The words you are searching are inside this book. To get more targeted content, please make full-text search by clicking here.
Discover the best professional documents and content resources in AnyFlip Document Base.
Search
Published by ngocnm.alphabooks, 2023-04-10 23:36:21

sinh nam 1972

sinh nam 1972

“Tôi đã đọc và đọc gần như một mạch, từ sáng đến tối. Phải nói là Bình đã kể câu chuyện cuộc đời mình một cách rất thật, hấp dẫn và cuốn hút từ đầu đến tận trang cuối cùng, như đang xem một cuốn phim kể về một thế hệ, sinh ra trong lửa đạn chiến tranh, lớn lên trong khốn khó của thời bao cấp, trưởng thành trong thời kỳ đổi mới, mở cửa, hội nhập, thành công khi đất nước hội nhập. Đọc sách, ta thấy được những vật vã, trăn trở của thế hệ 7x, trước những biến động lớn lao của đất nước và thế giới, muốn được là chính mình, muốn tác động tích cực vào sự đổi thay lớn lao đó mà không chỉ vì cơm áo gạo tiền trước mắt.” NGUYỄN MINH HỒNG Bộ Thông tin và Truyền thông “Điều đáng khâm phục nhất là cậu bé ấy đã không gục ngã, không đầu hàng hoàn cảnh như đa số người khác, vẫn kiên trì đi theo con đường ham học, tin tưởng vào kiến thức của mình, thậm chí còn coi những bất công mình phải chịu như cơ hội để trưởng thành. Và chàng trai ấy đã vượt qua nhiều khó khăn để giữ vững tấm lòng son với tri thức, với xã hội để trở thành doanh nhân, nhà hoạt động xã hội Nguyễn Cảnh Bình ngày nay.” PGS. TS NGUYỄN HOÀNG ÁNH Đại học Ngoại thương


SINH NĂM 1972 KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU Bản quyền © Nguyễn Cảnh Bình, 2023 SỐNG - Thành viên của Alpha Publishing Group. Sống ra đời với mong muốn xuất bản những cuốn sách phản ánh hơi thở đời sống, tinh thần tự do, khát vọng mãnh liệt của người Việt. Ngoài các mảng sách Truyền cảm hứng, Hồi ký - Tự truyện, Theo dòng sự kiện, Sống tiếp tục mở rộng tầm nhìn và sứ mệnh của mình, vươn ra tiếp cận tri thức thế giới với những mảng nội dung thường thức mà người đọc Việt chưa được tiếp cận nhiều như Âm nhạc, Nghệ thuật, Tâm lý... Sống - Mãnh liệt khát vọng Việt Không phần nào trong xuất bản phẩm này được phép sao chép hay phát hành dưới bất kỳ hình thức hoặc phương tiện nào mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Văn hóa Truyền thông Sống. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả để sách ngày càng hoàn thiện hơn. Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected] Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông: [email protected] Liên hệ dịch vụ tư vấn, đại diện & giao dịch bản quyền: [email protected]


Better knowledge, Better success


ĐƠN VỊ HỢP TÁC TRUYỀN THÔNG https://www.facebook.com/tramdocvn website: http://tramdoc.vn/ VIỆN LÃNH ĐẠO ABG Website: www.abg.edu.vn Email: [email protected] ĐỘI NGŨ TRIỂN KHAI SỐNG Phụ trách xuất bản: Đỗ Nguyệt Anh Điều phối viên: Hải Yến, Hương Thảo Thiết kế bìa: Trang Fu Trình bày: Vũ Lê Thư Thư ký xuất bản: Nguyễn Thủy


- 5 Mục lục Lời giới thiệu............................................................................................9 Lời tựa ....................................................................................................12 Lựa chọn.................................................................................................15 TUỔI THƠ, SÁCH VỞ VÀ CÁI NGHÈO Nhà nội ở Đô Lương.....................................................................20 Bà ngoại tôi - người làng Vạc ......................................................25 Những đứa trẻ Trung Liệt, Thái Thịnh ngày ấy ...........................27 Bầu bạn cùng sách vở...................................................................34 Ngọn gió đổi mới và bài báo đầu tiên ..........................................41 Cậu học trò nhiều “sẹo” ..............................................................49 Bài nhận xét của Trí và những lộn xộn của lớp 12A Đống Đa ...56 Không được thi học sinh giỏi quốc gia vì học lực trung bình ......61 Giấc mơ khoa học dang dở...........................................................66 “Hà Nội trong mắt ai” và ‘‘Người tử tế”......................................74 Quốc hội 8A - Những ước mơ trai trẻ ..........................................79 NHỮNG NĂM THÁNG NGẨN NGƠ, CAY ĐẮNG, U BUỒN Đường vào đại học và sự thất bại của kẻ đi ngược chiều .............83 01 02


6 - Bài văn lạ “Đời sinh viên” và những tháng ngày trống rỗng.....................................................................................90 Trốn học và lang thang.................................................................94 Kiếm tiền thật nhọc nhằn vất vả...................................................98 Chỉ là một viên gạch nữa trên bức tường mà thôi!.....................102 Nhận giấy đình chỉ học ở trường Đại học Bách Khoa ...............109 Ý nghĩa cuộc sống......................................................................113 Suy nghĩ về thế hệ chúng tôi......................................................115 CHẶNG ĐƯỜNG ĐẾN VỚI TỰ DO Một cửa sổ nhìn ra cuộc sống.....................................................122 Những ngày tháng ở Petrolimex.................................................128 Tự rèn luyện kỹ năng mềm, không cần ai chỉ bảo .....................130 Những chuyến đi thực tiễn .........................................................134 Internet - Chân trời tri thức ........................................................140 Những bài viết đầu tiên ..............................................................149 Đoàn thanh niên sôi nổi .............................................................157 Nghịch lý trong công việc..........................................................164 Rời bỏ công việc nghiên cứu khoa học ......................................170 Những ngày tháng khó khăn ......................................................175 Con đường mới dưới chân ta ......................................................178 HÀNH TRÌNH TÌM KIẾM CHÍNH MÌNH Sống không có tiền thật vất vả ...................................................183 Những cuộc hội ngộ tri thức.......................................................189 Tại sao tôi biên soạn cuốn Hiến pháp Mỹ? ................................196 03 04


- 7 Những nỗ lực lẻ loi, nhóm C&G và Học bổng cho sinh viên ngành Luật Hiến pháp .........................................204 Thành công và thất bại chỉ cách nhau gang tấc mà thôi ............211 ALPHA BOOKS - BƯỚC NGOẶT CUỘC ĐỜI Kinh doanh bất động sản và buôn bán ô tô................................219 Lại thất bại trên hành trình theo đuổi học tập ở nước ngoài.......224 Sa cơ lỡ vận, và quyết định làm sách ........................................228 Thành lập Alpha Books và làm sách quản trị kinh doanh .........235 Bên bờ vực phá sản và đóng cửa ................................................243 Tủ sách tinh hoa nhân loại .........................................................247 Tranh cãi, chia tay, dù thế nào vẫn cứ tiến lên...........................256 Bước đầu xây dựng văn hóa công ty .........................................269 Có thể làm việc vừa nhanh vừa tốt ............................................275 Niềm vui và khó khăn luôn song hành với nhau .......................279 Vài suy nghĩ về việc kinh doanh sách và ngành xuất bản..........286 THẾ GIỚI QUẢ THỰC VÔ CÙNG RỘNG LỚN Ứng cử Đại biểu Quốc hội .........................................................294 Tham gia đóng góp ý kiến về Hiến pháp ...................................304 Nghiên cứu về Giáo dục.............................................................307 Những chuyến đi, những con người, những vùng đất ...............312 Châu Âu: cái nôi văn hóa của nhân loại.....................................318 Từ phương Tây về phương Đông ...............................................326 Vài suy nghĩ nhỏ về đất nước và con người Việt Nam .............331 Những bản thảo vẫn còn trong tủ ..............................................334 05 06


8 - NHỮNG CHÂN TRỜI MỚI Ông tôi, bố tôi, tôi và tuổi 50 .....................................................346 Hai mục đích lớn trong cuộc đời ...............................................350 Hệ sinh thái tri thức....................................................................358 Viện lãnh đạo ABG....................................................................370 Những dự định ấp ủ....................................................................383 Xe đạp, Trại Muỗi và nông nghiệp ............................................399 Nguyễn Cảnh Bình - Ngọn nến đốt hai đầu.........................................404 Độc giả nói gì về cuốn sách... ..............................................................407 07


