The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngocnm.alphabooks, 2023-07-27 01:01:28

CAC DE CHE NGON TU_docthu

CAC DE CHE NGON TU_docthu

5 Mục lục Lời cảm ơn............................................................................................................................................9 Lời mở đầu.........................................................................................................................................12 Phần mở đầu: Sự bất đồng của các ngôn ngữ.....................................................17 PHẦN I BẢN CHẤT CỦA LỊCH SỬ NGÔN NGỮ Chương 1 Tấm thảm của Themistocles...........................................................24 Chương 2 Làm sao để trở thành một ngôn ngữ quốc tế? ................40 PHẦN II NGÔN NGỮ TRUYỀN BÁ QUA ĐẤT LIỀN Chương 3 Những bông hoa sa mạc: Sự đổi mới ngôn ngữ ở Trung Đông......................................... 53 Chương 4 Thành tựu nảy nở: tiếng Ai Cập và tiếng Hán..................170 Chương 5 Sự lan tỏa kỳ diệu: Hành trình văn hóa của tiếng Phạn........................................ 251 Chương 6 3.000 năm duy ngã: Cuộc phiêu lưu của tiếng Hy Lạp............................................. 326 Chương 7 Một châu Âu cạnh tranh: Celt, La Mã, German và Slav...........................................................388 Chương 8 Tiếng Latin: Lần cáo chung thứ nhất .................................... 447


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 6 PHẦN III NGÔN NGỮ TRUYỀN BÁ QUA BIỂN CẢ Chương 9 Tiếng Latin: Lần cáo chung thứ hai......................................... 457 Chương 10 Kẻ soán ngôi vĩ đại: Tiếng Tây Ban Nha trong Tân Thế giới..................................466 Chương 11 Theo sau Đế quốc: Các ngôn ngữ châu Âu ở nước ngoài..............................................................................................532 Chương 12 Mô hình thu nhỏ hay chiếc gương biến dạng? Tiến trình phát triển của tiếng Anh......................................... 631 PHẦN IV NGÔN NGỮ HÔM NAY VÀ NGÀY MAI Chương 13 20 ngôn ngữ hàng đầu..................................................................... 727 Chương 14 Nhìn về phía trước................................................................................740 Chú thích........................................................................................................................................780 Tài liệu tham khảo.....................................................................................................................811


17 PHẦN MỞ ĐẦU Sự bất đồng của các ngôn ngữ Ngày 8 tháng 11 năm 1519, Hernán Cortés và một đoàn gồm 300 người Tây Ban Nha lần đầu tiên được tiếp kiến vị thống lĩnh tối cao của Mexico. Địa điểm là con đường chính diện bên kia hồ dẫn đến thủ đô Tenochtitlán. Xung quanh họ đều là nước. Ở chân trời phía đông có thể nhìn thấy một ngọn núi lửa đang phun trào. Ngồi trên lưng ngựa là Cortés để râu, diện một bộ áo giáp sáng lấp lánh, gần đây đang phát triển sự nghiệp của mình với tư cách là một nhân viên luật ở một thị trấn nhỏ và một người khai thác vàng nghiệp dư. Là một người vốn sinh ra để ngồi trên chiếc thảm hoàng gia Mexico, một người đã chiến thắng trong nhiều cuộc chiến, Motecuhzomai ngồi trên một chiếc kiệu, lộng lẫy trong chiếc mũ đội đầu hình tròn rộng lớn với những chùm đuôi seo màu xanh lá cây bóng bẩy, mũi, tai và môi dưới ông ta xỏ khuyên, phía sau là một đội hộ tống gồm các chiến binh mặc da báo đốm và lông đại bàng. Sau khi trao đổi lễ vật, những người Tây Ban Nha được dẫn vào thành phố, và ở trong một cung điện từng là nơi ở của cha Motecuhzoma. Họ được thết bữa tối gồm gà tây, trái cây và ngô nghiền. Sau đó, Motecuhzoma, người có chức danh chính thức là tlatoani, “người trị vì”ii, quay ra chào các vị khách của mình. i.Cũng thường được gọi sai là Montezuma. Đọc là motēukzoma. ii. Nguyên văn là “speaker”, là một trong các phương án chuyển ngữ sang tiếng Anh của danh hiệu tlatoani, tuy nhiên ở đây chọn cách chuyển ngữ “ruler” (người trị vì) cho phù hợp với vị thế của nhà vua. (BT)


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 18 Đây là khoảnh khắc đầu tiên mà hai vị thống lĩnh trực tiếp chia sẻ với nhau cách hiểu của mình về cuộc gặp gỡ của kỷ nguyên này: người cai trị đế chế lớn nhất ở châu Mỹ, vẫn đang ở đỉnh cao quyền lực, đối mặt với người tự cho là sứ thần của nhà vua Tây Ban Nha, mặc dù đang bị canh gác nghiêm ngặt ở một thành phố có trật tự tốt, một thành phố lớn hơn bất kỳ thành phố nào được thấy ở châu Âu, nhưng lại không hề tỏ ra sợ hãi. Ngôn từ của họ đã tạo nên âm hưởng cho tất cả noi theo, trên tất cả là lối ngoại giao và khả năng nghe hiểu thảm thương của người Aztec cùng sự hung hăng, xảo trá và đầy toan tính của người Tây Ban Nha. Đó là bước đầu tiên hướng tới việc tiếng Nahuatl bị phế truất khỏi vị thế ngôn ngữ hoàng gia của Mexico, và sự phát triển của tiếng Tây Ban Nha hướng tới việc trước hết trở thành ngôn ngữ của chính phủ và tôn giáo, sau đó là ngôn ngữ của mọi thứ khác ở Tân Thế giới. Motecuhzoma mở đầu với một bài phát biểu hoa mỹ bằng tiếng Nahuatl, được chuyển ngữ bởi những thông dịch viên mà Cortés đã mang theo: Malin-tzin, một nữ quý tộc người Mexico, dịch tiếng Nahuatl sang tiếng Yucatec Maya, còn Fray Géronimo de Aguilar, một linh mục người Tây Ban Nha, thì chuyển ngữ tiếng Maya sang tiếng Tây Ban Nha. Cortés sau đó trả lời bằng tiếng Tây Ban Nha, và quá trình diễn ra ngược lại. Totēukyoe, ōtikmihiyōwiltih ōtikmoziyawiltih.i Thưa bề trên, ngài đã khổ sở, ngài đã mệt mỏi. i. Các chương trong sách sử dụng một dạng thức đánh vần roman thuận tiện để ghi lại phát âm của một ngôn ngữ không quen thuộc, đồng thời không khác biệt quá xa với tư tưởng của những nhà ngôn ngữ nghiệp dư về cách phát âm bảng chữ cái La Mã. Nói chung, các nguyên âm phải được phát âm rõ ràng và đơn giản như trong tiếng Tây Ban Nha, các phụ âm và cụm từ như trong tiếng Anh, và bất kỳ nét riêng biệt nào đều được công bố trong phần chú thích đầu tiên. Ở đây, với tiếng Nahuatl, cách viết Latin truyền thống (giống tiếng Tây Ban Nha) đã không được tuân theo: thay vào đó, č đại diện cho ch còn š đại diện cho sh trong tiếng Anh; h được sử dụng cho âm tắc thanh hầu, giống như âm t không được nghe thấy trong cách phát âm tiếng Anh và tiếng Scots của Scotland; z ở đây gần với s hơn z trong tiếng Anh. Các nguyên âm dài có một dấu ngang: ā, ē, … Các từ phổ biến có thể được đơn giản hóa, ví dụ: tlatoani đúng ra phải là tlahtoāni.


19 Sự b ất đ ồ ng c ủ a c á c ng ô n ng ữ Đây là một lời chào thông thường, mặc dù sẽ có rất ít người mà vị tlatoani của toàn cõi Mexico có thể gọi là tēukyoe, “bề trên”. ō tlāltiteč tommahzītīko, ō īteč tommopāčiwiltīko in mātzin in motepētzin, Mešihko, ō īpan tommowetziko in mopetlatzin, in mokpaltzin, in ō ačitzinka nimitzonnopiyalīlih, in ōnimitzonnotlapiyalīlih… Ngài đã nhân từ đến thế gian, ngài đã đến gần vùng hồ nước của mình, ngôi cao của ngài ở Mexico, ngài đã xuống thảm, xuống ngai, thứ mà tôi đã gìn giữ cho ngài trong thời gian ngắn, tôi đã từng giữ nó cho ngài… Điều này thật kỳ lạ. Motecuhzoma đang nói với Cortés với tư cách là một “quản gia” chăm lo cho vị trí quốc chủ của ông ta. “Vì họ đã không còn nữa, các thống đốc của ngài, các vị vua, Itzcoatl, Motecuhzoma đời trước, Axayacatl, Tizoc, Ahuitzotl, những người cho đến nay đã trở thành những người bảo vệ lãnh thổ của ngài, cai quản vùng hồ nước, ngôi cao của Mexico, những người mà thần dân của ngài đã nối gót, đã noi theo và thực sự đã tiến bộ”i . Điều này còn kỳ lạ hơn. Motecuhzoma dường như đã đặt Cortés ngang hàng với một vị vua tối cao đã mất từ lâu của chính vùng đất này. “Họ có còn gây ám ảnh với những gì mình để lại, những gì đằng sau họ không? Giá như một trong số họ có thể chứng kiến và ngưỡng mộ những gì đã xảy ra với tôi ngày hôm nay, những gì tôi thấy bây giờ khi vắng mặt các vị bề trên của chúng ta, họ không hề hay biết. Đây thực sự không phải chỉ là tưởng tượng, không phải chỉ là giấc mơ; tôi không mơ mộng, không viển vông; bởi vì tôi đã thấy ngài, tôi đã nhìn theo ngài”ii. Giờ ông ta tuyên bố đã có một tầm nhìn i. Ka ōyahkeh motēčīuhkāwān, in tlahtohkeh, in Itzkōwātzin, in wēweh Motēukzoma, in Āšāyaka, in Tizōzik, in Āwitzōtl, in ō kuēl ačīk mitzommotlapiyalīlikoh, in ōkipačōkoh in ātl in tepetl in Mešihko, in īnkuitlapan, īntepotzko in ōwalyetiyā in momāzēwaltzin ii. Kuix ok wāllamatih in īmonihka, in intepotzko? Mā zēmeh yehwāntin kitztiyānih, kimāwizzōtiānih in nehwātl in āxkān nopan ōmočīuh, in ye nikitta, in zā īmonihka īntepotzko totēukyōwān. Kamo zan nitēmiki, ahmō zan nikočitlēwa, ahmō zan nikkočitta, ahmō zan niktēmiki, ka yē ōnimitznottili, mīštzinko ōnitlačiš.


