SỰ SUY TÀN
VÀ SỤP ĐỔ CỦA
ĐẾ CHẾ LA MÃ
• E DWA R D G I B B O N •
OAU U OO TU TA OT A
tA
Tt
t
SỰ SUY TÀN VÀ SỤP ĐỔ CỦA ĐẾ CHẾ LA MÃ (QUYỂN V & VI)
Tác giả: Edward Gibbons
Bản quyền tiếng Việt © Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Được xuất bản theo thỏa thuận với Modern Library, một nhãn hiệu của Random House, một thương hiệu
của Penguin Random House LLC.
Bản dịch tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2022
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam xuất bản, bìa cứng, áo ôm, 2022.
Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam - thành viên của Alpha Publishing Group.
CÔNG TY CP SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS) thành lập tháng 9/2016 với định hướng xuất bản tri
thức nền tảng trong lĩnh vực Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Chính trị - Xã hội, Triết học, Nghệ
thuật… Đến nay, chúng tôi đã xuất bản hơn 300 đầu sách thuộc 6 tủ sách bao gồm: Kinh điển, Sử Việt,
Khoa học, Nhân vật Vĩ đại, Nghệ thuật và Tủ sách Đời người. Thông qua việc xuất bản các ấn phẩm có giá
trị, mang hàm lượng tri thức cao, qua các hoạt động nhằm đưa tri thức hữu ích đến cộng đồng; Omega Plus
mong muốn đóng góp theo cách riêng vào sự phát triển đang ngày càng mạnh mẽ của xã hội.
Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép, lưu trữ trong hệ thống truy xuất hoặc truyền
đi dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào gồm điện tử, cơ khí, sao chụp, ghi âm hoặc
mọi hình thức và phương tiện khác mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách
Omega Việt Nam. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả để sách
ngày càng hoàn thiện hơn
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Gibbon, Edward
Sự suy tàn và sụp đổ của đế chế La Mã / Edward Gibbon ; Biên tập: Hans-Friedrich Mueller.
- H. : Thế giới ; Công ty Sách Omega Việt Nam. - 27 cm
Q.5, Q.6. - 2022. - 560 tr.
1. Lịch sử 2. Đế chế La Mã 3. Italy
937. 06 - dc23
TGK0202p-CIP
Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected]
Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected]
Liên hệ dịch vụ bản quyền, xuất bản, ký gửi và phát hành: [email protected]
D HG FK HOOH biên tập
SỰ SUY TÀN
VÀ SỤP ĐỔ CỦA
ĐẾ CHẾ LA MÃ
QUYỂN V-VI
KD K K dịch
• E DWA R D G I B B O N •
Đ I NG TRIỂN KHAI OMEGA+
Phụ trách xuất bản: Trần Hoài Phương
Điều phối sản xuất: Nguyễn Quang Diệu
Biên tập viên: Nguyễn Lê Hoài Nguyên
Thiết kế bìa: Phạm Ngọc Điệp
Trình bày: Minh Thái
Thư ký xuất bản: Vũ Thị Giang
ĐƠN VỊ HỢP TÁC TRUYỀN THÔNG
https://www.facebook.com/tramdocvn
website: http://tramdoc.vn/
MỤC LỤC
QUYỂN V 9
25
Chương XLVIII
SỰ TIẾP NỐI VÀ TÍNH CÁCH 57
CỦA CÁC HOÀNG ĐẾ HY LẠP 129
Chương XLIX 153
NGƯỜI FRANK CHINH PHẠT Ý 183
213
Chương L
MÔ TẢ VỀ BÁN ĐẢO Ả RẬP
VÀ NHỮNG CƯ DÂN Ở ĐÓ
Chương LI
NHỮNG CUỘC CHINH PHẠT CỦA NGƯỜI Ả RẬP
Chương LII
THÊM NHỮNG CUỘC CHINH PHẠT NỮA
CỦA NGƯỜI Ả RẬP
Chương LIII
SỐ PHẬN CỦA ĐẾ CHẾ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương LIV
NGUỒN GỐC VÀ HỌC THUYẾT CỦA PHÁI PAUL
Chương LV 225
NGƯỜI BULGARY, HUNGARY VÀ NGƯỜI NGA 235
249
Chương LVI
NGƯỜI SARACEN, NGƯỜI FRANK, VÀ NGƯỜI NORMAN 271
311
Chương LVII 337
NGƯỜI THỔ 351
357
QUYỂN VI 379
Chương LVIII
CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ NHẤT
Chương LIX
CÁC CUỘC THẬP TỰ CHINH
Chương LX
CUỘC THẬP TỰ CHINH THỨ TƯ
Chương LXI
SỰ CHIA CẮT CỦA ĐẾ CHẾ
DO NGƯỜI PHÁP VÀ NGƯỜI VENICE
Chương LXII
CÁC HOÀNG ĐẾ HY LẠP
Ở NICE VÀ CONSTANTINOPLE
Chương LXIII
CÁC CUỘC NỘI CHIẾN VÀ SỰ LỤI TÀN
CỦA ĐẾ CHẾ HY LẠP
Chương LXIV 397
NGƯỜI MÔNG CỔ, NGƯỜI THỔ OTTOMAN 421
Chương LXV 441
TIMOUR HAY THIẾP MỘC NHI
463
Chương LXVI
SỰ HỢP NHẤT CỦA CÁC NHÀ THỜ 477
HY LẠP VÀ LATIN 505
523
Chương LXVII
CUỘC LY GIÁO CỦA NGƯỜI HY LẠP 537
VÀ NGƯỜI LATIN 549
551
Chương LXVIII
TRIỀU ĐẠI CỦA MOHAMMED II,
SỰ TIÊU VONG CỦA ĐẾ CHẾ PHƯƠNG ĐÔNG
Chương LXIX
TÌNH TRẠNG CỦA LA MÃ KỂ TỪ THẾ KỶ 12
Chương LXX
NƠI AN ĐỊNH SAU CÙNG CỦA NHÀ NƯỚC GIÁO HỘI
Chương LXXI
VIỄN CẢNH HOANG TÀN
CỦA LA MÃ VÀO THẾ KỶ 15
LỜI TỔNG KẾT
DANH MỤC CÁC VỊ HOÀNG ĐẾ LA MÃ
QUYỂN V
[1788]
C h ư ơ n g X LV I I I
SỰ TIẾP NỐI VÀ TÍNH CÁCH
CỦA CÁC HOÀNG ĐẾ HY LẠP
Dự định của hai quyển cuối cùng. • Sự tiếp nối
và tính cách của các vị hoàng đế Hy Lạp ở Constantinople,
kể từ thời của Heraclius cho tới cuộc chinh phạt Latin.