- 9 Lời giới thiệu Bạn đọc thân mến, Có lẽ, tự truyện là một thể loại văn học khá hấp dẫn người đọc, vì đó là trải nghiệm riêng tư của một người, gắn với các bối cảnh lịch sử-xã hội cụ thể mà nếu khéo viết, sẽ trở thành một bộ phim tư liệu sống động và thú vị, gợi mở nhiều ý tưởng mới. Cuốn tự truyện của tác giả Nguyễn Cảnh Bình mà bạn đọc đang cầm trên tay chính là một bộ phim như vậy. Cái tên Nguyễn Cảnh Bình gắn với Alpha Books từ lâu đã không còn xa lạ với bạn đọc trong nước nhờ hàng trăm tác phẩm có giá trị của tác giả nước ngoài và tác giả người Việt được tuyển chọn và xuất bản. Riêng tôi đã biết anh khá lâu, từ những ngày anh khởi đầu nghiệp làm sách của mình, khoảng đầu những năm 2000, sau đấy là qua những dự án xuất bản của Alpha Books mà Nhà xuất bản Thế giới liên kết cùng. Chính vì vậy, ấn tượng lớn nhất của tôi sau khi đọc cuốn sách của anh là tác giả rất thẳng thắn, trung thực và mạnh dạn kể về cả những thất bại – đôi khi cay đắng và phải trả giá – cho những hành động có thể gọi là “phiêu lưu, liều lĩnh” của mình khi quyết định hướng đi và xây dựng thương hiệu cho công ty và cho bản thân với tư cách là dịch giả, nhà làm sách, nhà quản lý, nhà kinh doanh, nhà hoạt động xã hội, nhà giáo dục, nhà truyền bá tri thức… Khó có thể kể hết những mảng hoạt động mà Nguyễn Cảnh Bình chủ trương, lãnh đạo hay tham gia thực hiện. Tác giả không tô vẽ, nói quá cho bản thân, mà bên cạnh những thành công không ai có thể phủ nhận được, anh còn kể về thất bại, về những thời điểm đầy kịch tính như kiên quyết không theo ước vọng của phụ huynh để làm học giả hay kỹ sư, mặc dù anh tốt nghiệp Đại học


10 - NGUYỄN CẢNH BÌNH Bách Khoa, và dám từ bỏ ngành Dầu khí mặc dù ngành đó đem lại nhiều tiền bạc, rồi “lang thang” viễn du trong Sài Gòn với hai bàn tay trắng, rồi tự trau dồi tiếng Anh để soạn những cuốn sách “khó nhằn” như Hiến pháp Mỹ, rồi “một tay gây dựng cơ đồ” Alpha Books khi nó khủng hoảng trầm trọng tưởng chừng không lối thoát về cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh. Cứ thế và cứ thế, cuốn tự truyện lôi kéo bạn đọc một cách tự nhiên vào “vở kịch cuộc đời” đầy ắp tình tiết lúc vui lúc buồn, lúc bi lúc hài, để rồi kết thúc khá có hậu – chí ít cho đến thời điểm cuốn sách được xuất bản. Nhân vật chính nổi bật lên với cá tính mạnh, “bướng bỉnh”, với ý chí và ý thức độc lập trong suy nghĩ hay hành động mạnh mẽ, với đam mê sự nghiệp và ước vọng dấn thân vì lợi ích cộng đồng cháy bỏng, và trên hết, với nhiệt huyết trào dâng theo đuổi mục tiêu đặt ra cho tới cùng. Đối với Nguyễn Cảnh Bình, “dấn thân” dường như là một khao khát thường trực khiến anh luôn hết mình lao động, luôn cảm thấy thiếu thời gian, để vượt qua mọi khó khăn, kể cả về vật chất và tinh thần, nhằm chinh phục những đỉnh cao anh tự đặt ra không phải với mục đích tìm kiếm lợi ích hay danh vọng cho riêng mình. Anh sống và lao động vì đam mê cá nhân và vì cộng đồng xung quanh anh cũng như vì xã hội. Giá trị của cuốn tự truyện, theo chúng tôi nghĩ, không phải là làm thỏa mãn trí tò mò về “việc riêng tư’’ của ai đó mà là những bài học về thành công và thất bại, về mục đích lập nghiệp, hướng đi và đích đến của đời người. Thật may mắn, bạn trẻ nào khi bước vào đời còn cảm thấy hoang mang, mơ hồ trước câu hỏi tự vấn “Mình là ai?’’, “Sự nghiệp của mình sẽ sao đây?’’ hay “Mình sẽ làm gì để thời gian không trở thành vô nghĩa, phí hoài?” đã có một trong những cuốn sách nên đọc là cuốn tự truyện này. Lẽ dĩ nhiên, nói thế không có nghĩa là khuyên bạn đọc trẻ tuổi phải chấp nhận quan điểm, suy nghĩ hay hành động như tác giả; điều đó là bất khả vì bạn là một cá thể riêng biệt với năng lực, tư duy, tố chất, hoàn cảnh, học vấn, v.v... hoàn toàn khác với tác giả. Song đọc cuốn sách là để HỌC CÁCH nhận biết rõ ràng, trung thực thiên hướng,


- 11 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU năng lực, ước vọng của bản thân, học kỹ năng sống, giải quyết vấn đề, xử lý tình huống nhằm quyết định hướng đi có thể gặt hái thành công nhiều nhất trong cuộc đời cho chính mình. Dĩ nhiên còn có những yếu tố khách quan đôi khi cản trở ước mơ thành hiện thực, nhưng cuốn sách sẽ cho bạn lời khuyên một cách vô hình: Hãy cứ đam mê, cháy bỏng hết mình với sự nghiệp, hãy dám sáng tạo trong suy nghĩ dù có thể pha chút phiêu lưu, mơ mộng không tưởng hay mạo hiểm, hãy không ngừng học hỏi từ sách vở và những người xung quanh để điều chỉnh hướng đi, đồng thời lao động hết mình thì nhất định bạn sẽ gặt hái được thành quả. Khổng Tử nói “Tam thập nhi lập”, “Ngũ thập tri thiên mệnh” – mãi đến năm người ta 60 tuổi mới biết “mệnh trời’’, tức là chức phận của mình ở cõi nhân gian này. Nhưng đọc cuốn tự truyện của Nguyễn Cảnh Bình, tôi cảm thấy anh đã nhận ra “thiên mệnh” của mình từ khá sớm và cũng vẫn đang tiếp tục khám phá những thiên hướng khác của bản thân qua những dự án táo bạo, đầy cảm hứng, mà chưa biết chừng công cuộc khám phá này sẽ vẫn còn tiếp diễn mãi về sau. Tuy vậy, xét thấy “thiên mệnh” chính – tạm đến thời điểm “ngũ thập” này của anh ở cõi nhân gian là làm sách, là truyền bá tri thức, là giáo dục nâng cao dân trí, là hoạt động xã hội, nên tôi xin phép “chế lại” câu thơ của Nguyễn Công Trứ để tặng anh nhân dịp ra mắt cuốn tự truyện: “Kiếp sau trở lại cõi người, Tôi xin như cũ, cho Đời ngát hương” Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn tự truyện này để đọc xong, ta lại trông ngóng, lại sốt ruột mong tác giả sẽ viết tiếp cuốn thứ hai, cuốn thứ ba và rất nhiều cuốn sách nữa. Hà Nội, tháng 8 năm 2021 TRẦN ĐOÀN LÂM Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Thế Giới


12 - NGUYỄN CẢNH BÌNH Lời tựa cho lần tái bản đầu tiên Hơn bảy năm trước, khi bắt tay viết cuốn sách, tôi không nghĩ việc này lại khiến tôi mất nhiều thời gian đến thế. Tưởng chừng đơn giản, nhưng cho đến khi hoàn tất những dòng cuối cùng, tôi vẫn đầy đắn đo, băn khoăn, chần chừ bởi không cảm thấy hài lòng với những gì mình viết, và cả những chuyện không thể được viết ra. Là người đọc hàng ngàn cuốn sách, cũng giúp cho nhiều người viết sách và xuất bản nhưng đến lượt mình, đến tự truyện của bản thân, tôi lại thấy thật khó khăn. Đến mức mỗi lần đọc lại, mỗi lần định đưa đi in, tôi lại đầy day dứt, suy tư. Ban đầu, dự định của tôi chỉ là kể lại những chuyện xảy ra trong cuộc đời như để chiêm nghiệm những gì đã qua, những trải nghiệm với Alpha Books, với việc đọc sách, việc kinh doanh, xã hội, con người, bạn bè. Nhưng rồi cuốn sách đã được mở rộng ra khi chạm vào những kỷ niệm thời gian khó và thấp thoáng câu chuyện của những người bạn đồng trang lứa. Rồi tôi lại thấy cần viết cả về dự định tôi muốn làm trong những năm tháng tiếp theo… Tôi muốn viết đúng về mình hết mức có thể như một bản mô tả chân dung con người xù xì, thô ráp, đầy những vết sẹo trong suy nghĩ, về những gì tôi đã sống, về những thời điểm bạc nhược và thất bại cay đắng, cả những tranh đấu và niềm vui, niềm hy vọng trong cuộc đời, dù rằng, đôi khi tôi ước mình có thể trở thành một người mềm mại, nhẹ nhàng hơn. Do thời gian, trí nhớ và cả góc nhìn nên hẳn những gì tôi viết không tránh khỏi nhiều điểm không hoàn toàn chính xác. Có thể ở góc nhìn khác, ai đó có thông tin đúng hơn về những điều tôi