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 20 nào đó. Cortés chắc hẳn đã nghĩ rằng vận may, hoặc Chúa, đang trao cho mình quyền lãnh đạo Mexico. “Vì từ lâu (trong năm ngày, trong mười ngày) tôi đã lo lắng nhìn xa xăm về nơi huyền bí trong mây, trong sương mà từ đó ngài đến. Vì vậy, đây là sự ứng nghiệm của những gì các vị vua đã nói, rằng ngài sẽ nhân từ trở về với vùng hồ nước của ngài, ngôi cao của ngài, rằng ngài sẽ trở lại ngồi trên tấm thảm và ngai vàng của mình, rằng ngài sẽ đến.”i Quá dễ dàng: Cortés đã được công nhận là một đấng cứu thế được hứa hẹn, và trên hết, người công nhận ấy lại không phải ai khác mà chính là người lãnh đạo của đất nước mà ông ta mong muốn chinh phục. “Và bây giờ điều đó đã trở thành sự thật, ngài đã đến với những ân cần, ngài đã thấu hiểu sự đau đớn, ngài đã biết đến sự mệt mỏi, giờ hãy hạ phàm, hãy nghỉ ngơi, hãy bước vào cung điện của ngài, hãy nghỉ tay nghỉ chân; mong các bề trên hạ phàm.”ii Cortés đã lợi dụng không chậm trễ vẻ ngoài trung thành đáng kinh ngạc của người thống trị Mexico này, nhưng ông ta đã không đơn giản chấp nhận sự phục tùng rõ ràng đối với cá nhân mình, như lẽ ra ông có thể. Rốt cuộc, người Aztec có thể mong đợi cách xử sự nào khác ở ông, nếu ông tuyên bố mình là một vị thần trở lại? Và người của ông sẽ phản ứng như thế nào? Thay vào đó, Cortés lại làm cho Motecuhzoma thêm ngạc nhiên về lai lịch huyền bí của sứ mệnh của ông, và còn thêu dệt rằng danh tiếng của người cai trị hẳn là đã lan xa lắm. Nhưng Cortés cũng tức thời kêu gọi sự tôn kính của chính mình đối với Đức Chúa Trời và vua của mình khi nhìn thấy họ, điều khiến cho người đối thoại cũng phải sùng kính theo. Thậm chí ông ta còn kết thúc bằng cử chỉ như trong một buổi thuyết pháp. i. Ka ōnnonēntlamattikaatka in ye mākuil, in ye mahtlāk, in āmpa nonitztikah in kēnamihkān in ōtimokīštīko in mištitlan, in ayauhtitlan. Anka yehwātl in in ki tēnēuhtiwih in tlahtohkeh, in tik-momačitīkiuh in mātzin, in motepētzin, in īpan timowetzītīkiuh in mpetlazin, in mokpaltzin, in tiwāl-mowīkaz. ii. Auh in āškān ka ōneltik, ōtiwalmowīkak, ōtikmihiyōwilti, ōtikmoziyawiltih, mā tlāltiteč šimahšīti, mā āimozēwihtzino, mā šokommomačiti in motēkpankaltzin, mā xikmozēwili in monakayōtzin, mā tlāltiteč mahšītikan in totēukyōwān.


21 Sự b ất đ ồ ng c ủ a c á c ng ô n ng ữ Một nhân chứng kể lại: Qua thông dịch viên của chúng tôi, những người luôn ở bên Cortés, đặc biệt là Doňa Marina [Malin-tzin], Cortés đã trả lời rằng bản thân ông ta và tất cả mọi người trong số chúng tôi đều không biết phải trả ơn gì cho Motecuhzoma vì mọi đặc ân được đón nhận mỗi ngày, rằng ông chắc chắn chúng tôi đến từ nơi Mặt trời mọc, chúng tôi là chư hầu và tôi tớ của một lãnh chúa vĩ đại được gọi là hoàng đế vĩ đại Don Carlos, người đã khiến cho nhiều quân vương vĩ đại phải phục tùng, rằng khi nhận được tin tức về Motecuhzoma và biết ông ấy là một vị chúa tể vĩ đại như thế nào, hoàng đế đã cử chúng tôi đến đây để gặp ông ấy và đề nghị ông ấy rằng họ nên là các con chiên của Ki-tô giáo, giống như hoàng đế của chúng tôi và tất cả chúng tôi, và rằng ngài và tất thảy thuộc hạ sẽ cứu vớt linh hồn họ. Cortés tiếp tục nói rằng hiện tại mình sẽ bày tỏ với Motecuhzoma nhiều hơn về việc điều này phải làm thế nào và với tác phong ra sao, về cách chúng tôi thờ phụng một Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, về việc Ngài là ai, và nhiều điều tốt đẹp khác mà ông nên nghe, như Cortés đã kể với các sứ thần của mình…i Cuộc trao đổi bằng tiếng Nahuatl và tiếng Tây Ban Nha này ghi lại một khoảnh khắc định mệnh khi khuôn mẫu được thiết lập cho sự xâm nhập của cộng đồng ngôn ngữ này vào một cộng đồng ngôn ngữ khác. Nó tình cờ được ghi chép rất tốt ở cả hai phía, nhưng không phải là duy nhất. Những khoảnh khắc tiên phong với tác i. Cortés le respondió con nuestras lenguas, que consigo siempre estaban, especial la dona Marina, y le dijo que no sabe con qué pagar él ni todos nosotros las grandes mercedes recibidas de cada día, y que ciertamente veníamos de donde sale el sol, y somos vasallos y criados de un gran señor que se dice el gran emperador don Carlos, que tiene sujetos a sí muchos y grandes príncipes, y que teniendo noticia de él y de cuán gran señor es, nos envió a estas partes a le ver a rogar que sean cristianos, como es nuestro emperador y todos nosotros, e que salvarán sus ánimas él y todos sus vasallos, e que adelante le declarará más cómo e de qué manera ha de ser, y como adoramos a un solo Dios verda-dero, y quién es, y otras muchas cosas buenas que oirá, como les había dicho a sus embajadores Tendile e Pitalpitoque e Quintalvor cuando estábamos en los arenales. (Díaz del Castillo, lxxxix)


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 22 động quan trọng này đã xảy ra trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại: như vào ngày 11 tháng 7 năm 1770, Thuyền trưởng James Cook của Hải quân Hoàng gia Anh chạm trán với những thổ dân Úc nói tiếng Guugu Yimidhirr ở vùng mà ngày nay là phía Bắc của Queensland; hay như trong thế kỷ thứ nhất, khi một người Nam Ấn tên là Kaudinya đến bờ biển Bnam ở Campuchia, chẳng bao lâu sau kết hôn với Nữ vương Soma (hay Liễu Diệp trong báo cáo của Trung Quốc) của nước này, và từ đó lai cấy văn hóa Phạn vào Đông Nam Á. Cuốn sách này ghi lại lịch sử của những ngôn ngữ lan truyền rộng rãi nhất trong bộ phận lịch sử mà chúng ta biết đến của loài người. Bằng cách nào đó, và vì nhiều lý do, các cộng đồng nói những ngôn ngữ này đã có thể thuyết phục được các cộng đồng khác gia nhập, và do đó đã mở rộng. Có rất nhiều động cơ cho sự thuyết phục đó – bao gồm sự thống trị về quân sự, những hy vọng về sự thịnh vượng, cải đạo, đi học ở trường nội trú, phục vụ trong quân đội và nhiều yếu tố khác. Nhưng về gốc rễ, sự thuyết phục này là cách duy nhất để một ngôn ngữ có thể lan truyền, và đây thực sự không phải là điều nhỏ nhặt, như bất kỳ ai từng cố gắng học một ngôn ngữ khác đều biết.