iờ đây, từ Trajan cho tới Constantine, từ Constantine tới
Heraclius, tôi đã vạch ra chuỗi chính quy các hoàng đế La Mã;
và trung thực phơi bày những thời vận thuận lợi hoặc bất lợi trong triều
đại của họ. Năm thế kỷ suy tàn và sụp đổ của đế chế đã qua đi; nhưng
tôi vẫn còn cách cái hạn định cho tác phẩm của mình hơn 800 năm nữa,
ấy là sự kiện người Thổ đánh chiếm Constantinople. Giả như tôi kiên trì
trong đường hướng ấy, giả như tôi tuân thủ thước đo ấy, thì một sợi chỉ
mỏng manh và dài lê thê sẽ được xe suốt tối thiểu là một quyển, vị độc
giả kiên nhẫn cũng sẽ khó bề tìm thấy được một phần thưởng thỏa đáng
về tính khai trí và giải trí. Trên mọi bước đi, khi chúng ta nhập tâm vào
sự suy tàn và sụp đổ của đế chế phương Đông, biên niên sử của mỗi một
triều đại tiếp nối sẽ áp đặt [cho tôi] một phận sự buồn bã và không mấy
thú vị. Những biên niên sử này khiến ta phải tiếp tục lặp lại câu chuyện
tẻ nhạt, chung một kiểu về sự nhu nhược và khổ đau; mối kết nối tự nhiên
của nguyên nhân và sự kiện sẽ gãy vụn do những chuyển tiếp chóng vánh
thường xuyên, còn cách góp nhặt tình tiết từng chút một hẳn nhiên sẽ hủy
hoại ánh sáng và tác dụng của những bức tranh tổng quan vốn làm nên tính
• E DWA R D G I B B O N •
hữu dụng lẫn tính trang trí của một lịch sử xa xưa. Từ thời của Heraclius,
sân khấu Byzantine bị thu hẹp lại và trở nên tối tăm: phòng tuyến của
đế chế vốn được xác định nhờ những điều luật của Justinian và vũ lực
của Belisarius bốn bề đều lùi xa khỏi tầm mắt chúng ta; tên gọi La Mã,
chủ đề thích hợp cho chúng ta truy tầm, chỉ còn là một xó góc chật hẹp
của châu Âu, là những vùng ngoại ô quạnh vắng của Constantinople; và
số phận của đế chế Hy Lạp đã được so sánh với đế chế của sông Rhine
vốn đã tự lạc lối vào trong những miền bãi trước khi dòng nước của nó
có thể hòa lẫn vào đại dương. Quy mô thống trị bị thu hẹp đối với tầm
mắt chúng ta do sự xa cách về không gian và thời gian; sự mất mát về
diện mạo tráng lệ cũng chẳng được bù đắp bằng những món quà quý giá
hơn về đức độ và thiên tư. Trong những giờ phút tàn mạt sau cùng của
mình, Constantinople rõ ràng là giàu có và đông dân cư hơn Athens ở kỷ
nguyên cực thịnh, và khi tổng số tiền ít ỏi gồm 6.000 O , hay khoảng
100.000 bảng Anh, được sở hữu bởi 21.000 nam công dân ở độ tuổi trưởng
thành. Nhưng mỗi một công dân này đều là người tự do, dám xác quyết
quyền tự do về tư tưởng, về phát ngôn và hành động, nhân thân và tài
sản của y được luật pháp bình đẳng bảo vệ; và y được sử dụng phiếu
bầu độc lập của mình trong chính quyền của nền cộng hòa. Số lượng của
họ có vẻ tăng lên bội phần do những sự phân biệt rõ ràng và đa dạng
về tính cách; dưới tấm khiên của quyền tự do, trên những đôi cánh của
thi đua và phù hoa, mỗi một người Athens đều khao khát vươn lên tầm
cao của phẩm giá dân tộc; từ cái tầm cao bao quát này, một số tinh anh
đã được chọn để vút bay khỏi tầm mắt phàm phu; và những cơ may của
kẻ có giá trị ưu vượt trong một vương quốc lớn và đông dân, khi chúng
được chứng thực bằng kinh nghiệm, hẳn nhiên sẽ khoan thứ cho sự tính
toán của hàng triệu điều tưởng tượng. Lãnh thổ của Athens, Sparta và
các đồng minh của họ không vượt quá một tỉnh tầm trung của Pháp hoặc
Anh; nhưng sau khi thu phục các xứ Salamis và Platea, chúng ta có thể
mường tượng rằng họ bành trướng tới quy mô khổng lồ của châu Á, vốn
đã bị giày xéo dưới chân người Hy Lạp. Nhưng những thần dân của đế
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
chế Byzantine, những người khoác lên các danh xưng là Hy Lạp và La Mã
rồi làm ô uế chúng, lại cho thấy một diện mạo đồng nhất đến tai hại của
những thói xấu hạ tiện vốn không hề được làm dịu đi nhờ sự mềm yếu
của lòng nhân đạo mà cũng chẳng bị khuấy động bởi sự náo nhiệt của
những tội ác không thể nào quên. Với nhiệt huyết hào sảng, những con
người tự do của thời cổ đại có thể nhắc lại lời kết án của Homer, “rằng
vào cái ngày đầu tiên sống trong tình cảnh nô lệ, kẻ tù nhân bị tước mất
