi của bánh mì và rượu trong Tiệc thánh thành thân thể và máu thực sự
của Đức Kitô), và do đó đành bằng lòng, theo lời Gibbon, “với niềm tin âm
thầm vào những giáo lý và những huyền bí được cả dân Công giáo và dân
Tin Lành đồng thuận chấp nhận”. Ông tiếp nhận bí tích hiệp thông bên
Tin Lành vào ngày Giáng sinh, năm 1754, tại Lausanne, và vĩnh viễn từ
bỏ “lòng nhiệt thành” tôn giáo. Nếu ta phải tìm kiếm những lời giải thích
cho công trình của một tác giả trong những mẩu chuyện lý thú về cuộc đời
của vị ấy, thì không gì cho bằng câu chuyện này, về hành trình của một
chàng trai trẻ cải sang đức tin nhiệt thành dành cho Công giáo La Mã và
hành động “cố chối bỏ đức tin” sau đó (nếu ta có thể dùng cách diễn đạt
tương đương của người Mỹ hiện đại). Những ai xem phân tích của Gibbon
• E DWA R D G I B B O N •
về tôn giáo chỉ đơn thuần là thứ trầm tư triết học của một kẻ hoài nghi từ
thuở lọt lòng vào một độ tuổi lý trí cạn cợt chẳng quản nổi niềm say mê
của một trái tim tan vỡ, một tâm trí biến chuyển từ những rung động
chân thành của niềm tin tôn kính sang sự khảo sát lý tính về sự thật có
thể xác minh trong cõi nhân sinh, bất kể là đường hướng khiêm nhường
rõ ràng này (và là ích kỷ, đối với những người không thông cảm) có thể
dẫn đến đâu chăng nữa. Ta cũng có thể lưu ý rằng sự học của Gibbon trải
suốt giai đoạn chối bỏ đức tin vào thời niên thiếu còn căng thẳng hơn so
với mức chịu đựng của nhiều người theo học chương trình tiến sĩ thời
nay. Gibbon đọc từ mười đến mười hai giờ một ngày, và thường thì ông
đọc những văn bản bằng các ngôn ngữ cổ điển là Hy Lạp và Latin. Một
đoạn nhật ký từ tháng 1 năm 1756 (Gibbon bấy giờ 18 tuổi): “Tôi quyết
định đọc các tác giả Latin tuần tự hết một lượt, và năm nay thì đọc Virgil,
Sallust, Livy, Velleius Paterculus, Valerius Maximus, Tacitus, Suetonius,
Quintus Curtius, Justin, Florus, Plautus, Terence và Lucretius. Tôi cũng
đọc và nghiền ngẫm tác phẩm Bàn về hiểu biết của Locke.” Gần tròn một
năm sau, ông viết: “Tôi đã bắt đầu học môn đại số dưới sự hướng dẫn của
ông de Traytorrens, xem qua hết một lượt các nhân tố của đại số và hình
học, và ba cuốn đầu tiên viết về tiết diện Conic của Hầu tước de l’Hôpital.
Tôi cũng đọc Tibullus, Catullus, Propertius, Horace (với phần chú của
Dacier và Torrentius), Virgil, Epistles (Thư tín) của Ovid, với phần bình
của Meziriac, Ars amandi (Nghệ thuật yêu) và Elegies; cũng đọc Augustus
và Tiberius của Suetonius, và một bản dịch tiếng Latin của Dion Cassius1
kể từ cái chết của Julius Caesar cho tới ngày Augustus mất. Tôi cũng
trao đổi thư từ, bắt đầu từ năm ngoái, với ông Allamand ở Bex [địa danh
thuộc Thụy Sĩ?], và với Giáo sư Breitinger của trường Göttingen. N.B. -
Năm ngoái và năm nay tôi đọc Tin mừng của Thánh John, Cyropaedia của
Xenophon, Iliad và Herodotus; nhưng, nói chung, tôi có phần bỏ bê vốn
tiếng Hy Lạp của mình.”