23 PHẦN I BẢN CHẤT CỦA LỊCH SỬ NGÔN NGỮ part i THE NATURE OF LANGUAGE HISTORY …kaµ levgein ejdÇdou perµ tΩn ÔEllhnikΩn a¶ bouvloito parrhsiazovmenon. oJ de; QemistoklhÍ ajpekrÇnato, to;n lovgon ejoikevnai touÅ ajnqr∫pou to∂Í poikÇloiÍ str∫masin: wJÍ ga;r ejke∂na kaµ touÅton ejkteinonovmenon me;n ejpideiknuvnai ta; e≥dh, sustellovmenon de; kruvptein kaµ diafqeÇrein: o§qen aujtåÅ crovnou de∂n. ejpeµ d’ hJsqevntoÍ touÅ basilevwÍ t¬Å e√kasÇç kaµ lambavnein keleuvsantoÍ, ejniauto;n a√thsavmenoÍ kaµ th;n PersÇda glΩttan ajpocr∫ntwÍ ejkmaqøn ejnetuvgcane basile∂ di’ aujtouÅ… [King Xerxes] gave Themistocles leave to speak his mind freely on Greek affairs. Themistocles replied that the speech of man was like rich carpets, the patterns of which can only be shown by spreading them out; when the carpets are folded up, the patterns are obscured and lost; and therefore he asked for time. The king was pleased with the simile, and told him to take his time; and so he asked for a year. Then, having learnt the Persian language sufficiently, he spoke with the king on his own… Plutarch, Themistocles, 29.5 + [Vua Xerxes] đã cho phép Themistocles thoải mái nói lên suy nghĩ của mình về các vấn đề của Hy Lạp. Themistocles đáp rằng lời nói của con người giống như những tấm thảm lộng lẫy, và các hoa văn của chúng chỉ có thể được trông rõ khi trải ra; khi gấp những tấm thảm ấy lại, các hoa văn bị che khuất và mất đi; và do đó ông đã xin thêm thời gian. Nhà vua hài lòng với sự ví von, và cho ông thời gian một năm. Sau đó, khi đã học đủ tiếng Ba Tư, ông đã tự mình nói chuyện với nhà vua… Plutarch, Themistocles, 29.5


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 24 CHƯƠNG 1 Tấm thảm của Themistocles LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI TỪ GÓC NHÌN NGÔN NGỮ Từ góc nhìn ngôn ngữ, dân số hiện tại của thế giới không phải là sáu tỉ người, mà chỉ là hơn sáu nghìn người. Có từ sáu đến bảy nghìn cộng đồng trên thế giới ngày nay được xác định bằng ngôn ngữ đầu tiên mà họ nói. Ảnh hưởng của các ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau. Chúng được xếp hạng theo quy mô: từ tiếng Hán Quan Thoại với khoảng 900 triệu người nói (riêng ngôn ngữ này đã chiếm 1/6 tổng số người trên thế giới), tiếp theo là tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha với khoảng 300 triệu người nói mỗi ngôn ngữ, sau đó mới đến một danh sách dài các cộng đồng nhỏ. Chẳng hạn, hơn một nửa số ngôn ngữ trên thế giới có số người nói ít hơn năm nghìn, và hơn một nghìn ngôn ngữ có dưới 12 người nói. Đây là quãng thời gian hiểm nghèo của các ngôn ngữ. Khi xem xét lịch sử loài người, cộng đồng ngôn ngữ là một đơn vị rất tự nhiên. Ngôn ngữ, về bản chất là phương tiện giao tiếp, phân chia loài người thành các nhóm: chỉ thông qua một ngôn ngữ chung, một nhóm người mới có thể hoạt động hòa hợp, và do đó có một lịch sử chung. Hơn nữa, ngôn ngữ mà một nhóm dùng chung chính xác là phương tiện mà qua đó những ký ức về lịch sử chung của họ có thể được sẻ chia. Ngôn ngữ vừa mang lại sự sống cho lịch sử chung của một cộng đồng, vừa giúp kể lại lịch sử đó.


25 T ấ m th ả m c ủ a T h e m i st o cl e s Và mọi ngôn ngữ đều sở hữu một nét đặc biệt khác, điều khiến nó trở thành phương tiện dễ sử dụng nhất để lưu giữ lịch sử của một nhóm người. Mọi ngôn ngữ đều được dạy cho lớp trẻ từ những người lớn tuổi hơn, sao cho mỗi ngôn ngữ sống là hiện thân của một truyền thống. Truyền thống đó nói chung là bất tử. Các ngôn ngữ thay đổi, khi chúng được nói từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhưng không gì từ quá trình truyền tải này có thể dẫn đến sự suy tàn hay tuyệt chủng. Giống như bản thân cuộc sống, mỗi thế hệ mới lại đều có thể nhận được món quà ngôn ngữ tươi mới của chính mình. Và do đó, các ngôn ngữ, không giống như bất kỳ con người nào nói chung, không bao giờ phải trở nên yếu ớt hoặc chết đi. Mọi ngôn ngữ đều có cơ hội trở thành bất tử, nhưng điều này không có nghĩa là chúng sẽ tồn tại mãi mãi. Các gen và các loài mà chúng mã hóa cũng bất tử; nhưng tuyệt chủng là một điều đáng ghi chép lại của cổ sinh vật học. Tương tự, tuổi thọ thực tế của các cộng đồng ngôn ngữ là vô cùng đa dạng. Biên niên sử ngôn ngữ đầy rẫy những ngôn ngữ đã chết, những truyền thống đã đi đến cáo chung, mà không còn người nói. Quan điểm ngôn ngữ về lịch sử có thể tương phản với cách tiếp cận lịch sử loài người bằng di truyền học, thứ hiện nay đang cải cách quan điểm về quá khứ xa xôi của chúng ta. Giống như tư cách thành viên trong một loài sinh vật và một dòng mẫu hệ, tư cách thành viên trong một cộng đồng ngôn ngữ cũng dựa trên một mối quan hệ rõ ràng. Một cá thể là thành viên của một loài nếu có thể có con với các thành viên khác của loài, và thuộc một dòng mẫu hệ nếu có mẹ thuộc dòng đó. Tương tự, ở cấp độ cơ bản nhất, bạn là thành viên của một cộng đồng ngôn ngữ nếu bạn có thể sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng đó. Ưu điểm của đơn vị được xác định theo góc nhìn ngôn ngữ này là nó nhất thiết phải xác định một cộng đồng quan trọng đối với chúng ta là loài người. Đơn vị loài rất được quan tâm, trong việc xác định mối quan hệ thời tiền sử của chúng ta với các nhóm có liên quan như


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 26 người Homo erectus và người Neanderthal, nhưng sau sự nổi lên của người Homo sapiens, tính hữu dụng của nó lại lép vế trước sự thật hiển nhiên rằng, về mặt loài, tất cả chúng ta là một. Đơn vị dòng dõi cũng có những điểm đúng, được đánh dấu rõ ràng vào các niên đại bằng DNA ti thể và nhiễm sắc thể Y, và có thể mang lại bằng chứng thú vị về nguồn gốc của các quần thể nếu một số dòng dõi hiện diện rõ ràng ngày nay trong quần thể lại không có mặt ở một trong các nhóm ứng viên được đưa ra để xét làm tổ tiên. Vì vậy, người ta đã suy ra rằng người Polynesia không thể đến từ Nam Mỹ, rằng phần lớn dân số châu Âu có nguồn gốc từ các vùng nông nghiệp Cận Đông và tổ tiên của hầu hết dân số của vùng Trung du Anh là từ Friesland1 . Nhưng việc biết rằng tổ tiên của rất nhiều người đã bặt vô âm tín không tạo ra hạn định cho một nhóm giống như những gì ngôn ngữ làm được. Hãy đối chiếu nó với một đơn vị như chủng tộc, thứ có ranh giới chỉ được xác định bằng một tập hợp các đặc tính được chọn, là các đặc điểm bên ngoài như màu da hay tỉ lệ sọ ở thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hay nhóm máu, nhóm mô và các chuỗi DNA trong thời gian gần đây hơn. Tương tự, có những vấn đề không khắc phục được trong việc xác định đơn vị tương đồng với nó về văn hóa, một quốc gia, thứ đòi hỏi một sự hiểu biết sâu, không thể đo đếm được về lịch sử chung, và có lẽ cả về ngôn ngữ chung2 . Do có quá nhiều đặc tính trong số đó bị xáo trộn vào các cá nhân khác nhau trong các thế hệ khác nhau, nên vẫn còn nhiều tranh cãi về việc coi bất kỳ tập hợp đặc điểm nào là trọng yếu ở một chủng tộc hay một quốc gia.i Nhưng việc sử dụng một ngôn ngữ nhất định là một hoạt động i. Vấn đề không phải là các đặc tính chung lúc nào cũng là huyễn ảnh (có thể giống như tiêu chuẩn của Đức Quốc xã về thế nào là người Do Thái), hay thậm chí không quan trọng về mặt khách quan đối với sự sống còn (ví dụ như việc sở hữu gen của bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm và thalassemia rõ ràng là dẫn đến bệnh di truyền, trong khi lại kháng được bệnh sốt rét). Điều đó có nguồn gốc từ logic thống kê: khi chọn ra một quần thể để nghiên cứu, một tập hợp con của các đặc tính lúc nào cũng phải được chọn từ một tập hợp lớn hơn. Nhưng các quần thể có chung một tập hợp con này có thể không dùng chung tập hợp con khác – và ai dám khẳng định trước khi nghiên cứu về các đặc tính xác định được nhóm có lịch sử thú vị? Trên thực tế, các đặc tính được lựa chọn có xu hướng