một nửa khí chất nam nhi của mình.” Nhưng thi sĩ ấy vốn chỉ nhìn thấy
những tác dụng của tình cảnh nô lệ về dân sự hoặc trong không gian hộ
gia đình, ông cũng chẳng thể nào tiên đoán được rằng nửa thứ hai của
khí chất nam nhi ấy hẳn là đã tiêu biến do chế độ chuyên quyền không
chỉ xiềng xích những hành động của kẻ sùng tín phủ phục mà còn cột
chặt cả những tư tưởng của y. Dưới tình cảnh một cổ hai tròng này, người
Hy Lạp phải chịu áp bức vào thời các hoàng đế kế vị của Heraclius; kẻ bạo
chúa, như một luật định của công lý trường tồn, trở nên suy đồi do những
thói hư tật xấu của thần dân; và trên ngai vàng, trong quân doanh, trong
những học đường, chúng ta tìm kiếm, có lẽ với sự siêng năng nhưng hoài
công, những cái tên và tính cách có thể xứng đáng được cứu khỏi dòng
quên lãng. Những thiếu sót về chủ đề cũng chẳng thể nào được bù đắp
bởi kỹ năng và sự đa dạng của các họa sĩ. Trong một khoảng trống của
800 năm, bốn thế kỷ đầu tiên bị phủ đầy một đám mây mà thoảng khi
những tia sáng lịch sử yếu ớt và đứt quãng có thể xuyên qua được: trong
cuộc đời của các hoàng đế kể từ Maurice cho tới Alexius, thì chỉ riêng có
Basil xứ Macedonia là đề tài cho một tác phẩm riêng biệt; và sự vắng mặt,
thiếu khuyết, hoặc dang dở về bằng chứng đương thời hẳn chẳng được
uy quyền của các nhà biên soạn gần đây bổ khuyết là bao. Bốn thế kỷ
cuối cùng không đến nỗi đáng chê trách vì nguồn tư liệu khan hiếm; và
cùng với gia tộc Comnenos, nàng thơ lịch sử của Constantinople lại hồi
sinh, nhưng lại chẳng lấy gì làm thanh lịch hay duyên dáng với lớp xiêm
y diêm dúa. Một chuỗi tiếp nối những vị linh mục hoặc những triều thần
nối bước nhau trên cùng một con đường lệ thuộc và mê tín: tầm nhìn
• E DWA R D G I B B O N •
hạn hẹp, óc phán đoán thì yếu kém hoặc bại hoại; và chúng ta khép lại
quyển sử quá ư khô khan này mà vẫn còn chưa hay biết nguyên do của
những sự kiện, vai trò của những diễn viên, và phong tục tập quán của
thời đại mà họ ca tụng hoặc chê trách. Lời nhận xét vốn áp dụng cho một
con người có thể đem mở rộng ra cho cả một dân tộc, để rồi năng lượng
của thanh gươm được truyền sang cho ngòi bút; và rồi qua kinh nghiệm,
con người ta sẽ nhận ra rằng giai điệu của lịch sử sẽ thăng giáng cùng với
tinh thần của thời đại.
Từ những suy tư này, lẽ ra tôi chẳng nên tiếc nuối mà bỏ mặc những
kẻ nô lệ người Hy Lạp và đám sử gia lệ thuộc của họ nếu như tôi không
ngẫm nghĩ rằng số phận của nền quân chủ Byzantine được kết nối một
cách thụ động với những cuộc cách mạng huy hoàng và trọng đại đã làm
thay đổi trạng thái của thế giới. Tỉnh bang này mất đi thì ngay lập tức sẽ
có những thuộc địa mới và những vương quốc đang lên thế chỗ: những
điểm tích cực trong thời bình và thời chiến rời bỏ các quốc gia bị chế ngự
sang các quốc gia chiến thắng; trong nguồn gốc và những cuộc chinh
phạt, trong tôn giáo và chính quyền của họ, chúng ta phải thăm dò những
nguyên nhân và sức ảnh hưởng đối với sự suy tàn và sụp đổ của đế chế
phương Đông. Phạm vi của dòng tự thuật này, sự phong phú và đa dạng
của những chất liệu, cũng sẽ không ăn khớp với tính thống nhất của đề
cương và bố cục. Cũng giống như trong những lời cầu nguyện mà hằng
ngày các tín đồ Hồi giáo ở Fez hay Delhi vẫn quay mặt về phía đền thờ ở
Mecca, con mắt của sử gia sẽ luôn hướng về thành Constantinople. Nếu
miêu tả tản mạn thì có thể bao gồm cả các miền hoang vu xứ Ả Rập và
Tartary, nhưng rốt cuộc cái vòng luẩn quẩn ấy cũng cùng quy về ranh giới
đang suy giảm của nền quân chủ La Mã.
Trên nguyên tắc này, giờ đây tôi sẽ lập kế hoạch cho hai quyển cuối
cùng của tác phẩm này. Chương đầu sẽ bao gồm, trong một chuỗi chính
quy, các vị hoàng đế trị vì tại Constantinople suốt một thời kỳ kéo dài 600
năm, từ thời của Heraclius cho tới cuộc chinh phạt Latin; một bản sơ lược
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
mà nói chung phải cần đến trình tự và văn bản của các sử gia thời đầu.