- 13 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU kể. Vì thế, xin được lượng thứ cho những nhầm lẫn và sai sót mà có thể tôi viết ở đây. Những suy nghĩ và hành động của tôi cũng khó có thể nói là đại diện cho cả thế hệ vì nhiều người bạn tôi có cuộc sống, cách nhìn nhận và suy nghĩ rất khác với tôi. Tôi chọn tên cuốn sách là Sinh năm 1972 cho tôi và bạn bè, và chọn tên Khát vọng sống của kẻ đi ngược chiều cho chính mình, bởi tôi yêu Van Gogh, yêu cuộc đời ông, yêu cuốn sách Khát vọng Sống của Irving Stone đầy quyến rũ mà tôi đọc suốt thời thơ ấu. Cuốn sách này được xuất bản lần đầu tiên vào tháng 9 năm 2021. Việc công bố cuốn sách cũng lặng lẽ, giới hạn trong những người tôi quen biết. Nhưng từ khi cuốn sách tới tay bạn đọc, chúng tôi đã nhận được rất nhiều phản hồi từ độc giả khắp nơi, trong nước cũng như ngoài nước. Từ những thông tin phản hồi này, chúng tôi nghiêm túc tiếp nhận và hoàn thiện bản thảo, làm cho nó trở nên đầy đủ và sáng rõ hơn. Chúng tôi cảm thấy được động viên và truyền thêm nhiệt huyết, để mang cuốn sách tới với nhiều bạn đọc hơn nữa. Ngoài những chỉnh sửa hoàn thiện về nội dung, trong lần tái bản này, chúng tôi cũng đưa thêm vài bài viết ngắn của một số người bạn mà tôi quen biết. Đối với những người đã qua thời tuổi trẻ, chúng tôi gặp nhau ở ước mơ và hoài bão với đời. Đối với những người đang trong thời tuổi trẻ, chúng tôi nói với nhau về ý chí và khát vọng sống, cách thức vượt qua nghịch cảnh và tìm ra con đường của mình. Lần in tái bản này là một duyên lành đối với tôi. Xin chân thành cảm ơn những người đã giúp tôi hoàn thiện cuốn sách này, chị Tú Minh, anh Đoàn Công Huynh, Lý Hồng Điệp, Nông Bích Vân và Trần Lan Hương đã giúp chỉnh sửa, hoàn thiện cuốn sách. Và tôi muốn gửi lời cảm ơn đến những người bạn thời thơ ấu: Mai Hải Lâm, Nguyễn Thanh Giang, Trần Thu Quỳnh, Nguyễn Thanh Huyền, Lê Huy Hòa, Đặng Huỳnh Nga, Bạch Quốc Thắng, Nguyễn Phú An, Hoàng Việt Cường, Lê Cảnh Toàn và nhiều người bạn khác. Họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện của họ, và đó cũng là câu chuyện của tất cả chúng tôi, lứa sinh năm 1972.


14 - NGUYỄN CẢNH BÌNH Tôi cũng muốn cảm ơn anh Trần Đoàn Lâm và Nhà xuất bản Thế Giới, đã giúp tôi hoàn thành việc xuất bản cuốn sách này. Cuốn sách đầu tay của tôi Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào? được xuất bản ở đây nên với cuốn tự truyện cuộc đời mình, tôi cũng muốn vậy. Cảm ơn các đồng nghiệp ở Alpha Books, ở Viện lãnh đạo ABG, ở Nhà xuất bản Tri thức, Nhóm dịch Trẻ, ở Petrolimex và các tổ chức tôi từng làm việc, và những độc giả, những người bạn mà nhiều trong số đó tôi vẫn trò chuyện trên mạng dù chưa gặp mặt. Hãy tha thứ nếu những gì tôi viết không đúng, và cả những gì tôi không thể viết ra. Một ngày nào đó, có thể sẽ có một phiên bản Sinh năm 1972 gần với sự thật hơn, đúng với chính con người tôi hơn. Cảm ơn tất cả các bạn! Tháng 3 năm 2023 NGUYỄN CẢNH BÌNH


- 15 Lựa chọn Với tôi, quyết định rời khỏi Petrolimex rồi thành lập Alpha Books chắc chắn là quyết định quan trọng nhất cuộc đời. Chính quyết định này đã dẫn tôi đến với bầu trời tri thức và trí tuệ, từ đó giúp tôi có cơ hội được gặp gỡ những con người, những nhân vật tuyệt vời. Rồi tôi được trưởng thành, và hơn hết được sống và làm việc với những mơ ước, dự định và ý tưởng của mình. Những ngày tháng đó, nhiều tháng trời, không… phải là nhiều năm trời, tôi băn khoăn mãi về con đường mình sẽ đi, những gì mình sẽ làm. Tôi biết rằng tôi phải rời khỏi Petrolimex, đó không phải nơi giúp tôi thực hiện ước mơ, dự định của mình. Suốt những năm tháng cấp III, rồi đại học, chìm đắm trong những cuốn sách, những ý tưởng có phần viển vông, và rồi sau này sống với câu chuyện về các nhân vật lịch sử Việt Nam và những tư tưởng như Fukuzawa Yukichi, Alexander Hamilton, James Madison, Thomas Jefferson, hay câu chuyện về nền văn minh Hy Lạp, La Mã cổ đại, rồi chịu ảnh hưởng bởi những cuốn sách cũ tôi đọc được khi sống ở Sài Gòn, về đất nước, con người Việt Nam, chúng thôi thúc tôi cất bước, thôi thúc tôi hành động. Tôi không biết đích xác mình sẽ làm gì, nhưng tôi tin rằng đó phải là thứ gắn với tri thức, với thế giới, với bầu trời văn minh, với những điều có ý nghĩa lớn lao. Đầu năm 2002, tôi viết thư cho Mai Hải Lâm và ghi trong Nhật ký Quốc hội 8A: “Đã đến lúc tao phải rời khỏi đây để theo đuổi những gì tao mong muốn. Dù biết như vậy và chẳng có gì lớn lao nhưng rời khỏi một nơi đã gắn bó tới bảy năm, với biết bao kỷ niệm của những


16 - NGUYỄN CẢNH BÌNH ngày trẻ đầy say mê, nên dẫu sao tâm trạng tao mấy hôm nay cũng cảm thấy bùi ngùi, xao động. Thế là từ ngày mai, tao sẽ là một con người tự do, được tự do theo đuổi những gì tao muốn. Phía trước là Bầu trời!” Dù viết cứng cỏi như vậy, cùng với nhiều năm sống đầy cá tính thời phổ thông và vượt qua những trở ngại thời đại học, tôi cũng không hình dung được trong những năm tháng sau này tôi lại có nhiều thời khắc khó khăn, vất vả và cả những khoảnh khắc hoang mang đến thế: những xung đột nặng nề với đồng nghiệp, với bạn hữu, với đối tác; những thách thức trên hành trình theo đuổi các giá trị và mục tiêu; những ngày tháng cô đơn thậm chí cô độc do tính cách cứng cỏi của mình. Gần hai mươi năm qua đi, tôi đã trải qua rất nhiều biến động và thăng trầm trong công việc kinh doanh, qua những trục trặc của việc quản trị, qua những nỗi buồn phiền và trăn trở với công việc xuất bản, qua những niềm vui, niềm hạnh phúc luôn song hành với những thất vọng, buồn đau, những đổ vỡ, chia ly, mất mát trong cuộc sống. Có những ngày tháng đầy khó khăn khi sách bán rất chậm, chất đầy kho, có những khoảnh khắc đầy bế tắc. Nhưng cùng với đó là niềm vui gặp gỡ độc giả, gặp gỡ bạn bè và hơn hết là niềm vui được đọc những trang sách, những ý tưởng tuyệt vời, những kiến thức mới mẻ hấp dẫn. Tôi từng nói, có những cuốn sách khi đọc chúng, tôi như thể đang được trò chuyện với các tác giả vậy. Mãi sau này, nhiều lần tôi tự đặt ra câu hỏi cho mình, như một cổ đông từng chất vấn tôi, chúng ta lập công ty là để kiếm tiền, kinh doanh vì lợi nhuận, chứ không phải theo đuổi lý tưởng. Có thật vậy không? Không! Tôi không nghĩ thế. Nếu chỉ để kiếm tiền tại sao tôi lại rời Petrolimex? Nếu chỉ để làm giàu tại sao tôi lại từ bỏ việc kinh doanh ô tô, bất động sản?