27 T ấ m th ả m c ủ a T h e m i st o cl e s thực tế không thể phủ nhận được ở khắp mọi nơi; trên hết, nó là đặc trưng của mọi nhóm người được biết đến và tồn tại lâu dài qua nhiều thế hệ. Nó cung cấp một chìa khóa phổ quát để phân chia lịch sử nhân loại thành các nhóm có ý nghĩa. Phải thừa nhận rằng cộng đồng ngôn ngữ là một đơn vị có tính lan tỏa cao hơn so với một loài hay một dòng tộc: một ngôn ngữ thay đổi nhanh hơn nhiều so với một chuỗi DNA, và người ta thậm chí không thể chắc chắn rằng nó sẽ luôn được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Một số trẻ em lớn lên nói một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của cha mẹ chúng. Như chúng ta sẽ thấy ngay sau đây, các cộng đồng ngôn ngữ không phải lúc nào cũng dễ đếm, hoặc dễ phân biệt một cách đáng tin cậy. Nhưng không thể phủ nhận rằng chúng là những đặc điểm thực sự xác định tình trạng con người. Cuốn sách này có nhiệm vụ lập biểu đồ một số câu chuyện lịch sử của các truyền thống ngôn ngữ có đông người nói nhất, những truyền thống đã tự lan rộng trong thời kỳ lịch sử trên các khu vực rộng lớn của thế giới có người sinh sống. Góc nhìn của chúng ta sẽ bị hạn chế trong lịch sử của các ngôn ngữ có bút chứng trực tiếp, có nghĩa là sẽ bỏ qua một số câu chuyện lịch sử cổ xưa nhất, chẳng hạn như sự lan truyền của tiếng Bantu qua miền Nam châu Phi, hoặc của các ngôn ngữ Polynesia khắp Thái Bình Dương; tuy nhiên, câu chuyện này hầu như luôn trải dài hàng thiên niên kỷ. Lịch sử nhân loại nhìn từ các ngôn ngữ là một góc nhìn dài hạn. XÃ HỘI TỰ NHIÊN Ngôn ngữ đã là một yếu tố thịnh hành của các cộng đồng loài người trong hàng trăm nghìn năm, và trong thời gian đó, cộng xác nhận định kiến của các nhà nghiên cứu, khiến cho (ví dụ) sự tương ứng giữa việc phân loại theo ngôn ngữ truyền thống và theo di truyền của các nhóm dân số trên thế giới giảm đi một cách đáng kinh ngạc. Tính độc đoán cần thiết trong việc thiết lập các mô hình thống kê này là một thiếu sót cơ bản về độ tin cậy của những nghiên cứu tiền sử học về sự khác nhau giữa các quần thể của Luca Cavalli-Sforza (chẳng hạn như công trình năm 2001) và nhiều người nối gót ông.


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 28 đồng ngôn ngữ điển hình đã thay đổi một cách tự nhiên. Có giả thuyết cho rằng trước khi phát hiện và mở rộng nông nghiệp, các cộng đồng người là những nhóm nhỏ, giống như các nhóm săn bắn hái lượm còn lại ngày nay. Tất cả các nhóm này đều có ngôn ngữ, có những truyền thuyết cổ và những câu chuyện mà người già kể cho con cháu nghe. Ở những nơi loài người sinh sống, mật độ dân số ít hơn rất nhiều so với ngày nay. Thông thường theo ngôn ngữ học lịch sử, các ngôn ngữ có cùng một họ (related languages) sẽ khác nhau khi sự tiếp xúc giữa các nhóm chấm dứt, vì vậy chúng ta cũng có thể đoán rằng trong thời kỳ đầu tiên này, mỗi cộng đồng tự cung tự cấp, có cộng động lên đến vài nghìn người, nhìn chung đều sẽ có ngôn ngữ riêng. Tất cả những điều này đã thay đổi trong các cộng đồng áp dụng lối sống định cư, dựa vào chăn nuôi và nông nghiệp. Bấy giờ, các cộng đồng trở nên lớn hơn và có tổ chức hơn. Trong các cộng đồng định cư, hàng xóm của một người trong một năm sẽ vẫn là hàng xóm của nhau trong nhiều năm, và thực ra là trong nhiều thế hệ sau này. Người ta có thể phải trả phí và thương lượng với các cơ quan cấp cao hơn. Lễ hội và chợ là nơi tập hợp mọi người từ nhiều nơi. Lực lượng dân quân được xây dựng để bảo vệ các cộng đồng địa phương và để thôn tính những cộng đồng khác được coi là yếu thế hơn. Những người sống cách xa nhau hơn bắt đầu có ý muốn giao tiếp. Trong cộng đồng bắt đầu phát triển tình trạng song ngữ, và các ngôn ngữ cũng sẽ phát triển về số lượng người nói; cũng rất có khả năng số lượng tuyệt đối của các ngôn ngữ đã giảm xuống do các cộng đồng nhỏ hơn giảm dần dân số trong chiến tranh, do hôn nhân, do tình trạng bỏ trốn hay đơn giản là do xu hướng sử dụng ngôn ngữ thực dụng của các dân tộc khác. Từ chính bản chất của tình hình luôn thay đổi, chúng ta hẳn đã có thể suy ra được những quá trình này. Nhưng trên thực tế, người ta đã có thể quan sát chúng. Chúng đã được thấy trong quá trình phát triển nhanh chóng của vài thế hệ gần nhất ở Papua New Guinea, khi lối sống tự cung tự cấp cũ trong các làng và thôn


29 T ấ m th ả m c ủ a T h e m i st o cl e s bản đã nhường chỗ cho một lối sống dân tộc rộng và phong phú hơn. Một đặc điểm của quá trình chuyển giao này là nhiều ngôn ngữ bản địa bị suy giảm và thay thế trong quá trình mở rộng của các ngôn ngữ lân cận, hoặc toàn cầu hơn là bởi các ngôn ngữ liên quan đến thương mại ở cấp quốc gia hay chính phủ: các biệt ngữ hữu ích (utility jargon) hoặc tiếng bồi (pidgin) nhanh chóng được chuyển đổi thành các ngôn ngữ lai (creole) có chung mục đích, được chuẩn hóa một cách không chính thức nhưng hiệu quả cho rất nhiều người nói. KHẢ NĂNG ĐỌC VIẾT VÀ BÌNH MINH CỦA LỊCH SỬ NGÔN NGỮ Ngay khi có những câu chuyện kể, có việc xét xử bằng các phán quyết pháp lý và các nghi lễ chữa lành, thì đã có những tư liệu ngôn ngữ được các thành viên uyên bác của cộng đồng nhớ và kể lại. Ký ức của lớp người già là một nguồn tài nguyên quan trọng, với đủ những bài hát, những sự kiện tiêu biểu, những kỹ năng, những sơ đồ, những công thức và những câu chuyện lịch sử. Nhưng luôn có một yếu tố chủ quan trong quá trình học tập qua truyền miệng, cũng như một giới hạn thực tế về lượng ký ức nhớ được – trừ khi có thể tổ chức được các nhóm hỗ trợ lưu trữ thông tin. Hơn nữa, theo góc nhìn về sự sai lệch niên đại của sử gia hiện đại, các bản ghi nhớ cổ được lưu giữ trong ký ức thường sẽ không đúng. Trong quá trình sử dụng, luôn có một áp lực phải cập nhật chúng từng chút một để đáp ứng nhu cầu của thế giới đương đại: nếu không, khi những thay đổi dần dần tích tụ trong các thể chế xã hội và cả trong ngôn ngữ, những ghi chép thực sự cổ đại sẽ có xu hướng trở nên vừa không phù hợp vừa không thể hiểu được. Ngay cả ngày nay, khi các truyền thống truyền khẩu có thể được tìm thấy nguyên vẹn, hiếm khi có thể thu được thông tin rõ ràng, không mập mờ về quá khứ từ lời chứng của những người nhớ lại. Gợi nhớ là hành vi tưởng tượng lại một cách có tổ chức, và quá khứ xa xôi có thể nằm ngoài hiểu biết của bất kỳ ai.


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 170 CHƯƠNG 4 Thành tựu nảy nở: tiếng Ai Cập và tiếng Hán Vì vị thần tối cao nhất là Ptah, người đã ban sự sống cho chư thần cùng các “ka” của họ thông qua trái tim này thông qua miệng lưỡi này, mà Horus được thành hình mà Thoth được hình thành giống như Ptah… (Horus (ḥōruw) được coi là vương quyền. Thoth (Djeḥowtij), vị thần của lý trí, cũng là thần bảo trợ cho những người chép chữ.) Sức nhìn của đôi mắt, i. Để tiện đọc trong thực tế, các từ tiếng Ai Cập được đưa ra theo bản tái tạo của Loprieno 1995 cho người Ai Cập Trung cổ sơ khai, bổ sung rằng các nguyên âm mà theo ông là không thể nhận diện được biểu diễn ở đây bằng ký tự °. R là âm r lưỡi gà (uvular) trong tiếng Pháp (hoặc tiếng Israel), còn j được phát âm như trong tiếng Đức, giống như y trong yetcủa tiếng Anh. ḥ là h phát âm sâu hơn, như khi thở lên một cặp kính vậy; và ḫ giống như ch trong “loch” hoặc “Bach”. ⁽ là ayn, một âm phổ biến từ ngữ tộc Semite, giống như âm thanh lúc hắng giọng. Tuy nhiên, cần nhớ rằng khi được viết bằng chữ tượng hình, các từ trong tiếng Ai Cập hoàn toàn không có nguyên âm.


171 T h à nh t ựu n ả y n ở: t i ế ng Ai Cậ p và t i ế ng Há n sức nghe của đôi tai, sức thở của cánh mũi – chúng báo tin đến trái tim, nó đưa ra mọi sự thấu hiểu Giống như miệng lưỡi, nó nói điều đang ở trong tim. Như vậy tất cả các thần đều được sinh ra và Bộ Chín Vĩ Đại của ngài (chín vị thần) đã hoàn chỉnh. Vì Lo! Đã xuất hiện mọi thế giới của Chúa Trời thông qua những gì mà trái tim nghĩ ra và miệng lưỡi ra lệnh. Memphite Theology (“phiến đá Shabaka”), các dòng 53, 56 (tiếng Ai Cập, giữa thiên niên kỷ thứ ba TCN, được sao chép năm 710 TCN)1 zĭlù yuē: wèi jūn dài zĭ ér wéi zhèng, zĭ jiāng xī xiān? zĭ yuē: bì yě zhèng míng hū! zĭlù yuē: yǒu shì zāi? zǐ zhī yū yě! xī qí zhèng?