1 Tác phẩm của Dio Cassius (150-235) là một bộ sử đồ sộ, Roman History, gồm 80 tập. [ND]
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
Ta tìm thấy sự khai trí qua những mẩu chuyện nhỏ này. Cậu học sinh
Gibbon thông hiểu các ngôn ngữ và các tác giả vốn thiết yếu cho việc
nghiêm túc truy tầm lịch sử châu Âu. Và Gibbon, người hoàn cải đức tin,
không bao giờ từ bỏ những cuộc điều tra của mình về Kitô giáo. Nhưng
liệu rằng sự khai trí như vậy có thực sự giải thích được gì chăng? Làm sao
ta có thể đọc được về người mẹ hờ hững của Gibbon trong Sự suy tàn và
sụp đổ, hoặc là về mối tình không hạnh phúc của ông? Gibbon bước vào
tình yêu ở tuổi 20, với Suzanne Churchod, ở Lausanne. Cha ông, người
chu cấp tiền bạc cho ông (nguồn hỗ trợ duy nhất của Gibbon), đã không
chấp thuận. Gibbon viết, “Tôi nhanh chóng nhận ra rằng cha tôi hẳn
chẳng chấp thuận mối thông gia lạ lùng này, mà tự tôi thì nghèo túng
và bơ vơ nếu không được cha chấp thuận. Tôi dằn vặt đau khổ ít lâu, rồi
đành đầu hàng số phận; tôi thở dài như một người tình, tôi vâng lời như
một người con; vết thương của tôi đã lành lặn tự bao giờ nhờ thời gian,
nhờ xa vắng, và nhờ tập quen với một cuộc sống mới.” Đời sống tình ái
của Gibbon quan trọng với độc giả của Sự suy tàn và sụp đổ chăng? Có và
không. Nó quan trọng với ta vì thời nay ta thích thú với đời sống tình dục
của những diễn viên, chính trị gia và văn nhân, cứ như thể sự thỏa mãn
về chức năng sinh học mang tính riêng tư này (chẳng hạn, đối ngược với
[nhu cầu chung như] ăn uống và tiêu hóa) bằng cách nào đó lại tạo thành
phần quan trọng trong yếu tính của ta thay vì, trong hầu hết trường hợp,
là cái ngã rất vụn vặt và không đáng nhắc tới; nhưng ta lạc đề - những
chi tiết như thế là quan trọng, người ta nghĩ, nếu một độc giả chọn chúng
làm khung diễn giải. “Aha”, một độc giả thiên về mảng tâm lý và tiểu sử
có thể thốt lên, “người mẹ bỏ con, bà dì đồng trinh, người cha độc đoán,
sự thiếu khuyết một nền tảng lâu dài về quan hệ tình cảm khác giới - rõ
ràng đây chính là điểm mấu chốt khiến Gibbon bước vào con đường đan
tu!” Mặt khác, độc giả có thể bám vào chính giá trị tự thân những lập luận
của Gibbon. Gibbon lập luận rằng đời sống đan tu bào mòn trí năng con
người. Ông đã đưa ra một phân tích thuyết phục.
• E DWA R D G I B B O N •
Cuối cùng, tác phẩm của Gibbon có giá trị tự thân, dù có hay không
có phần đời tư của ông. Nếu được bàn thêm chút nữa trong phần thuần
riêng tư hơn, hẳn tôi cũng nên đề cập rằng Gibbon vốn là người năng
nổ trong hoạt động chính trị (phục vụ cho Lord North, thủ tướng [Anh]
trong giai đoạn Chiến tranh Cách mạng Mỹ) cũng như trong quân sự
(hồi ở Anh ông từng sống đời quân nhân với tư cách là thành viên trong
lực lượng dân quân Hampshire). Những trải nghiệm thực tế trong môi
trường quân đội và chính trị chắc chắn đã giúp cho tâm trí định hình
năng lực phân tích những sự vụ quân sự và chính trị tương ứng của thời
xa xưa. Vậy còn căn bệnh béo phì của Gibbon vào giai đoạn cuối đời, hoặc
những người quen biết trong đời sống xã hội và văn chương, từ Diderot
cho đến Johnson, chưa kể đến nhiều chi tiết mang đậm nét cá nhân khác
nữa mà người ta có thể liệt kê? Chúng ta không đủ không gian. Độc giả
nào quan tâm có thể tham khảo Hồi ký của Gibbon và phần thư mục của
Patricia Craddock ở phần cuối Lời nói đầu này. Trong phần điểm lược
này, ta hãy tạm bằng lòng với đôi dòng về chuyến du lịch dài ngày của
Gibbon trên đất Ý vào năm 1764. Năm ấy Gibbon 27 tuổi. Do cha thúc
giục, ông đã xuất bản một tác phẩm ngắn bằng tiếng Pháp ba năm trước
đó, nhưng, vì vẫn phải sống phụ thuộc cha mình (tình trạng này tiếp
diễn cho đến khi cha ông qua đời vào năm 1770), ông vẫn chưa hoàn tất
tác phẩm sử chất chứa hoài bão của mình. Nếu ta có thể tin Gibbon (còn
các học giả thời hiện đại thì bắt bẻ về những chi tiết trong những dòng
hồi ký có chủ ý của Gibbon), thì đó là chuyến đi mang tính quyết định:
“Tính tôi không dễ gì hăng hái, và niềm hăng hái nào tôi không cảm
nhận thì tôi chẳng thèm làm bộ hăng hái. Nhưng đã 25 năm rồi mà tôi
không thể quên cũng như không thể diễn tả những cảm xúc mãnh liệt
đã lay động tâm trí tôi khi lần đầu đặt chân tới và bước vào Thành phố
Vĩnh cửu. Sau một đêm không ngủ, tôi ngạo nghễ bước đi trên đống tàn
tích của quảng trường La Mã; mỗi vị trí đáng nhớ, nơi Romulus đã đứng,
nơi Tully [Cicero] phát biểu, hoặc nơi Caesar ngã xuống, tất thảy đều bất
giác bày ra trước mắt tôi; và mấy ngày say sưa đã bị bỏ phí hoặc đã được
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
tận hưởng trước khi tôi có thể làm một cuộc khảo sát lý thú trong phút
chốc.” Ở đây, Gibbon bảo ta, ông tìm thấy chủ đề cho một dòng lịch sử rất
đáng để chấp bút. “Đó là tại Rome, vào ngày 15 tháng 10 năm 1764, khi tôi
đang trầm ngâm thưởng lãm đống tàn tích của Capitol, trong khi những
thầy dòng đi chân trần đang hát kinh chiều trong đền thờ của Jupiter, thế
là ý tưởng viết về sự suy tàn và sụp đổ của thành phố này lần đầu tiên xuất
hiện trong tâm trí tôi.” Tác phẩm mà Gibbon cuối cùng đã chuyển giao cho
thế giới đồ sộ hơn rất nhiều chứ không chỉ gói gọn trong tập văn bản hiện
tại. Giờ ta phải chuyển sang phần ấn bản và phần rút gọn.