Trong phần giới thiệu này, tôi tự nghĩ sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi của
những biến cố xoay quanh ngai vàng, sự tiếp nối của các gia tộc, tính
cách các vị quân vương Hy Lạp, cách họ sống và chết, những châm ngôn
và tầm ảnh hưởng của chính quyền nội bộ và nền cai trị của họ mang
khuynh hướng đẩy nhanh hay trì hoãn sự sụp đổ của đế chế phương
Đông. Việc điểm lược theo trình tự niên đại như thế sẽ giúp minh họa
cho những lập luận khác nhau trong các chương tiếp theo; và mỗi một
tình tiết trong câu chuyện đầy ắp sự kiện về dân Rợ tự nó sẽ ăn khớp vào
một vị trí thích hợp đối với biên niên sử của Byzantine. Tình trạng nội bộ
của đế chế và dị thuyết nguy hiểm của những người thuộc phái Paul, một
phong trào đã làm rung chuyển phương Đông và soi sáng cho phương
Tây, sẽ là chủ đề của hai chương riêng biệt; nhưng những tra vấn này chắc
phải hoãn lại cho đến khi ta triển khai xa hơn, theo đó mở ra quang cảnh
của thế giới ấy trong thế kỷ 9 và 10 thuộc phạm vi Kitô giáo. Sau khi có
được nền móng này của lịch sử Byzantine, các quốc gia theo sau sẽ lướt
qua tầm mắt ta, và mỗi quốc gia sẽ chiếm một vị trí mà họ xứng đáng có
được nhờ sự vĩ đại, giá trị hoặc mức độ của mối kết nối với thế giới La Mã
và với thời đại hiện nay. I. Người Frank, một tên gọi chung bao gồm tất
cả dân Rợ ở Pháp, Ý và Đức được hợp nhất nhờ thanh gươm và quyền
trượng của Charlemagne. Cuộc bách hại các thánh tượng và những tín đồ
của họ đã chia tách La Mã và Ý khỏi ngai vàng Byzantine, sửa soạn cho
công cuộc khôi phục đế chế La Mã ở phương Tây. II. Người Ả Rập hay
người Saracen. Ba chương đầy ắp sự kiện sẽ được dành cho chủ đề gợi
tò mò và lý thú này. Đầu tiên, sau khi phác họa về miền đất và những cư
dân ở đó, tôi sẽ tìm hiểu về Mohammed, ở khía cạnh tính cách, tôn giáo
và sự thành công của nhà tiên tri ấy. Tiếp theo, tôi sẽ theo chân người Ả
Rập tới cuộc chinh phạt Syria, Ai Cập và châu Phi, tới các tỉnh bang của
đế chế La Mã; tôi cũng chẳng thể nào ngăn cản được công cuộc thắng
lợi của họ cho tới khi họ lật đổ các nền quân chủ Ba Tư và Tây Ban Nha.
Thứ ba, tôi sẽ tra vấn xem bằng cách nào mà Constantinople và châu
• E DWA R D G I B B O N •
Âu thoát được cơn họan nạn nhờ đời sống xa hoa và những môn nghệ
thuật, xem xét sự phân chia và tàn lụi của đế chế thuộc về các vị caliph.
Sẽ chỉ có một chương mà thôi. III. Người Bulgary, IV. Người Hungary, và
V. Người Nga, những người theo đường biển hay đất liền đã tấn công
vào các tỉnh bang và kinh đô; nhưng phần cuối cùng trong số đó, hết sức
quan trọng do tầm vóc vĩ đại hiện thời, sẽ ít nhiều khơi gợi nên đôi chút
hiếu kỳ về nguồn gốc và thời kỳ non trẻ của họ. VI. Người Norman, hay
đúng hơn là cá nhân những nhà thám hiểm của dân tộc đó, vốn đã dựng
nên một vương quốc hùng mạnh ở Apulia và Sicily, làm lung lay ngai vàng
Constantinople, phô bày những chiến tích của tinh thần hiệp sĩ, và gần
như đã hiện thực hóa những kỳ công trong những thiên anh hùng ca. VII.
Người Latin, những thần dân của giáo hoàng, các quốc gia ở phương Tây,
tham gia dưới ngọn cờ thập tự hòng giành lại hoặc cứu nguy cho ngôi mộ
Chúa Jesus. Các hoàng đế La Mã thấy khiếp sợ và được bảo vệ bởi hàng
vạn người hành hương tiến về Jerusalem cùng với Godfrey xứ Bouillon
và những huynh đệ Kitô giáo. Cuộc thập tự chinh thứ hai và thứ ba giẫm
lên những vết chân của cuộc đầu tiên: châu Á và châu Âu hòa lẫn vào
nhau trong một cuộc thánh chiến kéo dài 200 năm; và các thế lực Kitô
giáo gặp phải sức phản kháng can trường và cuối cùng đã bị đẩy lui bởi
Saladin và những Mamaluke [binh lính nô lệ] của Ai Cập. Trong các cuộc
thập tự chinh đáng nhớ này, một hạm đội và một đạo quân người Pháp
và người Venice chuyển hướng từ Syria tới eo biển Bosphorus bờ Thrace
[Thracian Bosphorus]: họ tấn công vào kinh đô, họ lật đổ nền quân chủ
Hy Lạp: và một vương triều của các ông hoàng Latin yên vị trên ngai
vàng Constantinople gần 60 năm. VIII. Chính người Hy Lạp, suốt thời kỳ
bị giam cầm và sống lưu vong này, hẳn bị coi như một giống dân ngoại
chủng; [rồi là] kẻ thù và một lần nữa là chủ nhân của Constantinople.
Nỗi bất hạnh đã khơi lại đốm lửa tàn của đạo đức dân tộc; và chuỗi nối
tiếp các hoàng đế vẫn có thể được tiếp diễn cùng với đôi chút tôn nghiêm
nhờ việc thêm một lần chinh phục được đất Thổ. IX. Người Mông Cổ
và người Tartar. Do vũ lực của Thành Cát Tư Hãn và con cháu ông ta,
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
thế giới rung chuyển từ Trung Hoa cho tới Ba Lan và Hy Lạp: các O
bị hạ bệ: các caliph sụp đổ, và các caesar ngồi run rẩy trên ngai vàng của
mình. Những chiến thắng của Timour khiến cho sự cáo chung của đế chế
Byzantine lùi lại thêm 50 năm nữa. X. Tôi đã nhận xét về sự xuất hiện lần
đầu tiên của người Thổ; và danh tính của cha ông họ, [vương triều] O
và Othman [cũng là Ottoman], tách biệt hai vương triều kế tiếp nhau của
một quốc gia đã nổi lên từ hoang địa Scythia vào thế kỷ 11. Vương triều
Seljuk lập nên một vương quốc huy hoàng và hùng cường từ bờ sông
Oxus tới Antioch và Nice; và cuộc thập tự chinh đầu tiên bị kích động do
sự kiện Jerusalem bị xâm phạm và mối nguy của Constantinople. Từ một
nguồn cội thấp hèn, người trỗi dậy, gây tai họa và kinh hoàng
cho thế giới Kitô. Constantinople bị Mohammed II vây hãm và chiếm đóng;
thắng lợi của ông ta đã tiêu hủy chút tàn dư, hình tượng và danh nghĩa
của đế chế La Mã ở phương Đông. Sự phân ly của người Hy Lạp hẳn là
gắn liền với những tai họa sau cùng của họ và sự phục hồi của nền học
vấn trong thế giới phương Tây. Từ tình trạng tù hãm của La Mã mới [tức
Constantinople] tôi sẽ quay trở lại những tàn tích của La Mã cổ đại; và tên
gọi khả kính ấy, chủ đề thú vị ấy, sẽ rọi một ánh hào quang lên phần kết
của những thành quả lao động của tôi.