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 172 zĭ yuē: yězāi, yóu yě! jūn zǐ yú qí suǒ bù zhī, gài qùe rú yě. míng bù zhèng, zé yán bù xùn; yán bù xùn, zé shì bù chéng; shì bù chéng, zé lǐ lè bù xīng; lǐ lè bù xīng, zé xíng fá bù zhōng; xíng fá bù zhōng, zé mín wú suǒ cuò shǒu zú. gù jūn zǐ míng zhī bì kě yán yě, yán zhī bì kě xíng yě. jūn zǐ y ú qí yán, wú suǒgǒu ér yǐ yǐ!i Tử Lộ nói: “Nếu vua nước Vệ đang chờ thầy giúp trông nom chính sự, thầy ưu tiên làm gì trước?” “Tất phải sửa lại những cái danh!”, Sư phụ trả lời. “Sao thầy nói xa xôi thế?” Tử Lộ nói: “Sao lại cần sửa cái danh ạ?” “Con thật thô thiển làm sao!” Khổng Tử đáp: “Quân tử với điều không hiểu thì luôn dè dặt. Nếu danh không chính thì ngôn không thuận. Khi ngôn không thuận, thì việc không thành. Việc không thành thì trật tự và hài hòa không thể kiến lập. Trật tự, hài hòa không kiến lập thì công đạo tùy tiện. Và công đạo tuỳ tiện thì dân không biết đâu là phải. Nên quân tử nói được thì phải lý giải được, lý giải thì phải thực làm được; vì phàm là quân tử, không thể nói lời nào xằng bậy.” Khổng Tử, Luận Ngữii, xiii: 3 (tiếng Hán, đầu thế kỷ thứ năm TCN)2 i. Phần bính âm này thể hiện cách phát âm tiếng Quan Thoại hiện đại của văn bản từ thế kỷ thứ năm TCN. Như vậy, nó thể hiện các từ và cấu trúc câu, nhưng không phải là các âm mà Khổng Tử đã sử dụng. ii. Trong cuốn sách này, tiếng Hán được phiên âm hệ thống bính âm được chính phủ Trung Quốc chính thức đề xuất từ năm 1958. Trong đó, các dấu như @, ?, ῡ, ῠ biểu thị thanh điệu chứ không phải các nguyên âm khác nhau. Với phụ âm, c là ts trong tiếng Anh, j là j, q là ch, và x là sh trong tiếng Anh. Các bạn cũng sẽ thấy zh, ch and sh: những âm này được phiên âm tương tự như j, q và x, nhưng phải uốn lưỡi như thể có một chữ r ngay sau đó vậy. Trên thực tế, hầu hết người Trung Quốc không ở vùng đông bắc đều không thể phân biệt được điều này. Hệ thống bính âm có ưu điểm là cô đọng, chính xác và nhất quán (không có dấu nháy đơn gây khó chịu như trong các hệ thống phiên âm của phương Tây cũ hơn, của Wade-Giles và Yale) nhưng chỉ phù hợp để biểu diễn cách phát âm hiện đại và có thể gây hiểu lầm khi áp dụng cho các từ và tên gọi rất cũ.


173 T h à nh t ựu n ả y n ở: t i ế ng Ai Cậ p và t i ế ng Há n Hai ngôn ngữ cổ đại, cách xa nhau cả về địa lý và thời đại, các thuộc tính của chúng cũng không có gì tương đồng để mà so sánh, thậm chí chúng còn loại trừ nhau, nhưng lại có quá trình phát triển giống nhau một cách kỳ lạ. Tiếng Ai Cập và tiếng Hán là phương tiện giao tiếp của hai truyền thống văn hóa có uy tín to lớn. Vai trò ngôn ngữ phổ thông của mỗi thứ tiếng này đều là không thể thay thế tại quê nhà. Vào buổi bình minh theo những gì ghi trong sử sách, hai ngôn ngữ này đã có chỗ đứng vững chắc trên khắp khu vực trung tâm của những nơi mà chúng được nói. Mỗi ngôn ngữ đều thành công trong việc duy trì vị thế thống trị duy nhất và cơ bản là không thay đổi trong suốt hơn 3.000 năm – hơn 120 thế hệ, một khoảng thời gian đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, đối với cả hai ngôn ngữ, mặc dù nền văn hóa tương ứng rất nổi tiếng và có uy thế trước các nước láng giềng – những đối tượng thường bị Ai Cập và Trung Quốc thống trị về chính trị, nhưng các ngôn ngữ này chưa bao giờ được đảm nhận vai trò lingua franca bên ngoài lãnh thổ được coi là quê nhà của chúng. Chúng ta có một mối bận tâm khác là chữ viết của các ngôn ngữ này. Mỗi ngôn ngữ bắt nguồn từ một hệ thống chữ viết độc đáo riêng, dựa trên các ký tự tượng hình theo một phong cách cụ thể; và mỗi ngôn ngữ cũng sớm có được một hình thức không thay đổi. Chữ viết của mỗi ngôn ngữ sau đó được dân tộc khác tiếp thu và đơn giản hóa để tạo cơ sở cho hệ thống chữ viết ký âm: chữ tượng hình Ai Cập là điểm khởi phát cho bảng chữ cái của người Phoenicia, và người Nhật đã dựng được cho mình hệ thống chữ biểu âm kana (kana syllabary) từ chữ Hán. Nhưng với cả hai ngôn ngữ này, nền văn hóa ngôn ngữ nguyên thủy đã coi nhẹ sự đổi mới và về cơ bản đã không thay đổi hệ thống cổ xưa. Hai ngôn ngữ này có sự nghiệp song song. Với chúng ta, mối quan tâm chính của chúng nằm ở việc xem xét cách một ngôn ngữ có thể đạt được trạng thái ổn, một loại trạng thái cân bằng bên trong, nơi mà dường như nó có thể hóa giải được hết mọi sự nhiễu loạn.


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 174 Trạng thái ổn định này đặc biệt thú vị trong trường hợp của Ai Cập và Trung Quốc, vì các ngôn ngữ không chỉ tồn tại trong sự cô lập, mà còn phải đương đầu với các cuộc xâm lăng của con người trong phần lớn lịch sử, và chiếm không gian đủ lớn để gây khó khăn cho một chính phủ đơn nhất. Một khía cạnh khác của tính duy nhất khó hiểu này, đặc biệt là ở tiếng Hán, là tính mạch lạc kỳ lạ của bản thân ngôn ngữ. Tiếng Hán chắc chắn có các phương ngữ, và chúng thường đủ khác nhau để được coi là các ngôn ngữ riêng biệt. Nhưng sự thật nổi tiếng này không thú vị bằng một sự thật ít được chú ý: hơn 70% người nói tiếng Hán chỉ nói một thứ tiếng duy nhất, được gọi là tiếng Quan Thoại hoặc Pǔtōnghuài , và ngôn ngữ chính thức này của nhà nước Trung Quốc được sử dụng trên hơn 75% diện tích của đất nước. Nó có một số giọng địa phương nhưng về cơ bản không có biến thể nội bộ. Vì cả dân số và diện tích bề mặt của Trung Quốc đều lớn nên mức độ đồng đều đạt được của ngôn ngữ này là vô song. Chúng ta cần xét xem điều đó đã xảy ra như thế nào. Cả hai thứ tiếng cũng có một số tác động trực tiếp đến thế giới hiện đại. Tiếng Ai Cập rốt cuộc đã khuất phục trước các cuộc xâm lăng thường xuyên của các nước láng giềng như Assyria, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã và Ả-rập, và giờ chỉ sống sót, nếu thực vậy, dưới danh xưng tiếng Copt trong phụng vụ của một tôn giáo ngoại lai là Ki-tô giáo. Ở đây có bằng chứng về những gì cần có để xóa bỏ một truyền thống có vẻ như là vĩnh cửu ở vùng đất khai sinh ra nó. Vậy sự bất tử được giải trừ như thế nào? i. Từ Mandarin (Quan Thoại) hoàn toàn không phải là tiếng Hán, mà là một biến dạng của từ māntrin (người khuyên bảo) trong tiếng Phạn, với một số ảnh hưởng từ động từ mandar (tinh thông) của tiếng Bồ Đào Nha. Pǔtōnghuà có nghĩa là (ngôn ngữ chung), một thuật ngữ có cảm giác bao hàm, đã thay thế phần lớn các thuật ngữ cũ hơn như guānhuà (ngôn ngữ chính thức) (từ tương đương nhất với Mandarin trong tiếng Hán) hoặc từ guòyǔ (ngôn ngữ quốc gia) cũng được dùng để ám chỉ như vậy. Hànyǔ (Hán ngữ), lại là một thuật ngữ khác được sử dụng.