CÁC LẦN XUẤT BẢN TÁC PHẨM SỰ SUY TÀN VÀ SỤP ĐỔ CỦA
ĐẾ CHẾ LA MÃ
Trên đây chúng ta đã đề cập đến sự xuất hiện của lần xuất bản đầu
tiên (1776-1788). Bản in đầu tiên ấy không còn nữa. Những người sưu tập
cổ phẩm nếu có điều kiện thì có thể vẫn mua được các bản sao. Những
người khác có thể tìm đọc bản vi phim trong các thư viện nghiên cứu. Đối
với những ai thích sách giấy và sẵn sàng đánh đổi ít nhiều mức độ chính
xác của văn bản để tiết kiệm một khoản kha khá, thì David Womersley
đã phục chế ngôn từ của Gibbon và định dạng gốc của tác phẩm sát sao
hết mức có thể trong ấn bản bìa mềm ba tập của nhà Penguin. Vì Gibbon
đã thay đổi quan niệm và hiệu chỉnh văn bản của mình ở mỗi một lần
xuất bản, Womersley gắn thêm một danh sách những phần nội dung có
sai biệt. Không có bản thảo nguyên gốc, chắc sẽ khó tiếp cận gần thêm
chút nào đối với ngôn từ của chính tác giả. Gibbon là học giả chính xác
và kỹ lưỡng, và ấn bản của Womersley lấy lại những cước chú của Gibbon
với trọn vẹn vẻ đẹp của chúng. Không những vậy, trong quyển thứ ba,
Womersley còn gắn thêm thông tin thư mục hoàn chỉnh cho tất cả những
phần viết tắt của Gibbon mà đến nay vẫn còn khá bí ẩn. (Các ấn bản và
các học giả được Gibbon dẫn ra thuộc loại thậm chí còn khó tiếp cận hơn so
với bản in đầu tiên của ông.) Một phần chỉ mục dùng cho tài liệu của ba quyển
• E DWA R D G I B B O N •
cả thảy làm nên vẻ thanh lịch cho quyển thứ ba, cũng như một bản in lại
của Vindication (Lời biện bạch) (1779) do Gibbon viết ra để hồi đáp những lời
lẽ công kích mà người ta nhắm vào phần phác thảo của ông về sự trỗi dậy
của Kitô giáo. Các quyển của Womersley vừa xuất sắc lại vừa thiết yếu. Thật
chẳng biết lấy gì để khen ngợi cho đủ. Nhưng hoàn hảo ư? Than ôi, tiếng
Hy Lạp. Những ai đọc tiếng Hy Lạp cổ thì chỉ cần thoáng nhìn sẽ cảm thấy
nản lòng. Cứ theo như thời buổi hiện đại của chúng ta mà nói, thì nguyên
bản tiếng Hy Lạp hầu như sẽ chẳng dùng được vào việc gì; thế là nhu cầu
nảy sinh, các ấn bản khác lại thành ra nổi trội. Ấn bản sáu quyển của J. B. Bury
(1909-1914) vẫn sẵn có ở nhà in AMS. Ấn bản này coi Gibbon là người làm
sử chứ không phải một bậc thầy về phong cách văn chương. Phần tiếng
Hy Lạp rất tốt, và ấn bản cung cấp những phần bổ sung đã từng rất tân
tiến một thời (đến nay đã lỗi thời một thế kỷ) cho cách xử lý của Gibbon
về những vấn đề và những nguồn tài liệu. Những ai tìm kiếm những luận
bàn học thuật cập nhật hơn về giai đoạn lịch sử mà Gibbon đã viết thì nên
tham khảo các sách có liên quan được phát hành gần đây của bộ Cambridge
Ancient History, bộ Cambridge Medieval History, và các công trình chuẩn mực
khác tương tự. Có một ấn bản hoàn thiện nữa cần nêu ra ở đây. Ấn bản của
Rev. H. H. Milman năm 1845 được dùng làm cơ sở cho bản rút gọn hiện tại,
vì nó thuộc sở hữu đại chúng và vì, nhờ công một người tên là David Reed,
người ta có thể tìm thấy nó trong định dạng có thể đọc trên máy tính. Nếu
không có công sức của David Reed, thì người biên soạn hiện tại thật khó mà
suy tính hoặc dứt điểm những phần việc của mình.