[Ta có thể xem xét các hoàng đế Byzantine từ Heraclius cho tới Theodosius
III: năm 610-641, Heraclius; năm 641, Constantine III và Heracleonas; năm 641,
Heracleonas; năm 641-668, Constans II Pogonatus; năm 668-685, Constantine IV;
năm 685-695, Justinian II Rhinotmetus; năm 695-698, Leontius; năm 698-705,
Tiberius III; năm 705-711, Justinian II (một lần nữa); năm 711-713, Philippicus
Bardanes; năm 713-715, Anatasius II; năm 716-717, Theodosius III.]
Tôi sẽ miêu tả đôi nét về người sáng lập của một vương triều mới, được
lưu danh hậu thế bằng việc kịch liệt công kích những kẻ thù của mình,
một con người mà cuộc sống công lẫn tư đều bị vướng vào câu chuyện
trong giáo hội liên quan đến những người Bài thánh tượng [Iconoclast].
Song bất chấp những chuyện ồn ào của thói mê tín, một định kiến đầy
• E DWA R D G I B B O N •
thiện ý dành cho tính cách của Leo xứ Isauria có thể phát sinh từ thân
thế mờ mịt của ông và quãng thời gian ông trị vì. - I... Leo nguyên quán
ở Isauria... Ban đầu ông phục vụ trong đội vệ binh của Justinian, nơi đó
ông nhanh chóng được kẻ bạo chúa để mắt tới, và dần dà khiến ông ta
đố kỵ. Dũng khí và tài khéo của ông nổi bật lên trong cuộc chiến Colchis:
từ Anatasius ông tiếp nhận quyền chỉ huy các quân đoàn Anatolia, và
nhờ sự suy tôn của binh lính ông vươn lên cai trị đế chế cùng với sự
tán thưởng chung của thế giới La Mã. - II. Trong cuộc thăng tiến nguy
hiểm này, Leo III phải tự mình chống chịu trước lòng đố kỵ của những
kẻ ngang hàng, sự bất mãn của một phe cánh hùng mạnh, và những
cuộc tấn công của thù trong giặc ngoài. Người Công giáo, vốn tố cáo
những chủ trương cách tân tôn giáo của ông, buộc phải thừa nhận rằng
những chính sách đó được triển khai thật điềm tĩnh và chỉ đạo thật vững
vàng. Dù im lặng song họ thầm kính trọng cách ông điều hành sáng suốt
và hành xử công tâm. Sau một triều đại kéo dài 24 năm, ông ra đi yên
bình trong cung điện Constantinople; và tấm áo choàng tía của ông được
chuyển giao cho thế hệ thứ ba đúng theo quyền thừa kế.
Trong một triều đại 34 năm dài, đứa con trai và cũng là người nối ngôi
của Leo, Constantine V, mang họ Copronymus, tấn công vào những hình
tượng hay thánh tượng của nhà thờ với niềm hăng say thiếu tiết chế. Đám
người tôn thờ thánh tượng đã trút hết những cay đắng của lòng oán hận
tôn giáo vào bức chân dung họ khắc họa con báo đốm này, kẻ Phản Kitô
này, con rồng biết bay thuộc hậu duệ của loài rắn quỷ này, kẻ còn vượt
qua những thói xấu của Elagabalus và Nero. Triều đại của y là một cuộc
đồ sát dai dẳng bất kỳ thứ gì cao quý nhất, thánh thiện nhất, hoặc trong
sạch nhất trong đế chế. Đích thân mình, vị hoàng đế tham dự buổi hành
quyết nạn nhân, dò xét những nỗi đau đớn thống khổ của họ, lắng nghe
tiếng họ rên rỉ, và say sưa trong cơn khát máu vô độ của mình: một chiếc
đĩa đựng những cái mũi người được xem là món lễ vật làm vui lòng y, và
đám gia nhân của y thường phải chịu đòn roi hoặc bị tùng xẻo bởi bàn tay
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
đấng quân chủ ấy. Họ của y bắt nguồn từ việc y làm ô uế bình đựng nước
rửa tội1. Đứa bé thơ dại có thể được miễn thứ; nhưng những lạc thú nam
nhân của Copronymus hạ thấp y xuống hạng súc sinh; đam mê nhục dục
của y làm xáo trộn những sự phân biệt muôn thuở về giới tính và giống
loài, và dường như y tìm thấy ít nhiều khoái cảm trái tự nhiên nào đó từ
những đối tượng gớm ghiếc nhất đối với tri giác con người. Trong tôn
giáo của y thì kẻ Bài thánh tượng là một kẻ Dị giáo, một kẻ Do Thái giáo,
một tín đồ Islam, một kẻ Đa thần và một kẻ Vô thần; niềm tin của y dành
cho một quyền năng vô hình chỉ có thể được phát hiện trong những nghi
lễ ma thuật cùng lễ hiến tế lúc nửa đêm cho nữ thần Venus và những loài
ma quỷ cổ xưa, với nạn nhân là con người. Cuộc đời y bị nhơ nhuốc vì
những thói hư tật xấu vô cùng đối ngược, còn những vết lở loét phủ đầy
trên thân thể y tưởng như giúp y hình dung trước về màn tra tấn chốn địa
ngục trước cả khi y chết. Nói về những lời kết tội này, những điều mà tôi
đã kiên nhẫn sao chép lại, một phần bị sự vô lý của chính nó bác bỏ; và
trong những giai thoại về đời tư của các vị quân vương, dối trá là việc dễ
dàng hơn vì lẽ nó khó bị phát giác hơn. Không đi theo châm ngôn nguy
hại nói rằng nhiều viện dẫn thì thi thoảng ắt phải có sự thật, dẫu sao tôi