175 T h à nh t ựu n ả y n ở: t i ế ng Ai Cậ p và t i ế ng Há n Ngược lại, bất chấp tất cả những đảo lộn chính trị và những khắc nghiệt mà người dân phải gánh chịu dưới bàn tay quân ngoại bang tàn nhẫn trong hai thế kỷ qua, chưa bao giờ tiếng Hán lại mạnh mẽ như ngày nay. Người nói ngôn ngữ này chiếm 1/6 dân số thế giới và có số lượng người bản ngữ gấp ba lần tiếng Anh. Tuy nhiên, hơn 99% người nói sống ở Trung Quốc, vì vậy tiếng Hán không thể được coi là một ngôn ngữ quốc tế trừ khi Trung Quốc được coi là thế giới. Người nói thường gọi tiếng Hán là zhōng guǒ huà, “ngôn từ của vương quốc trung tâm”: trong đó điều tốt là chủ nghĩa dân tộc của Trung Quốc không hề suy thoái. Vẫn còn thời gian để xem xét xem liệu các lực lượng đã giúp đế chế tiếng Hán kiên trì bám trụ tại quê nhà có còn tồn tại được trong thế giới hiện đại hay không. SỰ NGHIỆP SONG HÀNH Sự tương đồng đáng chú ý trong quá trình phát triển của tiếng Ai Cập và tiếng Hán trước tiên có thể được biểu diễn dưới dạng hai biểu đồ lịch đại. Các cuộc xâm nhập và ảnh hưởng văn hóa nước ngoài được đánh dấu bằng kiểu chữ in đậm. Cả lịch sử Ai Cập và Trung Quốc đều được tạo thành từ những giai đoạn kéo dài có chính quyền thống nhất ổn định, xen kẽ bằng những khoảng thời gian có sự bất ổn trong dân chúng, hay ít ra là sự mất đoàn kết, khi có sự cạnh tranh của các triều đại ở các vùng khác nhau trên đất nước. Ai Cập có ba thời kỳ tự trị ổn định là thời kỳ Cổ vương quốc, Trung vương quốc và Tân vương quốc, theo sau là một thời kỳ muộn hơn – đó là khi sự cai trị của ngoại bang là chuẩn mực chứ không phải là ngoại lệ. Trung Quốc cũng có ba thời kỳ thống trị lâu dài của người bản địa là thời HạThương-Chu, thời Tần-Hán, và thời Tùy-Đường-Tống, sau đó hứng chịu một loạt các cuộc xâm lược một phần hoặc toàn bộ của ngoại bang.


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 176BẢNG 1 TRÌNH TỰ THỜI GIAN SONG HÀNH CỦA TIẾNG AI CẬP VÀ TIẾNG TRUNG Ai Cập Chính trị Các sự kiện ngôn ngữ Trung Quốc Chính trị Sự kiện ngôn ngữ 5000 Những cuộc định cư đầu tiên ? Những cuộc định cư đầu tiên 3150 Chữ tượng hình đầu tiên, trên các bức vẽ trên tường 2800? Các ký tự đầu tiên, trên các vò rượu vang? 3000 Thời kỳ cổ đại (3 thế kỷ) 2100 Nhà Hạ (5 thế kỷ) 2700 Cổ vương quốc (6 thế kỷ) 1766 Nhà Thương (7 thế kỷ) Khoảng năm 1300 Các ký tự trên các bộ xương trong những ngôi đền 1027 Nhà Chu (3 thế kỷ) 2100 Tình trạng chia rẽ (0,5 thế kỷ) 721 Tình trạng chia rẽ (5 thế kỷ) 2050 Trung vương quốc (3 thế kỷ) 221 Thời Tần-Hán (4,5 thế kỷ) 210 TCN Sự chuẩn hóa các ký tự 65 CN Lần đầu tiếp nhận Phật giáo 1750 Tình trạng chia rẽ (2 thế kỷ) 220 Tình trạng chia rẽ (3,5 thế kỷ) khoảng năm 1639 Các vua Hiksõs ở Châu thổ sông Nile (1 thế kỷ) 311 Các cuộc xâm lược của người Hung Nô, Tiên Ti vào miền bắc 386 Người Thác Bạt (nhà Vệ) xâm lược miền bắc 401 Kumarajiva biên dịch tư liệu Phật giáo ở Trường An 511 Lương Vũ Đế mời các tông đồ Phật giáo tới Nam Kinh 1550 Tân vương quốc (5 thế kỷ) 589 Nhà Tuỳ, Nhà Đường (3,3 thế kỷ) 1180–74 Người Libya (và các dân tộc Biển) bị đẩy lui 610 Sông Đại Vân Hà nối Trường An với Hàng Châu 1050 Tình trạng chia rẽ (3 thế kỷ) 635 Tông đồ theo Nestorius được chào đón ở Trường An


177 T h à nh t ựu n ả y n ở: t i ế ng Ai Cậ p và t i ế ng Há n Ai Cập Chính trị Các sự kiện ngôn ngữ Trung Quốc Chính trị Sự kiện ngôn ngữ 945 Triều đại Libya (2 thế kỷ) 645 Chào đón Đường Huyền Trang trở về Trường An; Phật giáo được thiết lập trong thời nhà Đường 750 Triều đại Kushite (1 thế kỷ) Sự xâm lược của Kushite 845 Đường Vũ Tông giải thể các tu viện của Phật giáo và Ki-tô giáo Nestorius 671–64 Sự xâm lược của Assyria 907 Tình trạng bị chia rẽ (0,5 thế kỷ) 664 Triều đại Saite (1,4 thế kỷ) 960 Nhà Tống (3,2 thế kỷ) 525 Sự thống trị của Ba Tư (2 thế kỷ, được xen kẽ bằng việc cai trị của Ai Cập) Sự xâm lược của Ba Tư 916 Người Khiết Đan (nhà Liêu) xâm lược phương bắc 332 Triều đại Hy Lạp (3 thế kỷ) Sự xâm lược của Hy Lạp 1115 Người Nữ Chân xâm lược phương bắc 30 TCN Sự cai trị của La Mã/ Byzantium (7 thế kỷ) những năm 1200 Bệnh dịch (?) làm giảm dân số ở Tứ Xuyên 300 CN Sự phổ biến của Ki-tô giáo (3 thế kỷ) 1211 Sự xâm lược của Mông Cổ ở phương Bắc 394 Việc sử dụng chữ tượng hình cuối cùng 1279 Mông cổ chinh phạt tới phía Nam 641 Sự cai trị của Ả-rập (6 thế kỷ) Sự xâm lược của Ả-rập 1271 Nhà Nguyên (1 thế kỷ) Mông Cổ chinh phạt Vân Nam 1260 Các triều đại Mameluke (2,6 thế kỷ) 1368 Nhà Minh (3 thế kỷ) 1520 Sự cai trị của Ottoman (3,5 thế kỷ) 1644 Sự xâm lược của người Mãn Châu khoảng năm1550 Tiếng Copt hoàn toàn biến mất; chỉ còn tồn tại trong phụng vụ Ki-tô giáo 1644 Nhà Thanh (2,5 thế kỷ) Phục hồi dân số ở Tứ Xuyên 1911 Tình trạng bị chia rẽ 1949 Cộng Hòa Nhân Dân


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 178 Cả hai nền văn minh ban đầu đều được hình thành dọc theo thung lũng của chỉ một con sông, sông Nilei (Ai Cập) và sông Hoàng Hà (Trung Quốc), mặc dù sau đó Trung Quốc đã mở rộng để chiếm lấy vùng thung lũng ven một con sông lớn khác về phía nam là Trường Giang (hay Dương Tử Giang).ii Và cả hai nền văn minh đã chứng minh rằng, dù cho họ không có khả năng bảo vệ biên giới của mình mãi mãi, nhưng về lâu dài, những kẻ xâm lược thành công vẫn bị đồng hóa. Điểm tương đồng ngôn ngữ của việc này là không có kẻ xâm lược ngoại lai nào áp đặt ngôn ngữ của họ lên người dân, cũng không thực sự (cho đến khi người Ba Tư và sau đó là người Hy Lạp chiếm Ai Cập) cố gắng duy trì ngôn ngữ của họ trong hơn một thế hệ sau khi làm chủ đất nước. Đây là hai câu chuyện về sự phát triển vững chắc và quả cảm gìn giữ chứ không phải là sự lan truyền ồ ạt. Chương này đầu tiên sẽ phác họa lịch sử của mỗi ngôn ngữ, đặc biệt lưu ý những cuộc gặp gỡ với các ngôn ngữ của ngoại bang xâm lược: những thứ tiếng này thường đến ở, nhưng không có ý định thay thế chủ nhà. Khi đã có những sự kiện này, chúng ta có thể xét xem bí mật của sự ổn định ngôn ngữ ấy là gì. i.* Nguồn gốc của cái tên này dường như là một nỗ lực ban đầu của người Hy Lạp nhằm biểu thị từ n-irw-aR (những con sông-vĩ đại) trong tiếng Ai Cập sau này, ám chỉ việc sông Nile có rất nhiều phụ lưu trong vùng Châu thổ sông Nile. Việc này có liên quan đến từ jatruw (con sông), là tên của nó trong tiếng Ai Cập kinh điển (Luft 1992). ii.Tên ban đầu chỉ là Kiang (Giang), một từ thuộc ngữ hệ Nam Á, có liên quan đến các từ chỉ sông trong tiếng Việt là sông (từng được phát âm là “krong”) và trong tiếng Mông là kruŋ, cho thấy loại ngôn ngữ này được sử dụng ở đây trước khi tiếng Hán du nhập từ phương bắc tới (Norman 1988: 18).