- 17 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU Có những khát vọng không ngừng cháy trong tôi. Những dự định và ý tưởng mới cần làm luôn thôi thúc trái tim, khối óc tôi mỗi ngày. Và như Van Gogh từng vẽ chiếc ghế mòn vẹt đi, bởi đó là chiếc ghế hữu ích nhất, tôi muốn sống với những gì tốt đẹp và ý nghĩa nhất như thế. Viết trên chuyến bay đêm từ Sài Gòn ra Hà Nội. Ngày 15 tháng 1 năm 2021


SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU 01 TUỔI THƠ, SÁCH VỞ VÀ CÁI NGHÈO


20 - NGUYỄN CẢNH BÌNH Nhà nội ở Đô Lương Mẹ tôi kể, tôi cất tiếng khóc chào đời vào tối ngày 18 tháng 8 năm 1972 tại trạm xá làng Xuân La thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đó là năm máy bay Mỹ ném bom Hà Nội, mọi gia đình đều phải đi sơ tán, rời thủ đô về vùng nông thôn. Bố tôi làm việc ở Công trường 2 (một đơn vị của Cục Quân báo, nay là Tổng cục Tình báo, Bộ Quốc phòng) ở Xuân La nên cả nhà tôi, lúc bấy giờ đang sống trong một căn phòng nhỏ hẹp chỉ chừng 10m2 trong ngõ 2 của Phố Giảng Võ, (ngay cạnh Đền thờ Phùng Hưng bây giờ, phía sau bến xe Kim Mã), chuyển về làng Xuân Đỉnh ở nhờ nhà một người dân trong làng. Những người dân làng quê như bà Tý, bà Hành ở thôn Đông làng Xuân Đỉnh đã bao bọc, giúp đỡ gia đình tôi trong những ngày tháng chiến tranh bom đạn gian khó ấy. Với tôi, làng Xuân Đỉnh, nơi tôi được sinh ra và nuôi dưỡng suốt những năm tháng đầu đời thân thuộc như thể quê nhà vậy. Khi học cấp I, cấp II, cứ một hai tháng, vào Chủ nhật tôi lại được bố cho về Xuân Đỉnh thăm người làng. Sau này, hằng năm tôi vẫn đưa bố mẹ về thăm lại Xuân Đỉnh, nơi trồng nhiều hồng xiêm và có nghề làm bánh kẹo. Khi về thăm làng, mọi người vẫn gọi đùa tôi là “trai Xuân Đỉnh”! Giờ đây, Xuân Đỉnh không còn là ngôi làng nữa, nó đã trở thành đô thị hiện đại với những tòa nhà Ngoại giao đoàn rất đẹp. Suốt ba tháng từ khi chào đời, tôi thường khóc rất to, khóc không ngừng nghỉ, chỉ trừ khi ngủ còn cứ tỉnh dậy, mở mắt ra là khóc, dỗ thế nào cũng không nín. Mọi người bảo đó là khóc dạ đề nên mách bố tôi đi tìm nhiều thầy lang, nhiều bài thuốc nam về chữa. Lại có người khuyên đặt con dao lên đầu giường trừ ma quỷ,


- 21 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU rồi bố mẹ tôi tìm đủ mọi cách nhưng tôi vẫn không hết khóc. Một trăm ngày đầu đời, tôi cứ khóc váng lên, có lẽ nhờ vậy mà họng tôi sau này khỏe, nói rất to cũng nên. Dòng họ nhà tôi có truyền thống lâu đời nên từ bé tôi đã quen với nếp gia phong nghiêm khắc. Ông nội tôi là người rất khó tính và nói nhiều đến mức cả nhà, các cô chú ai cũng sợ ông. Sau này tôi chịu ảnh hưởng nhiều từ tính cách này, đó là sự gia trưởng, khó tính, khắt khe, nghiêm nghị, cục tính... Nhờ sự nghiêm khắc của ông tôi mà từ nền nếp trong nhà đến khung cảnh vườn tược và nhà cửa đều ngăn nắp, gọn gàng, sạch sẽ. Nhưng sau khi ông mất, quang cảnh đó không còn giữ được nếp gia giáo nữa. Ngay cả các cuộc họp họ hàng, các dịp lễ tết, giỗ chạp… dù mâm quả, đồ cúng, đồ bày biện nhiều hơn xưa nhưng đã mất đi vẻ trang nghiêm ngày nào. Ngày nhỏ, khi về quê, nhìn thấy nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, dù là nhà gỗ ba gian thì với tôi cũng thật đẹp và yên bình, còn nay cái gọi là nếp nhà dường như đã mờ nhạt dần, biến đổi đi, trở nên khô cứng, xa lạ, vắng lặng, chẳng bao giờ còn được như trước. Hồi nhỏ, tôi không hiểu về những việc này nhưng khi trưởng thành, biết nhiều hơn, hiểu nhiều hơn, tôi mới cảm thấy những điều ông nội tôi làm, những nền nếp, quy củ mà ông đặt ra rất có ý nghĩa, ảnh hưởng nhiều tới con cháu. Những sự nghiêm cẩn đó ăn sâu vào thói quen, tính cách, ngấm dần vào tôi từ khi nào không biết nữa... Ở nhà tôi cũng vậy, bố tôi rất nghiêm khắc và rèn giũa tôi trong mọi việc đều phải chỉn chu, cẩn thận. Từ một chuyện đơn giản nhất là cây bút chì, ngày nhỏ tôi luôn phải tự gọt bút bằng dao, chỉ gọt lệch chút thôi cũng bị nhắc nhở. Vở viết phải xếp đặt ngăn nắp, bọc giấy phải đẹp, cẩn thận; xe đạp, đôi dép đi phải được lau chùi… Trong gia đình, bàn ghế và giầy dép phải để ngăn nắp, tôi về nhà mà vứt dép ngổn ngang là bị rầy la ngay. Hay như sáng dậy, nếu chăn, gối, màn bừa bộn là bị quở trách. Từ những chuyện nhỏ như thế, cứ chỉnh dần mọi tác phong, cách


22 - NGUYỄN CẢNH BÌNH thức khiến tôi cũng bị ảnh hưởng theo. Nhiều người cảm thấy tôi rất khó tính, khắt khe cả trong công việc và với mọi người, nhưng đó là ảnh hưởng từ truyền thống gia đình. Bây giờ khi làm việc, những văn bản, email trình bày luộm thuộm, sai lệch đều khiến tôi thật khó chịu và bực mình. Cái cảm giác thích thú và yên bình thuở bé trước gia cảnh, nếp nhà của ông bà nội ở Đô Lương mỗi lần về quê vẫn in sâu trong tôi. Vì là cháu đích tôn nên suốt những năm tháng ấu thơ, cứ đến Tết bố lại đưa tôi về quê. Chừng 27-28 Tết, bố con tôi ra ga Hàng Cỏ đón chiếc tàu hỏa chạy xình xịch chậm chạp và chật chội. Có những lần bố con tôi phải ngồi trên sàn tàu chứa đầy đồ đạc lỉnh kỉnh, lợn gà nhếch nhác, hoặc đi nhờ xe đơn vị quân đội về ngã ba Diễn Châu rồi chờ bắt xe tải trèo lên ngồi trên thùng xe để về Đô Lương. Khi về quê, ông nội hay dẫn tôi đi chào hỏi các cụ, thăm nhà người này người kia, đến các nhà thờ họ... Dù ngày ấy tôi không hiểu những truyền thống và phong tục đó nhưng sau này, tôi thấy được giá trị và ý nghĩa của chúng tác động nhiều đến suy nghĩ và hành động của tôi. Tôi tâm niệm, điều quan trọng của một con người là được dạy dỗ và thấm nhuần những giá trị làm người tốt đẹp. Khi còn nhỏ biết hiếu kính, lớn lên biết sống có đạo lý, biết trên dưới, phải trái, trước sau. Ngồi trên chiếc xe ngựa kéo hoặc trên thùng xe tải chạy theo đường 7 về Đô Lương, tôi nhìn thấy những đám khói bay ra từ nóc nhà, từ những căn bếp mái tranh, mái rạ thấp lè tè vào lúc trời chạng vạng tối. Tiếng chó sủa inh ỏi vang khắp ngõ quê lúc đêm khuya khi tôi được bố đưa đi thăm nhà họ hàng, bà con chòm xóm… Những ấn tượng về quê hương làm tôi thấy thân thuộc với đồng quê. Nhờ thế, những câu chuyện lịch sử vùng đất và tổ tiên ngấm vào tôi từ khi nào không biết nữa. Một điều thú vị khác là khi về quê trong những dịp nghỉ hè, tôi có thời gian lục lọi trong nhà ông nội rồi tìm thấy khá nhiều sách.