cũng có thể nhận thức được rằng Constantine V là một kẻ phóng đãng và
tàn ác. Thói đời vu khống có chiều hướng phóng đại nhiều hơn là bịa đặt;
và cái miệng lưỡi bừa bãi của cô ả ở một mức độ nào đó bị kinh nghiệm
của thời đại và đất nước mà ả nhắc tới ngăn cản. Trong số giám mục và tu
sĩ, tướng lĩnh và pháp quan, những người được cho là đã phải chịu đựng
dưới triều đại của y, thì số lượng tên họ được ghi chép là rất đáng chú ý,
việc hành hình được công khai, sự tùng xẻo được tiến hành ngay trước
mắt người thường, một cách thường xuyên. Người Công giáo căm ghét
con người và chính quyền của Copronymus; nhưng ngay cả lòng căm
hận của họ cũng là một bằng chứng cho việc họ bị đàn áp. Họ đành giấu
kín những hành động khiêu khích mà có thể bào chữa hoặc biện minK
1 Kẻ thù đặt cho ông ta biệt danh Copronymus, hay Kopronymos, nghĩa là hạ tiện, ô uế. [ND]
• E DWA R D G I B B O N •
là do sự khắt khe của y, nhưng hẳn là ngay đến những khiêu khích này
cũng thổi bùng lên nỗi oán hận và khiến tâm tính y trở nên gai góc khi sử
dụng hoặc lạm dụng sự chuyên quyền. Song tính cách của Constantine V
không hẳn là kém giá trị và chính quyền của y cũng không phải lúc nào
cũng đáng nhận những lời nguyền rủa hoặc nỗi khinh miệt của người La
Mã. Dựa trên lời thừa nhận từ những kẻ thù của y, tôi có được thông tin
về việc phục chế một cầu kênh cổ xưa, về việc chuộc lại 2.500 tù nhân, về
sự sung túc hiếm thấy vào thời ấy, và các thuộc quốc mới mà y đã sử dụng
để tái định cư tại thành phố Constantinople và Thrace. Họ miễn cưỡng
ca ngợi niềm hăng say và sự can đảm của y; y ngồi trên lưng ngựa, thân
chinh dẫn đầu các quân đoàn đi vào chiến trận; và dù vận may cho quân
đội của y mỗi lúc một khác, y thu được thắng lợi trên biển và trên đất
liền, trên sông Euphrates và sông Danube, trong cuộc nội chiến và chiến
sự với quân Rợ. Lời tán dương của phe dị giáo hẳn được thả vào cán cân
để cân bằng với sức nặng từ lời công kích của phe chính thống. Những
người Bài thánh tượng tôn kính những nết tốt của vị quân vương: 40 năm
sau cái chết của y họ vẫn cầu nguyện trước mộ của vị thánh này. Một thị
kiến nhiệm màu được lan truyền bởi sự cuồng tín hoặc trò gian trá: vị anh
hùng Kitô giáo ấy xuất hiện trên lưng một con chiến mã màu trắng sữa,
vung thương chống lại bọn Đa thần giáo của Bulgary: “một câu chuyện
vô lý,” vị sử gia Công giáo nói, “vì lẽ Copronymus đã bị lũ quỷ xích chặt
trong vực thẳm địa ngục.”
[Ta có thể tiếp tục khảo sát: năm 717-740, Leo III người Isauria; năm 741-775,
Constantine V Copronymus; năm 775-780, Leo IV người Khazar; năm 780-797,
Constantine VI; năm 797-802, Irene; năm 802-811, Nicephorus I; năm 811,
Stauracius; năm 811-813, Michael I Rangabe; năm 813-820, Leo V người Armenia;
năm 820-829, Michael II thuộc vương triều Amorian; năm 829-842, Theophilus;
năm 842-867, Michael II nhà Amoria; năm 867-886, Basil I; năm 886-912, Leo VI
Nhà thông thái, hay Triết gia; năm 912-913, Alexander; năm 913-959, Constantnie VII
Porphyrogenitus; năm 920-944, Romanus I Lecapenus; năm 959-963, Romanus
II; năm 963-969, Nicephorus II Phocas; năm 969-976, John I Tzimisces; năm
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
976-1025, Basil II Bulgaroctonus; năm 1025-1028, Constantine VIII; năm 1028-
1034, Romanus III Argyrus; năm 1034-1041, Michael IV xứ Paphlagonia; năm
1041-1042, Michael V Calaphares; năm 1042, Zoe và Theodora; năm 1042-1055,
Constantine IX Monomachus; năm 1055-1056, Theodora (một lần nữa); năm 1056-
1057, Michael VI Stratioticus; năm 1057-1059, Isaac I Comnenus. Sự trỗi dậy của
Isaac I Comnenus báo hiệu nhiều hơn về sự trỗi dậy của một vương triều mới.]
Từ đêm trường nô lệ này, một tia sáng của tự do, hoặc chí ít là của tinh
thần tự do, bắt đầu ló dạng: người Hy Lạp hoặc giữ gìn hoặc phục hồi
thông lệ sử dụng họ [đi kèm với tên], nhờ đó mà đức hạnh cha truyền con
nối được lưu danh mãi mãi: và giờ đây chúng ta phân biệt sự trỗi dậy, sự
kế tục và những liên minh của các vương triều cuối cùng ở Constantinople
và Trebizond. Comneni1, những người đã trụ đỡ cho số phận của một đế
chế đang lụn bại suốt một khoảng thời gian, được mang danh là dòng dõi
La Mã chính gốc: nhưng gia tộc này từ lâu đã rời Ý để chuyển tới châu Á.
[Các bản viết tay của Anna Comnena, con gái của Alexius I, cung cấp một
nguồn tư liệu lịch sử chủ yếu.]