179 T h à nh t ựu n ả y n ở: t i ế ng Ai Cậ p và t i ế ng Há n AI CẬP VÀ CÁC VÙNG ĐẤT LÃNH THỔ LÂN CẬN Tên các tộc người và đất nước Các thác nước trên sông Nile Giới hạn ước tính quyền kiểm soát của Ai Cập Ốc đảo Địa Trung Hải Biển Đỏ Aswan (và Philae) Sông Nile Các khu mỏ vàng & đồng


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 180 NGÔN NGỮ DỌC SÔNG NILE Hãy là một nghệ nhân trong lời ăn tiếng nói, ngươi sẽ có thể trở nên mạnh mẽ, miệng lưỡi là kiếm trong tay người, và lời nói có giá trị hơn mọi cuộc chiến ... Chỉ dẫn dành cho Vua Merikare, dòng 32 (Ai Cập, giữa thế kỷ 20 TCN).3 Tiếng Ai Cập có cội nguồn không xa, ngay trong ngữ hệ Phi-Á. Đây là ngữ hệ có các ngôn ngữ hậu duệ được sử dụng khắp Bắc Phi và các khu vực lân cận của vùng Lưỡi liềm phì nhiêu (từ Palestine vòng qua Iraq) và Ả-rập. Tiếng Ai Cập không có họ hàng gần gũi trong ngữ hệ lớn này, nhưng nguồn gốc ngữ hệ giải thích một số thuộc tính đặc trưng của nó, những chi tiết nhỏ như việc các danh từ giống cái kết thúc bằng -t.i Sự phát triển hùng cường Khảo cổ học cho thấy nhà nước Ai Cập ban đầu được thành lập vào cuối thiên niên kỷ thứ tư TCN trong khu vực bao quanh sông Nile hùng tráng, khu vực sau đó bị thành phố Wast (người Hy Lạp gọi là Thebes) thống trị, từ đó gọi là miền nam hoặc vùng “Thượng” Ai Cập. Rõ ràng lúc đó người ta đã nói tiếng Ai Cập, vì có những chú thích bằng chữ tượng hình dễ đọc trên các bảng tên và bình lọ trong nghĩa trang hoàng gia ở khu vực này, tại Abydos, từ đầu thiên niên kỷ thứ ba. Trên thực tế, các di chỉ từ thời tiền sử của nền văn hóa Nagada được phát hiện dọc theo toàn bộ chiều dài sông Nile từ Aswan đến khu vực Châu thổ và bao gồm cả Faiyum, cho thấy rằng toàn bộ diện tích Ai Cập cổ đại đã được cư ngụ. Vì sa mạc xung quanh không thể ở được, nên vương quốc Ai Cập đã phát triển dọc theo sông Nile. Theo truyền thống, lịch sử Ai Cập bắt đầu khi Vua i. Hãy so sánh san, “anh trai” với sānat, “chị gái”. Hầu hết các danh từ trừu tượng đều có hậu tố giống cái như vậy, chẳng hạn như maR⁽at (tính ngay thẳng) (luôn được quan niệm như một nữ thần).


631 CHƯƠNG 12 Mô hình thu nhỏ hay chiếc gương biến dạng? Tiến trình phát triển của tiếng Anh Chúng ta sẽ không từ bỏ việc khám phá Và kết thúc của tất cả khám phá của chúng ta Sẽ đến nơi chúng ta bắt đầu Và biết đến nơi đó lần đầu tiên T. S. Eliot, “Little Gidding”1 Quá trình phát triển của ngôn ngữ Anh, giống như hầu hết các ngôn ngữ lớn trên thế giới, thường được kể lại cho chính những người nói ngôn ngữ đó và hiếm khi nào thiếu đi niềm hân hoan và cảm giác thỏa mãn. Sự tán dương của bất kỳ cộng đồng ngôn ngữ nào là điều khó có thể cưỡng lại đối với một người yêu tiếng nói của họ, và rất ít người có quan niệm đúng đắn về các thời đại khác ngoại trừ thời đại của chính họ. Nhưng ngay cả từ góc độ của cuốn sách này, ta vẫn có cảm giác rằng câu chuyện về tiếng Anh xứng đáng có một vị trí đặc biệt trong số các ngôn ngữ có tầm cỡ thế giới. Quả thật, tiếng Anh là ngôn ngữ có sự lan truyền rộng rãi nhất vào thời điểm tôi viết những dòng này. Và trong thời đại này, thế giới đã trở thành một cộng đồng duy nhất được liên kết bởi giao tiếp tức thì, làm cho tiếng Anh trở nên thịnh hành, phổ biến bậc nhất và khiến chúng ta tự hỏi rằng liệu có


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 632 còn nơi nào cho một ngôn ngữ kế thừa được khởi nguồn hay không. Nhưng thực tế dành cho chúng ta là tiếng Anh là một ngôn ngữ có lịch sử rất đa dạng. Lịch sử này ngắn: Tiếng Anh như một ngôn ngữ có thể nhận dạng được mới tồn tại không quá 1,5 thiên niên kỷ, và những chất liệu trong nó đã thay đổi hoàn toàn trong khoảng nửa vòng đời ngắn ngủi này. Nhưng gói gọn trong khoảng thời gian ngắn này là nhiều cuộc khủng hoảng và kết quả không thể đoán trước, đến mức nó gần như có thể được xem như một bản tóm tắt cá nhân về cuộc phiêu lưu của những ngôn ngữ tiền thân, suốt chặng đường trở lại Memphis, Patna, Trường An và Babylon. Một lợi ích của việc xem xét tiếng Anh dựa trên rất nhiều quá trình song song là khám phá được tính khác biệt quan trọng của nhiều sự phát triển mà thường được coi là hiển nhiên. Chúng ta nhận thấy các tộc người German là Anglo-Saxon và Frisia đã thành công trong việc gây dựng ngôn ngữ của họ, một kỳ công nổi bật khi so sánh với thành tích của những kẻ xâm lược German khác, trên hết là các tộc người cùng thời, người Frank và Goth định cư ở các vùng khác của Đế chế La Mã phía tây. Hơn 1.000 năm sau, những người Anh đến định cư sớm ở Bắc Mỹ đã tự phát thiết lập được một cộng đồng nói tiếng Anh đông đúc, trong khi đó Vua nước Pháp đang phải gửi các fille à marier đến nhằm ngăn những người định cư trẻ tuổi trở thành người bản xứ và nuôi dưỡng các gia đình không sử dụng tiếng Pháp. Và một thế kỷ sau đó, các hoạt động của Công ty Đông Ấn Anh đã thúc đẩy việc lan tỏa ngôn ngữ riêng của họ, tiếng Anh, trong khi cùng thời kỳ đó, Công ty Đông Ấn Hà Lan chỉ thành công trong việc truyền bá một ngôn ngữ chung đã có từ trước, tiếng Mã Lai. Đây chỉ là ba trong số các trường hợp có một kiểu hoàn cảnh nào đó góp phần vào sự phát triển của tiếng Anh, nhưng lại không có tác động tương tự đối với các ngôn ngữ khác. Sự lan tỏa mang tính lịch sử của một ngôn ngữ là một điều khó giải thích đầy đủ; nhưng ít nhất thì việc


633 Mô h ì nh th u nh ỏ hay ch i ế c g ư ơ ng b i ế n dạ ng ? . . . ghi nhớ nhiều loại ngôn ngữ có thể giúp chúng ta tránh được việc hiểu sự thật một cách nửa vời. Lịch sử của tiếng Anh, ít nhất là từ đầu thế kỷ 21 trở về trước, chia thành hai giai đoạn rất bất cân bằng: giai đoạn hình thành (formation), từ thế kỷ thứ năm đến cuối thế kỷ 16, giai đoạn mà ngôn ngữ được hình thành và phát triển ở đảo Anh; và giai đoạn truyền bá (propagation), từ thế kỷ 17 đến nay, giai đoạn mà tiếng Anh “lên tàu” và lan tỏa đến mọi lục địa trên thế giới. Chúng ta đã xem xét khởi đầu của giai đoạn hình thành, khi mà, là một phần của cuộc hỗn loạn vào cuối Đế chế La Mã, nó đã hợp lại từ một nhóm phương ngữ German (xem Chương 7). Bất chấp sự mất đoàn kết về chính trị và mối đe dọa về quân sự, đến thế kỷ 9 nó đã phát triển thành một ngôn ngữ tiêu chuẩn. Tuy nhiên, hai thế kỷ sau, những kẻ đi xâm chiếm nói tiếng Pháp đã hạn chế cách diễn đạt bằng văn bản của nó. Bằng cách nào đó, trong suốt hai thế kỷ tiếp theo, nó đã thành công trong việc đồng hóa cộng đồng ngôn ngữ đang thống trị nó, để tái xuất hiện trở thành ngôn ngữ quan trọng nhất của vương quốc này. Trong cùng thời gian, nó cũng phát triển về mặt địa lý, thiết lập được các đầu cầu ở mọi vương quốc trong Quần đảo Anh, giữa người xứ Wales, người Scotland và người Ireland. Có một thời kỳ hỗn loạn nữa, vào thế kỷ 14 đến thế kỷ 16, khi dân số giảm đi một nửa vì bệnh dịch, sự kế vị của hoàng gia liên tục bị gián đoạn do chiến tranh, Giáo hội bị lung lay vì sự phản đối và ly giáo, còn tiền tệ bị tác động bởi lạm phát. Trong suốt thời gian này, tiếng Anh đã được nói và viết, nhưng không có tiêu chuẩn quốc gia nào thống nhất các phương ngữ khác nhau. Sự ổn định về ngôn ngữ tồn tại đồng thời với sự ổn định về chính trị, cả hai đều tập trung vào London và số lượng lớn những người đọc Kinh Thánh. Trong thời kỳ truyền bá, khi những người nói tiếng Anh bắt đầu đi lại và định cư ở nước ngoài, tính khí của người Anh, và do đó