BẢN RÚT GỌN
Bản rút gọn hiện tại khó có thể là bản đầu tiên, và chắc sẽ không
phải là bản cuối cùng. Mỗi thời và mỗi độc giả sẽ tìm thấy một Gibbon
của riêng mình. Trước tiên ta phải hỏi vậy tại sao những câu chữ của
Gibbon nên được rút gọn? Câu trả lời gắn gọn: bởi lẽ chúng quá nhiều.
Bản biên tập của Milman tính ra là hơn 1.500.000 từ. Bản hiện tại giảm
khoảng hai phần ba con số ấy. Kết quả vẫn cho ra một cuốn sách rất đồ sộ,
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
nhưng tôi mong đây là bản dễ đọc hơn và tiện dụng hơn. Tôi cho rằng
hầu hết độc giả sẽ hứng thú với chủ đề chính, trong khung cảnh suy tàn
và sụp đổ của một nền văn minh trải dài một ngàn năm, với những chi
tiết sinh động và những màn cảnh hấp dẫn. Lịch sử, đối với tất cả giá trị
mang tính khai trí của nó, cũng có thể mang tính giải trí hạng nhất, và
Gibbon là bậc thầy kể chuyện. Do đó tôi chủ định đồng thời giữ toàn bộ
mạch chủ đề của ông cũng như càng nhiều càng tốt những câu chuyện
hay (hoặc nhiều tình tiết lịch sử mang tính khai trí). Có các bản rút gọn
khác đã cắt bỏ phần nhiều những tình tiết tai tiếng về tôn giáo. Bản này
không chứa đựng mọi thứ, nhưng đã bao gồm thật nhiều sử liệu về tôn
giáo ở mức có thể, và chắn chắn là đủ để gây xúc phạm.
Bản rút gọn gần đây của David Womersley (nhà Penguin, năm 2000)
nếu tính cả toàn bộ phần cước chú hoàn chỉnh thì bao gồm 11 trong số
71 chương nguyên bản của Gibbon. Bản rút gọn này đã đi theo một lộ
trình khác hẳn. Những cước chú của Gibbon phải nhường chỗ cho mạch
truyện liên tục, với những trích đoạn cốt yếu từ 71 chương cả thảy. Tôi
phải thú thật là sự thiếu khuyết phần cước chú quả là một lỗi trầm trọng.
Gibbon là một học giả giữ tinh thần chính xác và tỉ mỉ, những phát biểu
của ông luôn được căn cứ trên chứng cứ văn bản hoàn bị. Nhưng khi
cân nhắc giữa thứ văn xuôi liền lạc của Gibbon đối sánh với nguồn tham
chiếu về những tác giả vốn xa lạ với độc giả hiện đại và những đoạn trích
dài bằng tiếng Latin, Hy Lạp và tiếng Pháp (các ngôn ngữ hiện đã không
còn được hiểu trong phần đông những người nói tiếng Anh), tôi quyết
định chọn cái trước. Văn của Gibbon chắc là đủ thách thức rồi. Những ai
đọc bản rút gọn và mong muốn tìm lại bản nguồn thì có lẽ không khó gì,
hoặc bằng công cụ trực tuyến hoặc bằng các ấn bản vốn đã được trích dẫn
và liệt kê ở cuối phần giới thiệu này.
Một Gibbon vẹn nguyên thật quá tầm đối với bất kỳ bản rút gọn nào.
Chuyện này vẫn hoài tái diễn. Những bản rút gọn tự chúng nói lên nhu cầu
của thời đại nơi chúng được sinh ra. Trong số bản rút gọn tiêu biểu gần đây
• E DWA R D G I B B O N •
thì phổ biến nhất là bản của Dero A. Saunders (1952) và D. M. Low (1960).
Các bản này chủ yếu tập trung vào sự sa sút của đế chế phương Tây. Sự
trỗi dậy của đạo Islam, sự lụn bại của đế chế phương Đông, các cuộc Thập
tự chinh và sự xuất hiện của các lãnh địa giáo hoàng, tất cả đều bị lược bỏ.