Cuộc đời của hoàng đế Alexius đã được phác họa bởi cô con gái yêu
của ông, lấy cảm hứng từ niềm yêu thương trìu mến dành cho ông và
từ lòng nhiệt thành đáng khen ngợi hòng muốn những đức tính tốt của
ông được lưu danh mãi mãi. Ý thức được mối nghi ngờ chính đáng từ
độc giả của mình, công chúa Anna Comnena nhiều lần cam đoan rằng,
bên cạnh vốn hiểu biết cá nhân, cô đã tìm kiếm những buổi nói chuyện
cùng văn bản chép tay của những cựu binh đáng kính nhất: và trải qua
ba năm dài, quên đời và bị đời lãng quên, tình cảnh cô độc u sầu của cô
đã đề kháng với cả hy vọng và sợ hãi; sự thật đó, một sự thật hoàn hoàn
trần trụi, là điều thân thương và thiêng liêng hơn cả ký ức về đấng sinh
thành. Song, thay cho tính chất giản đơn về phong cách và tình tiết chinh
1 Comneni, hay Comnenus: tên một gia tộc cai trị đế chế Byzantine trong khoảng một thế kỷ, từ cuối
thế kỷ 11 đến cuối thế kỷ 12. [ND]
• E DWA R D G I B B O N •
phục được lòng tin của chúng ta, lối trau chuốt giả bộ của thuật hùng
biện và khoa học lại làm cho mọi trang viết lộ ra sự phù phiếm của nữ tác
giả. Tính cách đích thực của Alexius mất hút vào trong một chòm tinh tú
mơ hồ của bao nhiêu đức tính; hơn nữa, giọng điệu bợ đỡ, bao biện liên
hồi kia cũng khiến ta gai mắt mà chất vấn tính xác thực của vị sử gia và
giá trị của người anh hùng nọ. Tuy nhiên, chúng ta không thể chối từ lời
nhận xét chí lý và quan trọng của cô rằng những bất ổn của thời đại ấy là
nguồn cơn của nỗi bất hạnh cũng như vinh quang cho Alexius; và rằng
mọi tai họa có thể giáng lên một đế chế thoi thóp thảy đều chất chồng lên
triều đại của ông bởi công lý của Thiên đường và những thói tật của các
vị tiền nhiệm. Ở phương Đông, người Thổ chiến thắng đã truyền bá, từ
Ba Tư cho tới eo biển Hellespont, sự ưu thắng của Kinh Qur’an và Trăng
lưỡi liềm [Crescent]1: phương Tây bị tinh thần phiêu lưu gan dạ của người
Norman xâm lấn; trong những giây phút hòa bình, dòng Danube tuôn
trào những quần thể mới, những người đã tận dụng kiến thức khoa học
chiến tranh để đạt được những gì họ đã đánh mất do lối cư xử hung tợn.
Biển cả tỏ vẻ thù nghịch chẳng kém gì đất liền; và trong khi một kẻ thù
công khai tấn công ngoài biên ải, thì cung điện lại rối ren vì sự tạo phản
và mưu đồ bí mật. Đột nhiên, người Latin giương cao ngọn cờ thập tự giá;
châu Âu đổ dồn về châu Á; và Constantinople gần như bị dòng thác lũ dữ
dội này cuốn phăng đi. Trong cơn bão tố, Alexius can đảm, khéo léo lèo lái
con tàu đế vương... Anna là một nhân chứng trung thực rằng niềm hạnh
phúc của ông bị hủy hoại và của cải của ông tiêu tan hết vì chăm lo cho
đời sống muôn dân; sự kiên nhẫn của Constantinople mỏi mòn vì chiều
dài và sự khốc liệt trong triều đại của ông; trước khi Alexius qua đời, ông
đã đánh mất đi tình yêu mến và lòng tôn kính của thần dân mình. Giới
giáo sĩ chẳng thể nào tha thứ cho việc ông dùng những tài sản nhà thờ
vào mục đích bảo vệ nhà nước; nhưng họ ca ngợi học vấn về thần họF
1 Trăng lưỡi liềm: biểu tượng chính trị, quân sự và tôn giáo của các đế chế Byzantine và Thổ, sau này
và phổ quát hơn, của các nước Hồi giáo. [ND]
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
và lòng nhiệt thành cháy bỏng của ông dành cho đức tin chính thống,
đức tin mà ông đã bảo vệ bằng miệng lưỡi, ngòi bút và thanh gươm của
mình. Tính cách của ông bị suy biến bởi thói mê tín của người Hy Lạp; và
cũng chính cái nguyên lý mâu thuẫn trong bản tính con người ấy buộc vị
hoàng đế dựng lên một bệnh xá cho người nghèo và người tàn tật, và ra
chỉ thị hành hình một kẻ dị giáo, kẻ này bị thiêu sống trong quảng trường
của Thánh Sophia. Ngay cả lòng thành thật trong những đức tính về luân
lý và tôn giáo của ông cũng bị chính những kẻ đã sống trọn đời mình
trong niềm tin tưởng thân thiết nơi ông nghi ngờ. Trong những giờ phút
cuối cùng của đời mình, khi ông bị vợ mình là Irene gây sức ép phải sửa
đổi quyền nối ngôi, ông ngẩng đầu lên và thốt ra một lời ngoan đạo trước
sự phù phiếm của thế gian. Lời đáp đầy phẫn nộ của vị hoàng hậu có thể
dùng để khắc lên mộ ông như một văn bia, “lúc chết ông cũng chẳng khác
gì lúc còn sống - một kẻ đạo đức giả.”
[Chúng ta có thể hoàn thành cuộc khảo sát của mình: năm 1057-1059, Isaac I
Comnenus; năm 1059-1067, Constantine X Ducas; năm 1068-1071, Romanus IV
Diogenes; năm 1071-1078, Michael VII Ducas (Parapinaces); năm 1078-1081,Nicephorus
III Botaniates; năm 1081-1118, Alexius I Comnenus; năm 1118-1143, John II Comnenus;
năm 1143-1180, Manuel I Comnenus; năm 1180-1183, Alexius II Comnenus; năm
1183-1185, Andronicus I Comnenus; năm 1185-1195, Isaac II Anglus.]
Nếu có thể tính toán số lượng và thời lượng tồn tại của các triều đại,
ta sẽ nhận thấy rằng một thời kỳ dài 600 năm được đến 60 vị hoàng đế
lấp đầy, trong đó có một số nữ nguyên thủ vốn thuộc trong danh sách
augusta; chỉ trừ ra vài kẻ soán ngôi vốn chẳng bao giờ được thừa nhận ở
kinh đô, và một số vị quân vương đã không thể sống để sở hữu quyền
thừa kế của mình. Tỷ lệ trung bình là mười năm cho mỗi một vị hoàng
đế, thấp hơn rất nhiều so với quy luật về niên đại của Ngài Isaac Newton,
mà từ vốn kinh nghiệm về các nền quân chủ hợp thức gần đây, đã xác
định khoảng từ 18 đến 20 năm là kỳ hạn cho một triều đại thông thường.