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 634 cũng kéo theo cả ngôn ngữ, trở nên thực dụng hơn nhiều, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng; thế giới được mở ra cho tiếng Anh, nhưng trên hết là cho công việc kinh doanh và buôn bán của họ, cùng với sự hậu thuẫn, quan tâm của chính phủ và Giáo hội. Ý tưởng “Tiếng Anh – Người bạn của Doanh nhân” này có thể là điều thực sự đặc biệt về sự phổ biến của ngôn ngữ này dù nó được củng cố bởi việc khoa học và công nghệ cũng sử dụng tiếng Anh. Chắc chắn, tính chất thương mại và khoa học này làm cho nó khác biệt với các đối thủ lớn như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp và Tiếng Nga. Nó thậm chí còn trở nên có ưu thế hơn nữa trong lịch sử gần đây của thế kỷ 20, khi một thuộc địa cũ nói tiếng Anh duy nhất đã trở thành cường quốc lớn nhất thế giới, bản thân năng lực sử dụng ngôn ngữ này cũng trở thành một ngành nghề, và sự phổ biến của ngôn ngữ này đã đã tăng tốc vượt ra ngoài tầm ảnh hưởng của các quốc gia bản ngữ. Người ta ước tính rằng số người sử dụng tiếng Anh vì sự thuận tiện như là một lingua franca hiện nay so với tổng dân số của tất cả những người nói tiếng Anh bản ngữ thì có lẽ gấp ba lần. Uy tín ngôn ngữ vì thế cũng tăng cao. Quyền tự trị hiển nhiên mà tiếng Anh có được này có nghĩa là, không giống như hầu hết các ngôn ngữ được đề cập trong cuốn sách này, vẫn chưa thể xác định được sự khởi đầu của xu hướng đi xuống trong việc sử dụng ngôn ngữ này, ngay cả khi các lực lượng chính trị và kinh tế dùng tiếng Anh ở đó phần lớn đều đã đạt đến đỉnh cao nhất. Nhưng chúng ta sẽ không nản lòng. Lịch sử tồn tại của nhiều ngôn ngữ mà chúng ta xem xét đã cho thấy nhiều yếu tố khác nhau có thể chấm dứt thời kỳ thống trị của một ngôn ngữ quốc tế. Sẽ thật hữu ích khi kết thúc phần giải thích về Tiếng Anh bằng việc dùng những lịch sử đó để dự đoán những hướng đi xuống khác nhau từ đỉnh cao hiện tại.


635 Mô h ì nh th u nh ỏ hay ch i ế c g ư ơ ng b i ế n dạ ng ? . . . THỬ SỨC BỀN BỈ: CHIA TAY TIẾNG PHÁP NORMAN Khi trận chiến diễn ra vào đêm hôm trước, tôi đã nghe nói người Anh rất hạnh phúc với nhiều tiếng cười và niềm vui. Họ đã ăn và uống suốt đêm, và đêm đó họ không hề đi ngủ. Bạn đáng ra nên thấy họ tiếp tục, nhảy, nhảy và hát. ‘Beo Bliðe’, họ la lên: ‘wes hœl và ‘lœt hit cuman’ và ‘drenċa hœl’ ‘Drinc hinderweard’ và ‘drinc to me’ ‘Drinc healf’ và ‘drinc tome’ i . Đây là cách người Anh cư xử; cũng như người Norman và người Pháp dành cả đêm để cầu nguyện và trong cảm giác ăn năn; họ xưng tội với các vị linh mục còn những người không ở gần linh mục thì xưng tội với người hàng xóm của họ… Các linh mục trong các nhà thờ mới được thành lập ở khắp nơi đã túc trực suốt đêm đó gọi tên Chúa và cầu nguyện ăn chay và hối cải và nói những lời cầu nguyện của riêng họ, họ tụng các thánh vịnh và sách Misereres, kinh cầu nguyện và Kyrie Eleisons, họ xin Chúa rủ lòng thương hại i. Tiếng Anh cổ, lần lượt là: “Hạnh phúc nhé”; “Chúc sức khỏe”; “Chuyền tay nào” (tức là chuyền cốc vòng quanh); “Uống say nào”; “Uống từ từ”; “Uống với tôi nhé”; “Uống một nửa đi”; “Cạn chén”. Đây là tất cả những lời hào sảng về việc nâng cốc và uống rượu của người Anh được nghe khi người Anh uống với nhau vào đêm trước trận chiến quan trọng ở Hastings. Geoffrey ở Monmouth, viết khoảng năm 1140, nói rằng “... cho đến ngày nay truyền thống này vẫn tồn tại ở Anh rằng trong một bữa tiệc, người uống rượu với người khác nói “waesseil”, và người nhận cốc sau người đó sẽ trả lời “drincheil” (HistoriaRegum Britannie §100, ms 568, f. 46v.).


CÁC ĐẾ CHẾ NGÔN TỪ 636 họ đọc Kinh lạy Cha và những đám đông khác thì đọc Spiritus Domini có những đám người khác lại đọc Salus populi và cũng có nhiều người tụng Salve sancta parens,i những bài kinh phù hợp với thời điểm đó. Nó rất phù hợp cho ngày hôm đó Và hôm đó là thứ bảy. Wace, Roman de Rou, i III, ll. 7323-7342; 7365-7380 Ở một nghĩa nào đó, cuộc chinh phục nước Anh của người Norman vào giữa thế kỷ 11 là một việc lỗi thời, là cuộc chinh phục cuối cùng trong các cuộc xâm lược của người German nhằm làm rung chuyển một quốc gia châu Âu, nhưng chậm trễ đến vài thế kỷ.ii Người Norman, sau tất cả, chỉ cách tổ tiên Na Uy của họ là người Viking năm hoặc sáu thế hệ, và Normanni chỉ là một kiểu Latin hóa của Norðmenn, “người phương bắc”, vẫn là từ tiếng Bắc Âu cổ để chỉ người Na Uy. Cuối thế kỷ thứ chín, dưới sự lãnh đạo của Rollo, họ đã sống bằng những thanh gươm, nhưng họ đi thuyền về phía nam, và định cư ở nơi đã trở thành Normandy, sau khi buộc vua của Frank, Charles III, phong cho họ tước hiệu bằng Hiệp ước St-Clair-Sur-Epte khoảng năm 911. Ở đó, họ tiếp tục từ bỏ lối sống lang thang, cướp bóc bao gồm cả ngôn ngữ Bắc Âu; là những kẻ xâm lược người German điển hình, trong một vài thế hệ, họ đã từ bỏ việc sử dụng ngôn ngữ i. Robert Wace, một người Norman từ Jersey, được vua Henry II ủy nhiệm viết một tác phẩm tán dương lịch sử Norman vào những năm 1160, được đặt tên theo tộc trưởng Rollo (Rou). Công trình này được tiến hành song song với Roman de Brut trước đó của ông, trên nước Anh trước khi có người Norman (một cách tương tự, được cho là do Brutus thành lập). Phần này kể về những phong thái khác nhau của người Anh và người Norman vào đêm trước Hastings, 1066; nhưng nó cũng minh họa rõ ràng các vai trò khác nhau của tiếng Anh, tiếng Pháp Norman và tiếng Latin ở Anh thời Norman. ii. Trong phần này, “Norman” sẽ bao gồm các giai cấp thống trị của Anh và các vùng phụ thuộc của nước Anh từ năm 1066 đến năm 1399. Tiếng bản ngữ của họ ban đầu là tiếng Pháp Norman, còn được gọi là Anglo-Norman; nhưng sau năm 1154, các loại tiếng Pháp được nói trong triều sẽ được dựa trên phạm vi rộng hơn, vì Henry II và các nam tước của ông đóng tại Anjou, miền tây nam nước Pháp. Từ đó, triều đại được gọi là Angevin.


637 Mô h ì nh th u nh ỏ hay ch i ế c g ư ơ ng b i ế n dạ ng ? . . . của mình và sử dụng ngôn ngữ Roman địa phương, thứ ngôn ngữ được gọi là tiếng Pháp Norman. Khi hậu duệ của Rollo là William the Bastard lãnh đạo cuộc xâm lược nước Anh thành công năm 1066, ông ta đã đưa ngôn ngữ này vào Anh. Tiếng Anh bị che phủ Nhưng cuộc xâm lược nước Anh của người Norman hoàn toàn không giống các cuộc chinh phục nước Anh của người Đức trước đây về cả quy mô và hệ quả chính trị. Về quy mô, nó nhỏ, ít nhất là so với dân số Anh lúc bấy giờ: William đem theo khoảng 5.000 hiệp sĩ, và tính hết thì tổng số những người “đi theo Kẻ chinh phạt” sẽ lên tới nhiều nhất bốn lần con số này, 20.000 người so với dân số Anh là 1,5 triệu người.2 Vì vậy, trong thế hệ thống trị đầu tiên của người Norman, có lẽ cứ 100 người thì có một người nói tiếng Pháp Norman. Về hệ quả chính trị, đó không phải là một cuộc đột kích, cũng không phải là một cuộc di cư hàng loạt, mà là một cuộc xâm lược rời rạc, dựa trên một lời biện minh: William tuyên bố rằng vua nước Anh nợ mình lòng trung thành và tiếp tục chứng minh rằng Đức Chúa Trời ủng hộ cho lẽ phải của ông ta qua trận chiến. Kết quả là nước Anh gần như ngay lập tức chuyển từ vương quốc Saxon thành vương quốc Norman. Người Norman, mặc dù rất ít, nhưng đã hạ gục thành công chế độ Anh. Tác động ngôn ngữ của việc này khá sắc nét, đặc biệt là đối với chúng ta khi đọc bản ghi chép một thiên niên kỷ sau đó. Bấy giờ, khi nhà vua và giới quý tộc nói tiếng Pháp, có một lượng độc giả mới cho việc sáng tác ở Anh; nền văn chương bản địa Anh, mà với đó, tiếng Ireland là ngôn ngữ ra hoa kết trái sớm nhất trên toàn châu Âu, đã chấm dứt và thay vào đó là nền văn học lãng mạn mang phong cách Anglo-Norman. Kể từ đó đến giờ, luật pháp, phán quyết của tòa án và tài liệu lưu chiểu pháp lý hầu như đều bằng tiếng Pháp, một sự thay đổi rõ ràng trong các bản ghi chép; vì ngày càng có


Click to View FlipBook Version