Bản rút gọn của Moses Hadas (1962) cho đơn vị xuất bản Random House
(bản quyền hiện nay được CBS Publications nắm giữ và ấn bản đó vẫn
do Fawcett Premier phát hành) trình bày một Gibbon rất súc tích, chứa
đựng những đoạn trích (hay ít nhất là phần tiêu đề) từ tất cả 71 chương.
Mặt khác, nó hoàn toàn né tránh những vấn đề thần học vì “xa rời những
lợi ích của độc giả bình thường”. Tôi mạo muội khẳng định rằng lợi ích
của độc giả bình thường đã thay đổi trải qua 40 năm. Đơn giản là người
ta cần đề cập đến Bắc Ireland, Trung Đông, hoặc Hợp chúng quốc (chẳng
hạn, thời non yểu): sự phân tranh giáo phái chính là trật tự của thời đại
chúng ta ngày nay.
Những gì mà bản rút gọn này thẳng tay loại trừ (ngoài những cước
chú nặng tính học thuật) là những khảo sát địa lý, chi tiết về cục diện
những trận đánh, những trình tự dài dòng về chiến dịch quân sự, những
vấn đề dân tộc chí [ethnographies] bao quát, những thông tin phả hệ rắc
rối (nhất là về tầng lớp quý tộc Trung cổ). Một định hướng tiếp cận nhẹ
nhàng hơn đã được áp dụng đối với những nghiên cứu của Gibbon về
thiết chế, lịch sử chính trị và lịch sử tôn giáo. Do đó, về phần mình tôi hy
vọng là đã cung cấp cho độc giả kiên nhẫn toàn bộ luận điểm chính và
truyền tải được khí văn sinh động của Gibbon nhiều nhất có thể trong
khuôn khổ của một tập sách đơn nhất.
Về mặt văn bản, dấu ba chấm hay dấu chấm lửng (...) biểu thị tất cả
những phần bị cắt bỏ trong câu hoặc trong đoạn đó. Những phần bị cắt bỏ
đáng kể hơn thì được biểu thị bởi dấu chữ thập †. Dấu ngoặc vuông chứa
đựng những phần sửa đổi cho văn bản của Gibbon. Tuy nhiên, có hai điểm
đổi mới tôi xin nêu ra đây, nhưng không ghi vào văn bản. Gibbon lưỡng lự
giữa “Mahomet” và “Mohammed”; ông bảo là truyền thống đã ngăn ông
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
sử dụng cụm đầu tiên. Tuy nhiên, tôi có chút nghi ngờ rằng hầu hết những
người nói tiếng Anh thời bấy giờ hẳn là có biết cách phát âm phiên bản rất
cổ xưa của tên nhà tiên tri đó. Tôi đã loại bỏ sự phân vân này. Cũng tương
tự, “Mussulman” đã được đồng nhất đổi thành “Moslem” [người Islam].
Tôi cũng nhận thức rõ rằng những cách viết này tự chúng đã không còn
được ưa dùng nữa, nhưng chính vì lẽ đó xem ra lại ít vi phạm nguyên bản
của Gibbon, một văn bản mà dẫu sao cũng đã hơn 200 tuổi.
Có lẽ ta nên khép lại phần Lời nói đầu ngắn gọn này bằng việc điểm
qua về lập luận của Gibbon. Ông lần theo sự suy tàn và sụp đổ của không
chỉ một đế chế hoặc một thành thị mà là của cả một lối sống, một nền
văn minh. Trên một số bình diện, đây là một cuốn truyện bi thương. Vào
năm 31 TCN, nền cộng hòa La Mã đầu hàng vô điều kiện (hoàn toàn và
vĩnh viễn) trước nhà độc tài quân sự Caesar Augustus. Mãi đến năm 1776
một cuộc thử nghiệm về chính quyền cộng hòa mới được hồi sinh trên
quy mô lớn. Tất nhiên, con đường này đã được khai mở về mặt trí tuệ
bởi phong trào Phục hưng, Cải cách và Khai minh. Gibbon kể câu chuyện
về cái đêm tối bạo quyền đã chen ngang nhiều đợt kéo dài, mà vẫn luôn
dõi mắt cho tỏ tường những tia sáng của tự do và độc lập hãy còn gìn giữ
được, dẫu là lờ mờ và dẫu ở những nơi chốn khó bề có được. Hơn nữa,
tác phẩm này kết lại bằng một lưu ý đầy hy vọng. Khi đế chế phương
Đông sụp đổ, thì phương Tây lại sẵn sàng tiếp nhận vốn hiểu biết của
nền tri thức Hy Lạp. Và Gibbon, ta có thể nhớ lại, đã khép lại tác phẩm
của mình vào năm 1787, một thời kỳ mang nhiều hy vọng hơn. Thời đại
hiện nay của chúng ta, mặc dù có thể giúp kéo dài thọ mạng cá nhân nhờ
việc áp dụng những công nghệ vượt trội, nhưng dường như có xu hướng
chôn vùi những quyền tự do của tổ tiên ta với danh nghĩa là đảm bảo an
ninh. Tất nhiên, đâu cần phải như vậy. Nhưng biết sao được, lịch sử hẳn
nhiên là chẳng thể vãn hồi. Gibbon đã không sa đà vào việc kiến tạo những
dòng lịch sử mang tính võ đoán nào khác để thay thế, nhưng với những ai
quan tâm đến những bài học và yêu thích sự khai trí, thì dẫu sao ta cũng
có thể hỏi: “Sẽ ra sao nếu như, thay vì để tất cả quyền lực rơi vào tay một
• E DWA R D G I B B O N •
tầng lớp thượng lưu tham tàn vô độ, nền cộng hòa La Mã lại phát triển
một hệ thống bỏ phiếu cấp phép cho hình thức đại diện của tất cả công
dân và những thành phần lệ thuộc? Liệu chế độ độc tài quân sự có thể
tránh được không?” Đây là những câu hỏi mà người ta không thể trả lời.