- 23 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU Những buổi trưa hè, tôi nằm trên chiếc phản gỗ rộng mải mê đọc, dù nhiều cuốn tôi không hiểu gì nhiều. Ngày đó, sách báo rất ít ỏi, chẳng mấy nhà có nhưng thật may mắn vì chú ruột tôi là chú Nguyễn Cảnh Định, cửa hàng trưởng cửa hàng sách ở phố huyện Đô Lương, cả đời theo nghề phát hành sách nên trong nhà cũng lưu giữ một ít sách để đọc1 . Những ngày sát Tết, tôi thường đi theo chú tôi bán sách hay bán những câu đối Tết cho bà con trong vùng chợ Đô Lương. Cái hiệu sách xinh xắn đó nay đã trở thành cửa hàng Thế giới Di động và điều khiến tôi thất vọng nhất là khi về thăm nhà họ hàng, hầu như tôi không còn tìm được cuốn sách nào… Những truyền thống và văn hóa của cả vùng đất, của dòng họ tôi đã mất mát, mai một đi rất nhiều. Không còn cảnh các cụ già chống gậy đi thăm nhau hoặc bàn những chuyện văn hóa, lịch sử của địa phương, của đất nước nữa. Giờ đây, câu chuyện trong mỗi lần gặp mặt chỉ là làm ăn, kiếm tiền, xây nhà, mua sắm. Nỗi buồn đó cũng là động lực thúc đẩy tôi phát triển các hoạt động văn hóa, nói chuyện, tặng sách cho học sinh ở các trường cấp II, cấp III Đô Lương nhiều năm nay. Càng trưởng thành, càng sống và làm việc, gặp gỡ và đi nhiều hơn, tôi càng thấy rõ ý nghĩa, tác động của truyền thống, gia đình, dòng họ, quê hương với mỗi người. Không ai có thể vươn lên thật cao, đạt được thành tựu mà tách rời khỏi quá khứ. Họ được thừa hưởng và cả gánh chịu thành tựu truyền thống gia đình, dòng họ, quê hương. Số phận của mỗi người chúng ta, con 1. Bây giờ, con trai chú tôi là Nguyễn Cảnh Thạch cũng về Alpha Books phụ trách các hoạt động xuất bản và phát hành sách ở thành phố Vinh giống hệt chú tôi ngày xưa. Âu đó cũng là duyên và nghiệp.


24 - NGUYỄN CẢNH BÌNH đường chúng ta đi, học vấn, nghề nghiệp, tính cách… phần nào đó chịu ảnh hưởng từ cha mẹ, ông bà và môi trường sống. Bao nhiêu câu chuyện, con người, nhân vật quanh tôi đều như vậy. Xa hơn, những vĩ nhân như Van Gogh, Beethoven, Gutenberg, anh em nhà Grimm – những người tôi đã từng đến thăm nhà, quê hương, nơi họ sinh ra, hiểu về gia đình, môi trường… đều chứng tỏ điều này. Tôi sẽ viết kỹ hơn ở phần sau cuốn sách.


- 25 Bà ngoại tôi – người làng Vạc Trong cuộc sống, một phần tôi bị ảnh hưởng bởi gia đình bên nội, bởi bố tôi và ông nội tôi, về truyền thống lễ giáo, Nho học, lịch sử; nhưng tôi cũng chịu ảnh hưởng lớn từ gia đình bên ngoại, mà trực tiếp là mẹ tôi. Mẹ tôi là một người cứng cỏi, mạnh mẽ nên có lẽ sự phản ứng có phần thái quá đối với những sự kiện, con người xung quanh của tôi có thể bắt nguồn từ đó. Họ ngoại tôi có nhiều điểm khác biệt với bên nội. Nếu bên nội có truyền thống nhiều đời ở Đô Lương với rất nhiều những di tích, sự tích, câu chuyện, những nhân vật… thì họ ngoại tôi, quê gốc ở ngay làng Định Công (xưa là ngoại thành Hà Nội, nay đã là phố rồi), đến đời ông ngoại tôi thì vào xứ Thanh lập nghiệp. Ông tôi đi theo người chị họ vào Thanh Hóa mở đồn điền từ nhỏ, rồi gặp bà ngoại tôi ở Thanh Hóa. Bà ngoại tôi gốc ở làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, là làng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng các cụ vào định cư ở làng Vạc, huyện Thiệu Hóa. Làng Vạc xưa kia có tên là Cổ Đô, đây là một ngôi làng cổ nhiều di tích từ thời Lê, từng có câu ca dao “Làng Vạc ăn cỗ ông Nghè; Làng Vận, làng Chè kéo đá ông Đăng” vì là làng có nhiều người đỗ đạt, là đất nhà quan nên dân làng không phải đi phu, đi lính… Cả vùng đất này đều có lịch sử rất lâu đời. Gần đó là quê hương của Dương Đình Nghệ. Tôi cũng từng đến thăm Đền thờ ông. Tại đây, xưa kia Dương Đình Nghệ nuôi tới 3.000 con nuôi để mưu việc phục quốc, đó thực sự là câu chuyện truyền cảm hứng, cũng là một


26 - NGUYỄN CẢNH BÌNH lối tư duy chiến lược rất sâu sắc về việc phát triển con người. Gần quê ngoại tôi chính là quê hương Bà Triệu, đứng từ nhà các cậu mợ hay nhà dì tôi, nhìn xa xa qua cánh đồng lúa rộng mênh mông, có thể thấy rõ Núi Nưa, nơi Bà Triệu khởi nghĩa… Ông bà ngoại tôi xưa kia buôn bán thuốc lào nên cũng là gia đình khá giả trong vùng. Mẹ tôi vẫn kể lại câu chuyện đến giờ vẫn bị ám ảnh nặng nề về một người bác tức là anh trai bà ngoại tôi, chết trong cuộc cải cách ruộng đất. Bi kịch xảy ra khi ông bị quy kết là địa chủ, rồi không chịu được cảnh bức bách, đấu tố, ông chạy lên nhà bà tôi định nương nhờ, nhưng rồi không hiểu câu chuyện của các cụ ra sao, chỉ biết ông đi bộ cả đêm từ làng Sim về làng Vạc chừng 30km rồi treo cổ tự vẫn ngay trong thềm nhà mình. Như những người phụ nữ thời bao cấp gian khó, mẹ tôi hay làm thêm kế hoạch hai, kế hoạch ba, rồi đổi bo bo lấy gạo của dân làng về cho con cái; có lẽ cuộc sống vất vả, nhiều lo toan góp phần làm nên tính cách mạnh mẽ, không cam chịu ở mẹ tôi. Tôi chịu ảnh hưởng từ tính cách mẹ rất nhiều. Lớn lên, tôi phản ứng thái quá với bất kỳ ai có thái độ, hành vi và lời nói nghi ngờ về phẩm hạnh con người tôi. Tôi tranh cãi với đủ mọi loại người, từ những bảo vệ kho than nghi tôi ăn trộm than năm lớp Năm, đến những giáo viên dạy tôi, tranh cãi với mấy bác bảo vệ già trông xe, cãi đám bảo vệ kho xăng dầu, cãi các sếp khi tôi đã đi làm... và bất kể chuyện gì bất bình, không hợp lý. Bạn bè phổ thông coi tôi là cậu bạn khó gần, cục tính, dễ nổi nóng, nhưng có lúc lại trầm ngâm như người già… Từ khi còn nhỏ tôi đã là một đứa trẻ gai góc, không dễ dàng chấp nhận hay đầu hàng trước những quy tắc hay sự áp đặt từ bên ngoài. Sâu bên trong, tôi là đứa trẻ ưa khám phá, tìm tòi cái mới, có tinh thần phản kháng, ngấm ngầm tranh đấu.