Đế chế Byzantine thanh bình và thịnh vượng nhất khi nó chấp nhận sự
• E DWA R D G I B B O N •
kế vị thế tập; năm vương triều, nhà Heraclius, Isauria, Amorian, Basil và
Comnenus, được hưởng và chuyển giao di sản hoàng gia trong suốt chuỗi
tương ứng của họ gồm năm, bốn, ba, sáu và bốn thế hệ; với vài vị quân
vương thì số năm trị vì cũng chính là những năm thơ ấu; và Constantine
VII cùng hai cháu trai của mình chiếm trọn một thế kỷ. Nhưng trong
những khoảng thời gian tồn tại của các vương triều Byzantine, sự nối
ngôi diễn ra nhanh chóng và thất thường, thậm chí tên của một ứng cử
viên thành công nhanh chóng bị một đối thủ may mắn hơn xóa bỏ. Rất
nhiều con đường dẫn tới đỉnh cao của quyền vị: công trình do cuộc nổi
loạn xây nên lại bị mưu đồ lật đổ hoặc tự suy yếu dần vì những mưu mô
ngấm ngầm: những kẻ được sủng ái trong giới binh sĩ hoặc thường dân,
trong Viện Nguyên lão hoặc giới giáo sĩ, giữa đám phụ nữ và hoạn quan,
thay phiên nhau khoác lên tấm áo choàng tía: phương tiện thăng tiến
của họ thật hạ tiện, cái kết dành cho họ thường thê thảm và bị coi khinh.
Một hữu thể mang bản chất con người, được phú bẩm cho những năng
lực giống hệt nhưng sống trong một kỳ hạn dài lâu hơn [so với người
thường], hẳn sẽ ném một nụ cười thương hại và khinh miệt xuống những
tội ác và hành động điên rồ xuất phát từ tham vọng con người, cái tham
vọng vốn thường hăm hở chộp lấy cơ hội được hưởng thụ trong một
khoảng thời gian bấp bênh và ngắn ngủi. Cứ thế kinh nghiệm của lịch sử
đề cao và mở rộng đường chân trời của tầm nhìn trí tuệ chúng ta. Trong
một số ngày biên soạn nên một tác phẩm, trong một số giờ chăm chỉ đọc,
600 năm đã lướt qua, và khoảng thời gian cho một cuộc đời hoặc một triều
đại được rút ngắn thành một khoảnh khắc thoáng qua: mộ phần luôn
nằm cạnh ngai vàng: sau sự thành công của một kẻ tội phạm thì gần như
ngay lập tức là việc vuột mất giải thưởng của y, lý trí của ta tồn tại lâu hơn
và coi khinh sáu bóng ma của các vị vua đã vụt qua trước mắt mà chẳng
đọng lại trong ký ức chúng ta chút gì sâu đậm. Việc nhận xét rằng trong
mọi thời đại và mọi hoàn cảnh, tham vọng đã thắng thế nhờ chính sức
mạnh lấn lướt có thể khiến cho một triết gia bớt ngạc nhiên: nhưng trong
khi lên án thói phù hoa, ông ta có thể tìm kiếm động cơ của một khát vọng
• S Ự SU Y TÀ N VÀ SỤ P Đ Ổ CỦA Đ Ế C H Ế L A M Ã •
chung đoạt lấy và nắm giữ quyền trượng thống trị. Phần lớn trong chuỗi
tiếp nối quyền vị ở Byzantine, chúng ta không có lý do gì để quy kết cho
sự yêu chuộng thanh danh và yêu mến con người. Chỉ riêng mỗi đức độ
của Comnenus mới là phúc lành và trong sạch: các vị quân vương lừng
lẫy nhất đi trước hoặc đi sau tên gọi khả kính đó đã bước đi với ít nhiều
sự khôn khéo và hăng hái trên những con đường quanh co và đẫm máu
của một chính sách vị kỷ: khi xem xét kỹ lưỡng các tính cách bất toàn của
Leo xứ Isauria, Basil I, và Alexius Comnenus, của Theophilus, Basil II và
Manuel Comenenus, sự mến mộ và chỉ trích của ta gần như được cân
bằng nhau; và những người còn lại trong số đế vương ấy chỉ khao khát
và kỳ vọng được hậu thế lãng quên. Phải chăng niềm hạnh phúc riêng là
mục đích và đối tượng cho tham vọng nơi họ? Tôi sẽ không bình phẩm
những chủ đề thông tục về nỗi khốn khổ của các vị vua; nhưng chắc chắn
là tôi sẽ có thể nhận xét rằng hoàn cảnh của họ, của tất cả những người
khác, chất chứa nỗi sợ hãi và thiếu vắng niềm hy vọng. Về những dục
vọng đối ngược này, có nhiều cơ hội để phát huy trong những cuộc cách
mạng thời xa xưa hơn là trong cái tâm tính nhã nhặn của thế giới hiện đại,
một thế giới nơi không dễ dàng gì lặp lại thắng lợi của Alexander hoặc
sự sụp đổ của Darius. Nhưng điều đặc biệt không may cho các vị quân
vương Byzantine là họ phải đối mặt với những mối đe dọa trong nội bộ
trong khi đó lại không thể đưa ra được bất kỳ một hứa hẹn tươi mới nào
về việc chinh phạt bên ngoài... Quân đội thừa phóng túng nhưng thiếu
nhuệ khí, quốc gia hỗn loạn và mất tự do: dân Rợ của phương Đông và
phương Tây gây sức ép lên nền quân chủ, và việc để mất các tỉnh bang
được chấm dứt bởi tình cảnh nô lệ sau cùng của kinh đô này.
ĐẾ CHẾ LA MÃ
THẾ KỶ 7 (NĂM 695)
Toàn bộ chuỗi tiếp nối của các vị hoàng đế La Mã, từ vị caesar đầu tiên cho tới
vị hoàng đế cuối cùng của nhà Constantine, trải dài trên 1.500 năm: và cái kỳ hạn
thống trị ấy, không bị gián đoạn bởi sự chinh phạt bên ngoài, vượt quá kỳ hạn
của các nền quân chủ cổ đại, người Assyria và người Medes,
những người thừa kế của Cyrus và của Alexander.