Nền cộng hòa La Mã chưa bao giờ khắc phục được tệ nạn suy đồi bắt đầu
diễn ra sau khi các đạo quân của nó chế thắng được thế giới Địa Trung
Hải (“toàn bộ” thế giới đối với tầm nhìn địa lý hạn hẹp của họ). Câu trả
lời cho cuộc khủng hoảng xảy ra với nền cộng hòa đế triều bại hoại của
La Mã chính là tình trạng độc tài quân sự. Gibbon mô tả chi tiết những
kết quả từ quyết sách của họ. Gibbon, người chấp bút cho tác phẩm sử
của mình vào thời điểm khai màn cho cuộc thử nghiệm thể chế cộng hòa
của chúng ta hiện nay, đã chẩn đoán sự suy bại của thời quá khứ, một
sự suy bại mà đã chỉ có thể sửa chữa gần hai ngàn năm sau đó. Chúng ta
ngày nay, khi nhìn lại cuộc Nội chiến của Lincoln, hai cuộc Thế chiến, và
tình trạng an ninh quốc gia dưới thời Truman, và khi đang chứng kiến
ưu thế quân sự của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trải khắp hành tinh, chắc là
sẽ tự hỏi Trật tự thế giới mới của chúng ta có thể giữ vững được những
gì, tại quê nhà và hải ngoại. Câu chuyện về đế chế La Mã gợi mở những
bài học mang tính khai trí: những thứ thuế khóa áp bức chỉ làm lợi cho
một thiết chế quân sự bạo ngược, chính quyền chuyên chế, sự cố chấp về
tôn giáo, chiến sự liên miên, và cuối cùng là sụp đổ. Hãy cùng hy vọng
(và cầu mong) rằng ta không đọc một bản thiết kế mà là đọc được một lời
cảnh báo bổ ích trong những trang sách bất hủ, lý thú và đầy tính khai
trí của Gibbon.
THƯ MỤC TUYỂN CHỌN
Các tác phẩm của Gibbon
The History of the Decline and Fall of the Roman Empire (Sự suy tàn và sụp đổ
của đế chế La Mã), 6 quyển (London: A. Strahan & T. Cadell in the Strand,
1776-1788). Các bản tiếp theo, đặc biệt xem những bản do J. B. Bury biên tập,
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
7 quyển (London: Methuen, 1909-1914), hiện được tái bản bởi AMS Press.,
do D. Womersley biên tập, 3 quyển (London: Penguin Books, 1994).
The Miscellaneous Works of Edward Gibbon, Esq., with Memoirs of His Life and
Writings, Composed by Himself: Illustrated from His Letters, with Occasional
Notes and Narrative, by the Right Honourable John, Lord Sheffield (Những công
trình xuất sắc của Edward Gibbon, với phần hồi ký về cuộc đời và ghi chép
do chính ông soạn: minh họa lấy từ các thư từ, với ghi chú và dẫn dắt do
John, Lord Sheffield thực hiện), ấn bản mới (London: J. Murray, 1814).
The Letters of Edward Gibbon (Thư từ của Edward Gibbon), J. E. Norton
biên tập, 3 quyển (New York: Macmillan, 1956).
Cuộc đời Gibbon
Các bản Hồi ký hoặc Tự truyện cũng có sẵn. Dưới đây là hai bản gần
đây nhất:
Memoirs of My Life (Hồi ký đời tôi), do B. Radice chủ biên và viết lời
giới thiệu (Harmondsworth: Penguin, 1984).
Memoirs of My Life and Writings; Illustrated from His Letters, with
Occasional Notes and Narrative, by John, Lord Sheffield (Phần hồi ký và ghi
chép về cuộc đời: minh họa lấy từ các thư từ, với ghi chú và dẫn dắt do
John, Lord Sheffield thực hiện), A.O.J. Cockshut và S. Constantine biên
tập (Halifax: Ryburn Publications, 1994).