- 27 Những đứa trẻ Trung Liệt, Thái Thịnh ngày ấy Cha mẹ tôi ở làng Xuân Đỉnh đến cuối tháng 1 năm 1973, sau khi Hiệp định Paris ký kết lại dọn về sống tại đường Kim Mã. Như tôi đã nhắc đến ở trên, đó chỉ là một căn phòng nhỏ, diện tích chừng 8-10m2 , vốn là một phòng cấp bốn chia đôi cho hai gia đình ở. Cũng do ở Kim Mã này nên cứ chiều tối, tôi thường được chị đưa ra vườn cỏ trước Lăng Bác chơi. Ngay sát nhà tôi là Lăng Phùng Hưng – Bố Cái Đại Vương, nơi các chị tôi hay đưa tôi ra chơi hằng ngày. Gia đình tôi sống ở Kim Mã cho đến năm 1976 thì chuyển về khu Trung Liệt, Quận Đống Đa (nay là đường Đặng Tiến Đông và tình cờ thế nào văn phòng Alpha Books giai đoạn 2012-2019 chỉ cách ngôi nhà đó chừng 200 mét). Đó chỉ là một ngôi nhà cấp bốn thường xuyên chịu cảnh ngập lụt, ẩm thấp trong khu tập thể của Bộ Tổng tham mưu. Đến năm 1989, nhà tôi chuyển về khu tập thể Nam Đồng, một khu nhà binh, thường hay được gọi đùa là Quân khu Nam Đồng nổi tiếng ở Hà Nội, được kể lại trong cuốn sách Quân khu Nam Đồng của Bình Ca vô cùng thú vị và hấp dẫn. Năm 1978, tôi đi học mẫu giáo, lớp học trong một ngôi nhà nhỏ ở Hoàng Cầu, rồi học vỡ lòng ở phố Trung Liệt, lớp học cũng chỉ là ngôi nhà tranh vách đất. Những người bạn học đầu tiên của tôi mà đến giờ chúng tôi vẫn thường gặp nhau là Trần Thu Quỳnh, Mai Hải Lâm, Lê Đình Cương, Bạch Quốc Thắng... Quỳnh là cô bạn từ thuở bé tí, học cùng tôi từ thời nhà trẻ, vì cũng gần nhà nên bố tôi hoặc mẹ Quỳnh chở cả hai đứa ngồi chung trên gác baga xe đạp mỗi khi đưa đón đến trường.


28 - NGUYỄN CẢNH BÌNH Tôi học cấp I, cấp II tại trường Thái Thịnh, cũng chỉ cách văn phòng Alpha Books ở Thái Hà chừng 500 mét, nơi ghi dấu vô vàn kỷ niệm thời niên thiếu. Cũng từ ngôi trường này, tôi có những tình bạn thân thiết kéo dài mãi đến tận bây giờ như Bạch Quốc Thắng sau này sáng lập Công ty thuốc thú y GreenVET, Lê Đình Cương làm nghề đá quý, Ngô Minh Đức, Chủ tịch công ty Du lịch HG Travel, Vũ Hồng Cương kinh doanh các thiết bị y tế, Trần Thanh Vân, lớp trưởng, nay làm ở Vietnam Airlines, Đặng Huỳnh Nga, Liên đội trưởng… và nhiều người bạn khác nữa ở khu Trung Liệt – Yên Lãng đó. Phía góc trường là hàng phi lao – nơi chúng tôi thường chơi đá bóng, bắn bi, đuổi bắt, giờ đây là con phố Thái Thịnh. Đằng sau là một cánh đồng lúa trải dài tới tận Láng Hạ. Từ khu Trung Liệt, chúng tôi còn phải bám vào cây rồi men theo bờ hồ, bờ ao tới trường. Đám chúng tôi đi dép cao su nên trong túi, trong cặp đứa con trai nào cũng có đôi rút dép. Đôi khi, chúng tôi phải mang ghế từ nhà hay áo nilon để làm ghế ngồi. Buổi chiều, chúng tôi còn phải xếp hàng mua bánh mì và gạo bằng tem, bằng phiếu cho gia đình. Cả tuổi thơ của chúng tôi là những câu chuyện gắn với tem, phiếu, gạo, dầu... nhưng đầy ắp thân thương. Chúng tôi thân thiết, gắn bó với nhau giống như những đứa trẻ trong một ngôi làng vậy. Cứ thế, chúng tôi lớn lên, khi trưởng thành vẫn gắn bó với nhau, nhớ về ngôi trường và vùng đất Trung Liệt, Thái Thịnh, Gò Đống Đa yêu dấu này. Những năm tháng ấu thơ của tôi gắn với cái nghèo và cuộc sống khó khăn, thiếu thốn đủ điều. Thật ra khi ấy nhà nào cũng nghèo. Cái nghèo của gia đình tôi cũng giống như mọi gia đình cán bộ nhà nước khi đó. Cuộc sống của một gia đình cán bộ nhà nước với năm miệng ăn trong những năm tháng ấy thật vất vả, ngoài số lượng tem phiếu được cấp theo quy định thì chẳng có gì khác. Nên giống như mọi gia đình khác, nhà tôi cũng nuôi vài con lợn, dăm bảy con gà, con ngan… tăng gia trồng rau ở mảnh đất trống gần nhà, nhận thêm những việc lặt vặt về làm để đổi gạo, đổi thứ nọ thứ kia cho gia đình. Cũng như nhiều bạn bè, hết giờ học ở trường về là tôi lại phụ giúp gia đình việc nhà. Chiều đến, học xong bài, mỗi tuần 1-2 lần


- 29 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU tôi cầm một cái rổ sề, đi dọc bờ đất chạy lên bãi rác Thành Công rộng mênh mông (nay là Trung tâm Điện ảnh Quốc gia đường Láng Hạ) để hái rau sam, đi vớt bèo hoa dâu ở mấy cái hồ quanh nhà về cho lợn, hay xách nước tưới rau. Mẹ tôi hay nhận việc về làm thêm, và tôi rất hào hứng tham gia. Tôi từng cuộn thuốc lá trong cái máy bằng gỗ hết sức thô sơ, nhưng nhiều nhất là bóc tỏi, bóc lạc thuê và kể cả việc se sợi. Có lẽ tinh thần yêu thích lao động và cả kiếm tiền nhen nhóm lên trong tôi từ những ngày đó. Đám trẻ con còn có trò nhặt hạt táo bán cho các bà đồng nát, nghe đâu là để làm thuốc. Bọn trẻ con chúng tôi cứ đi khắp các ngõ ngách để nhặt những hạt táo người ta ăn xong vứt đi, mang về gom trong một ống bơ để ở góc nhà, khi nào đầy một bơ thì mang đổi lấy gạo hoặc bán được vài hào. Chúng tôi cũng tìm nhặt các miếng nhôm, sắt vụn… để bán cho mấy bà đồng nát. Quãng năm 1984, mấy thứ việc nhỏ nhặt ấy là cơ hội để có thêm đồng rau đồng cháo, cũng như chuyện vài ba con lợn, con gà chính là gia tài lớn của mỗi gia đình. Có ký ức tôi không thể nào quên là chuyện bán lợn. Trong khu, nhà nào cũng nuôi lợn, nên tháng nào cũng dăm ba bận có nhà bán lợn, cứ khoảng năm giờ sáng , tiếng lợn bị chọc tiết đã kêu eng éc váng cả khu, không tài nào ngủ được. Nhưng hôm nào đến lượt nhà mình bán thì chị em chúng tôi vui và háo hức từ trước đó mấy hôm. Sáng sớm đã dậy để chờ người mua đến, rồi tiếng lợn kêu, sau khi con lợn được cạo sạch lông, người mua mổ lòng, xẻ thịt, cân thịt móc hàm mang đi và để lại cho gia đình bộ lòng, vài lạng thịt, thế là hôm ấy cả nhà được một bữa tươi cải thiện, ngon vô cùng. Vài tháng, có khi cả năm mới có được một bữa tươi ngon như thế. Những ngày hè học cấp I, tôi hay theo mẹ lên trường Đại học Dược, trong lúc mẹ làm việc thì tôi thơ thẩn đi chơi trong các phòng thí nghiệm, hay đi quanh trường Đại học Dược đẹp tuyệt vời đó. Thích nhất là bộ xương voi mamut (nay vẫn còn ở cạnh giảng đường Ngụy Như Kon Tum). Khi đó, tôi chưa hiểu nhiều về lịch sử và nguồn gốc của ngôi trường Đại học Đông Dương do Toàn quyền Pháp khi đó là Paul Doumer chỉ đạo xây dựng này. Sau này, buổi khai giảng