Các bản tiểu sử hay nhất thời hiện đại:
Craddock, P. B., Young Edward Gibbon: Gentleman of Letters (Edward Gibbon
trẻ tuổi: Quý ông thư từ) (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1982).
Craddock, P. B., Edward Gibbon: Luminous Historian, 1772-1794 (Edward
Gibbon: Sử gia khai sáng, 1772-1794) (Baltimore: Johns Hopkins University
Press, 1989).
• E DWA R D G I B B O N •
Những nguồn thảo luận về tác phẩm Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế
La Mã
Badian, E. (chủ biên), Gibbon et Rome à la lumière de l’historiographie
moderne (Gibbon và La Mã trong ánh sáng của nền sử học hiện đại)
(Geneva: Droz, 1977).
Bowersock, G. W., Gibbon’s Historical Imagination (Trí tưởng sử học của
Gibbon) (Stanford, Calif.: Stanford University Press, 1988).
Bowersock, G. W., J. Clive, và S. R. Graubard (chủ biên), Edward Gibbon
and the Decline and Fall of the Roman Empire (Edward Gibbon và Sự suy
tàn và trỗi dậy của đế chế La Mã) (Cambridge, Mass.: Harvard University
Press, 1977).
Momigliano, A., “Gibbon’s Contribution to Historical Method,” (Đóng
góp của Gobbin cho phương pháp sử học) trong Studies in Historiography
(New York: Harper & Row, 1966), trang 40-55.
Pocock, J. G. A., Barbarism and Religion (Các dân Man di và Tôn giáo), 2
quyển (Cambridge, England: Cambridge University Press, 1999).
Womersley, D. J., Gibbon and the ‘Watchmen of the Holy City’: The Historian
and His Reputation 1776-1815 (Gibbon và “Người canh giữ thành phố thiêng”:
Sử gia và uy tín của mình 1776-1815) (Oxford: Clarendon Press, 2002).
Womersley, D. J., The Transformation of The Decline and Fall of the Roman
Empire (Sự chuyển hóa trong Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã)
(Cambridge, England: Cambridge University Press, 1988).
Womersley, D. J., J. Burrow, và J. Pocock (chủ biên), Edward Gibbon:
Bicentenary Essays (Edward Gibbon: Những tiểu luận hai trăm năm)
(Oxford: Voltaire Foundation, 1997).
LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ
ôi không định bắt độc giả phải nán lại lâu bằng việc bàn dông
dài về sự đa dạng hoặc tầm quan trọng của chủ đề mà tôi đã dấn
bước vào, vì lẽ giá trị của chọn lựa ấy hẳn nhiên sẽ làm cho sự yếu kém trong
thực thi càng trở nên rõ ràng hơn, và càng khó tha thứ hơn. Nhưng vì tôi đã
mạo muội trình bày cho công chúng một tập đầu tiên của bộ sách Sự suy tàn
và sụp đổ của đế chế La Mã, có lẽ người ta sẽ mong chờ tôi dành đôi lời để giải
thích bản chất và những giới hạn trong kế hoạch tổng quát của tôi.
Hàng loạt những biến chuyển đáng nhớ trải suốt khoảng 13 thế kỷ đã
dần làm xói mòn, và cuối cùng đã phá hủy kết cấu vững chắc làm nên tầm
vóc vĩ đại của con người, và dòng lịch sử ấy nên chăng có thể được chia
làm ba giai đoạn:
I. Giai đoạn đầu tiên trong số này có thể truy nguyên kể từ thời đại của
Trajan và vương triều Antonine, khi nền quân chủ La Mã đã đạt tới mức
đủ đầy về sức mạnh và sự hoàn bị, bắt đầu mon men đến buổi suy tàn; và
sẽ mở rộng đến sự kiện đế chế phương Tây bị lật đổ bởi những dân rợ xứ
Đức và Scythia, tổ tiên của các quốc gia thanh lịch bật nhất của châu Âu
thời hiện đại. Cuộc biến chuyển phi thường này hoàn tất vào khoảng đầu
thế kỷ 6, khiến cho La Mã phải quy thuận dưới quyền lực của một nhà
chinh phạt người Goth.
II. Giai đoạn thứ hai trong quá trình suy tàn và sụp đổ của La Mã thiết
nghĩ có thể mở đầu cùng với triều đại của Justinian, vị hoàng đế đã khôi phục
• E DWA R D G I B B O N •
một ánh huy hoàng phù du cho đế chế phương Đông nhờ pháp luật và các
chiến thắng của ông. Giai đoạn này bao hàm cả sự kiện người Lombardy
xâm lược Ý; cuộc chinh phạt các tỉnh bang Á châu và Phi châu, bởi những
người Ả Rập theo tôn giáo của Mohammed; cuộc nổi dậy của dân La Mã
chống lại các vị quân vương nhu nhược của Constantinople; và cuộc thăng
tiến của Charlemagne, vị này, vào năm 800, đã thành lập đế chế phương
Tây thứ hai, hay đế chế của người Đức.
III. Giai đoạn cuối cùng và dài nhất trong số này bao gồm khoảng
sáu thế kỷ rưỡi; từ cuộc hồi sinh của đế chế phương Tây, cho đến khi
quân Thổ đánh chiếm Constantinople và sự diệt vong của một dòng dõi
các vị quân vương bại hoại vẫn tiếp tục mang lấy tước hiệu của Caesar
và Augustus sau khi quyền thống trị của họ bị thu hẹp vào phạm vi của
một thành phố duy nhất; ở nơi đó ngôn ngữ, cũng như phong tục tập
quán, của dân La Mã cổ đại từ lâu đã bị lãng quên. Vị tác giả nào đảm
nhận việc thuật lại những sự kiện của giai đoạn này hẳn nhiên sẽ thấy
mình có nghĩa vụ phải dấn bước vào dòng lịch sử chung của các cuộc
thập tự chinh, ở chừng mực mà các cuộc chiến đó góp phần gây ra sự
suy bại của đế chế Hy Lạp; và chắc ông ta sẽ khó ngăn nổi tò mò để rồi
điều tra đôi chút về trạng thái của thành La Mã trải suốt thời Trung cổ
tăm tối và rối loạn.
Vì tôi đã mạo hiểm, có lẽ là quá vội vàng, khi cam kết với nhà xuất bản
để cho ra đời một công trình đáng phải nhận tính ngữ “còn dang dở”
theo bất kỳ cách hiểu nào của cụm từ ấy, thế nên tôi xem như mình đã ký
vào một cam kết phải hoàn tất giai đoạn đầu tiên trong số ba giai đoạn
đáng nhớ này, có lẽ là trong tập hai; và chuyển giao cho công chúng toàn
bộ dòng lịch sử về sự suy tàn và sụp đổ của La Mã, kể từ thời của vương
triều Antonine cho tới khi đế chế phương Tây bị lật đổ. Nói về các giai
đoạn tiếp theo, mặc dù có đôi chút hy vọng, tôi chẳng dám cả quyết một
lời nào. Việc thực thi bản kế hoạch mở rộng mà tôi đã mô tả chắc sẽ kết nối
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
dòng lịch sử thế giới thời cổ đại và thời hiện đại; nhưng việc ấy hẳn nhiên
cũng cần tới nhiều năm khỏe mạnh, nhàn rỗi và kiên trì.
Phố Bentinck, ngày 1 tháng 2 năm 1776.
Tái bút: Toàn bộ cuốn sử, hiện đã được xuất bản, về sự suy tàn và sụp
đổ của đế chế La Mã ở phương Tây đã giúp tôi thanh toán khá nhiều
những cam kết của mình với công chúng. Dư luận tích cực của họ không
chừng có thể khích lệ tôi tiếp tục theo đuổi một công trình mà dù có vẻ
lao nhọc, nhưng là công việc mang lại nguồn vui lớn nhất cho tôi trong
những giờ nhàn rỗi.
Phố Bentinck, ngày 1 tháng 3 năm 1781.
Một tác giả dễ dàng thuyết phục bản thân rằng công luận sẽ ủng hộ
công sức lao động của mình; và giờ đây tôi nhất quyết sẽ tiếp tục dự định
ban đầu của mình cho đến giai đoạn cuối cùng, và nói về đế chế La Mã, ấy
là sự kiện quân Thổ chiếm Constantinople, vào năm 1453. Vị độc giả kiên
nhẫn nhất, khi tính ra rằng ba tập sách nặng nề vốn đã được tiêu tốn cho
các sự kiện trải dài bốn thế kỷ, chắc hẳn cảm thấy bất an về viễn cảnh dàn
trải đến 900 năm. Nhưng tôi không có ý định trình bày dông dài về toàn
bộ chuỗi sự kiện của lịch sử Byzantine với cùng một mức độ chi ly vụn vặt
như thế. Khi ta bước vào giai đoạn này, triều đại của Justinian và các cuộc
chinh phạt của dân Islam đáng để ta lưu ý và sẽ cuốn hút ta, và thời kỳ
cuối cùng của Constantinople (các cuộc thập tự chinh và quân Thổ) được
kết nối với những cơn biến chuyển của châu Âu thời hiện đại. Từ thế kỷ 7
tới thế kỷ 11, khoảng thời gian tranh tối tranh sáng ấy sẽ được bổ khuyết
bằng một bản tường thuật súc tích về những sự kiện hãy còn lý thú hoặc
quan trọng cho đến nay.
Phố Bentinck, ngày 1 tháng 3 năm 1782