30 - NGUYỄN CẢNH BÌNH các khóa đào tạo lãnh đạo trẻ ABG cũng được tổ chức ở đây, mỗi lần như vậy, tôi lại bồ hồi nhớ lại những ngày tháng tuổi thơ êm đềm và đẹp đẽ đó!. Đến bữa trưa, hai mẹ con ăn chung cặp lồng cơm mẹ mang đi, chỉ có một quả trứng luộc với vài hạt lạc rang. Suốt những tháng ngày thơ bé, tôi chỉ ăn thứ gạo đỏ khô rộc, hạt rời rạc đến nỗi thành quen. Sau này khi đời sống đã khấm khá hơn, tôi vẫn không sao ăn được gạo tám, gạo dẻo, chỉ ăn được cơm khô, cơm cứng. Chính tại bộ môn Tinh dầu của trường Đại học Dược này là quãng thời gian đầu tiên tôi được tiếp xúc với khoa học khi cả ngày ngồi giữa các dụng cụ và máy móc, từ các bình chứa, phễu lọc, máy sấy, lò nung, nhiệt kế và nhiều đồ thí nghiệm khác. Được chứng kiến các cô chú làm thí nghiệm khoa học, đặc biệt là chưng cất tinh dầu, tôi thấy đó là những công việc thật tuyệt vời. Ước mơ đầu tiên của tôi là trở thành Edison – một nhà khoa học có những phát minh sáng chế, ước mơ đầu đời ấy được nuôi dưỡng, nhen nhóm từ những ngày tháng yên bình đó. Dạo ấy, hết thảy chúng tôi đứa nào cũng đói, cũng gầy gò nhom nhem, hãn hữu mới được bữa cơm có thịt, cá, dịp đặc biệt mới được ăn bánh kẹo. Những ngày giáp Tết, đám trẻ con đứa nào cũng náo nức chờ mong, vì chỉ có Tết mới được ăn bánh kẹo, mới có thịt. Gần Tết, nhiều nhà chất bí đỏ kín cả gầm chạn – sản vật họ tăng gia được, ngoài tiêu chuẩn tem phiếu để ăn dần cả năm. Chị cả tôi xếp hàng từ sáng sớm tới trưa ở quầy mậu dịch để đổi được vài gói kẹo lạc, vài gói bi ron ron mà đứa trẻ con nào cũng thích mê. Rồi bố chở tôi đi ra phố Hàng Bột để xếp hàng chờ làm bánh bích quy, mỗi nhà tự đùm nắm nào bột, nào sữa, nào trứng… rồi đưa phần mình cho hàng làm bánh, mấy tiếng sau thì quay lại lấy. Nhà nào có nhiều trứng, nhiều sữa thì bánh còn ngon, chứ nhà nào chỉ có hai, ba quả trứng thì bánh chỉ toàn bột mì. Bố mẹ thời nào cũng thương con, nhưng ở thời đói nghèo ấy, có thương cũng chẳng có gì cho con. Vào mùa hè, thỉnh thoảng lắm chị em tôi được bố mua cho một cái kem. Kem que hẳn hoi, chỉ


- 31 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU bán ở khu căng tin của Bộ Tổng tham mưu. Hôm nào ông mua kem, thường là vào cuối giờ chiều, ông cũng gói kem vào trong ba bốn lần giấy báo rồi đạp xe thật nhanh về nhà để kịp cho con ăn. Về đến nhà, khi tôi giở ra thì kem đã chảy đầy ra giấy, chỉ còn lại chừng hai phần ba cái thôi. Nhưng được thế là sung sướng lắm rồi, đó là phần thưởng ý nghĩa cho những lần đạt điểm cao, hay đơn thuần là tình yêu thương của cha mẹ dành cho con.  Giờ đây, nghĩ lại những ngày bần hàn ấy, tôi lại càng thương bố mẹ tôi nhiều hơn và cả thế hệ những người đi trước. Tôi thương mẹ tôi vì mẹ lúc nào cũng hy sinh, cần mẫn tìm hết việc nọ tới việc kia để làm thêm, kiếm thêm cho gia đình. Còn tôi thương bố tôi vì khi ấy ông cũng là một sĩ quan cấp tá, vậy mà nhiều lúc phải chịu ngượng, vì miếng cơm cho gia đình. Hằng năm, sĩ quan được cấp phát áo dạ, mũ cối, nhưng ông thường mang ra bán ở phố Trịnh Hoài Đức, những đồ như thế rất được giá, bán một cái mũ cối tàu phải đủ tiền ăn được cả tuần, nên bố tôi cứ dùng tiếp đồ cũ, đồ sờn, để dành đồ mới đem đi bán. Sau này, khi ông đã già, nhiều lần tôi cứ cáu um lên vì bố mẹ tôi có những đồ cũ không chịu bỏ đi, con cái muốn mua đồ mới thì lại thấy tiếc tiền. Quá khứ vất vả, bần hàn, chật chội… khiến con người quen với việc dành dụm, chi li, và thậm chí cả cam chịu, nhẫn nhịn với mọi điều dường như là vô lý của cuộc sống. Năm 1997, có lần ông Vũ Ngọc Nhạ – Cố vấn, nhà tình báo chiến lược nổi tiếng, khi ra Hà Nội đến nhà tôi chơi, cũng kể chuyện ngày đó phải bán hết cả mũ cối, áo dạ… để cải thiện bữa cơm cho gia đình. Còn gì cay đắng hơn khi những người lính, những sĩ quan – người hùng một thuở phải bán đi những món quà, hành trang ý nghĩa của mình trong cuộc đời binh nghiệp?


32 - NGUYỄN CẢNH BÌNH Tôi vẫn còn nhớ rất nhiều kỷ niệm về quãng thời gian nghèo khó ấy. Bạn bè tôi, trừ nhà vài đứa có điều kiện, còn lại đứa nào cũng nghèo, cũng đói. Những năm cấp I tôi thường qua nhà Bạch Quốc Thắng chơi. Nhà Thắng ngày đó đúng nghĩa là nhà tranh vách đất, vách dựng bằng những thanh tre đan lại với nhau rồi trộn bùn với rơm để trát vào, mái lợp bằng tranh. Lâu dần mấy cái vách đất ấy khô lại, nứt ra, hở những khe, những lỗ thủng lỗ chỗ quanh nhà. Những ngày mùa đông tôi sang nhà Thắng chơi, gió lùa qua vách nhà rét buốt người. Trong nhà tối om, chật chội, bụi bặm, đầy rơm rạ trên nền đất lồi lõm. Khu bếp lại càng tồi tàn, cũ kỹ nhưng chúng tôi đôi khi tan học về là chui vào để lục đồ ăn, thường chỉ là cơm nguội với cháy trong một cái nồi to đen sì những nhọ, thậm chí có cả đám ruồi bu đầy xung quanh. Bây giờ Thắng là Giám đốc Công ty GreenVET sản xuất thuốc thú y rất lớn ở Việt Nam. Còn nhiều những người bạn thơ ấu của tôi, sau này nhìn lại tôi càng thấy rõ hơn, có lẽ những ngày tháng gian khó, vất vả ấy đã tạo nên dấu ấn đặc biệt với tất cả chúng tôi. Nếu như đám con trai từng ác cảm với cái nghèo, ghét cái nghèo và sau này chỉ muốn kiếm thật nhiều tiền, thì mấy cô bạn hiền lành, ít phản kháng chọn cách thích nghi với điều kiện sống khó khăn và sống gần như tối giản, không có nhu cầu về vật chất, sắm sửa… Vũ Hồng Cương, một cậu bạn học cùng trường Thái Thịnh với tôi, nhà Cương rất nghèo và mẹ thường xuyên đau ốm. Nhưng ngày ấy điều kiện khám chữa bệnh, thuốc thang hạn chế, nên việc chạy chữa rất vất vả. Có thể chính vì ký ức buồn thương đó, mà Cương nhen nhóm quyết tâm phải thi bằng được vào ngành Y để trở thành bác sĩ. Nhưng rồi, sau này Vũ Hồng Cương không trở thành bác sĩ, mà trở thành một doanh nhân nhập khẩu thiết bị y tế công nghệ cao về Việt Nam. Có lẽ Cương ý thức được ý nghĩa của điều kiện sống, điều kiện khoa học đối với sức khỏe con người, giờ đã định cư ở Australia nhưng Cương vẫn đau đáu với cái nghèo nên vẫn tham gia chương trình ‘‘Cơm có Thịt’’ của anh Trần Đăng Tuấn, và không thôi ưu tư về các vấn đề xã hội.


- 33 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU Tinh thần yêu lao động, đức cần cù gắn với tất cả bạn bè tôi. Rất khác so với thế hệ 9X sau này, ý chí của chúng tôi mạnh mẽ hơn, tính bền bỉ, kiên trì cũng lớn lao hơn, nhưng ước mơ hầu hết có phần đơn điệu, thậm chí tẻ nhạt. Ít người có những giấc mơ lớn, năng lực thẩm mỹ, trình độ nghệ thuật, âm nhạc, hội họa... hay cả triết học, tâm linh, tư duy cũng hạn chế hơn. Tình cảm có phần khô khan, cứng nhắc… nhưng chân thật. Dù thích thú khi ôn lại thời bao cấp với niềm vui thơ trẻ, hồn nhiên, trong trẻo nhưng chúng tôi thấm nỗi buồn và hiểu sự thiệt thòi của những thế hệ sinh ra và lớn lên trong thời bao cấp. Lẽ ra, chúng tôi cần được nuôi dưỡng bởi một nền giáo dục đầy đủ, rộng mở và được học những kỹ năng, kiến thức, được sống đúng với tuổi thơ, được biết đến ánh sáng của khoa học, trí tuệ, của bầu trời, của thế giới… Nhưng suốt những năm tháng đó, điều kiện vật chất vô cùng thiếu thốn, không gian sống thì chật chội, không ai biết được bầu trời bao la của thế giới là thế nào. Tất cả chúng tôi coi sự nghèo khó, vất vả là đương nhiên, vì mọi người, mọi nhà đều như vậy cả. Không gian sống chật chội gánh nặng mưu sinh… đè nặng lên suy nghĩ mỗi người ngày đó. Suốt những năm 1990 đến tận những năm 2010, cùng với công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước, dần dần tư duy và hành động của chúng tôi mới được mở rộng. Dẫu vậy thì tuổi thơ trải qua khó khổ, nên ý chí vươn lên của chúng tôi rất lớn, nghịch cảnh không làm chúng tôi lùi bước, gian khó giúp chúng tôi mạnh mẽ hơn, bền bỉ hơn. Nhưng chúng tôi vẫn là những đứa trẻ thiệt thòi, như tôi thường nói với các em học sinh, sinh viên sau này: Cuộc sống và không gian sống của thế hệ chúng tôi chật chội, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.


34 - NGUYỄN CẢNH BÌNH Bầu bạn cùng sách vở SÁCH VỞ - NHỮNG CHÂN TRỜI MƠ ƯỚC Khi tôi còn nhỏ, vì bố tôi làm trong quân đội ít khi có mặt ở nhà nên người có ảnh hưởng nhiều nhất đến tôi là mẹ. Có những điều khi nghĩ lại tôi thấy bản thân thật may mắn, như việc mẹ tôi rất thích đọc sách. Tôi nhớ bà luôn kể với tôi rằng ngày bà 15-17 tuổi, khi còn ở trong quê Thanh Hóa, sách rất ít nên bà phải tìm mãi mới được một vài cuốn để đọc. Hồi đó, sách chủ yếu là các tiểu thuyết lãng mạn của nhóm Tự lực Văn đoàn như Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, hay các tiểu thuyết khác của Nhất Linh, nhưng quý và hiếm lắm. Sau này khi ra Hà Nội học Đại học Dược bà vẫn đi tìm sách vở, vẫn giữ thói quen đọc sách. Rồi khi mẹ tôi công tác tại trường Đại học Dược cùng những đồng nghiệp như ông Đỗ Tất Lợi, chú Pha là con ông Thế Lữ và bà Song Kim, những người tham gia Tự lực Văn đoàn, nên gia đình họ có rất nhiều sách, lại hay mang cho cả phòng mượn đọc. Ông Đỗ Tất Lợi là nhà nghiên cứu nổi tiếng về những cây thuốc Việt Nam và là con cháu của nhà Mai Lĩnh, một trong các nhà xuất bản đầu tiên của Việt Nam những năm 1940. Một may mắn nữa là trên đường từ cơ quan mẹ tôi về nhà đi qua phố Lê Văn Hưu và Hàn Thuyên, nơi đây có một cửa hàng cho thuê sách truyện. Mẹ tôi đi qua đó hay thuê truyện mang về. Thế là chúng tôi được đọc rất nhiều, cả sách mẹ mượn ở cơ quan lẫn sách thuê. Không chỉ được đọc sách, tôi còn được nghe kể nhiều chuyện hay. Mẹ tôi yêu thích sách vở, trong cơ quan có nhiều người đều yêu thích sách vở nên mọi người hay nói chuyện về sách vở, về văn chương, về cuộc sống và về những nhân vật trong quá khứ của Tự lực Văn đoàn, nhất là những chuyện về Nhất Linh, Hoàng Đạo,


- 35 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU Thạch Lam… Những câu chuyện đó dần thấm vào tôi mỗi ngày, hình thành nên ở tôi thói quen đọc sách từ lúc nào không biết, và rồi cũng hình thành dần trong tôi những suy nghĩ, nhận xét đầu tiên về cuộc sống và xã hội. Tôi chăm học từ nhỏ, trái với suy nghĩ chung về tôi bây giờ, ngày đó tôi có phần rụt rè, ít khi chơi với trẻ con trong khu nên học bài xong chỉ quanh quẩn ở nhà hay sang nhà mấy người bạn cùng lớp. Những lúc rảnh rỗi tôi thích vùi đầu vào sách vở. Độ sáu, bảy tuổi thì tôi biết đọc biết viết thành thạo, rồi do được tiếp xúc với sách vở sớm nên tôi thích đọc sách. Tôi đọc nhiều và bắt đầu bị ấn tượng bởi những cuốn sách hay. Tôi mê mải đọc những cuốn sách như Những vì sao đất nước, Trăng nước Chương Dương, Hai làng Tà Pình và Động Hía và vô số cuốn sách khác. Nhờ những cuốn sách này mà tôi hiểu về đất nước, về lịch sử, về những người anh hùng. Tôi cũng được truyền thêm tinh thần anh hùng, nghĩa khí từ những tấm gương được kể trong sách. Cuốn Hai làng Tà Pình và Động Hía ca ngợi tình bạn, sự thông minh, mưu trí, dũng cảm hy sinh của mấy cậu bé miền núi trong giai đoạn chống Pháp, tôi đọc và nhớ mãi. Những cuốn sách, những câu chuyện đó hun đúc trong tôi tình yêu với lịch sử, với đất nước, và có lẽ đó chính là tiền đề cho những chuyến đi của tôi sau này, cho sự tìm tòi của tôi về những nhân vật, con người và vùng đất… Năm tôi học lớp Bốn trường tổ chức cuộc thi kể chuyện, mỗi bạn lên kể một câu chuyện mình đã được đọc. Bạn bè tôi hay kể truyện cổ tích, những câu chuyện như Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn. Nhưng với tôi những truyện đó chẳng để lại ấn tượng gì. Đến lượt mình, tôi kể lại câu chuyện Hai làng Tà Pình và Động Hía. Một câu chuyện thật dài, vài chục trang sách, tôi đọc và kể lại theo trí


36 - NGUYỄN CẢNH BÌNH nhớ của mình. Những câu chuyện cảm động đó in sâu vào tâm trí còn non nớt của tôi. Vì cứ chúi mũi vào sách vở suốt ngày, dần dần tôi bắt chước, tự học và tập viết được vài chữ ngoại ngữ đơn giản, dù chẳng ai dạy, cứ tự xem sách, tra và đoán chữ để học. Lớp Năm, lớp Sáu, khi mùa hè đến, đám bạn hay qua nhà tôi hái quả sung rồi nằm lăn lóc dưới sàn nghe tôi kể chuyện Tam Quốc diễn nghĩa, mà tôi thuộc khi đọc ké cuốn sách của ông nội người bạn (ngày ấy, do xung đột Việt Nam và Trung Quốc nên sách loại này nhiều năm không được xuất bản). Lên lớp Sáu, học theo Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi, mấy thằng gồm tôi, Duy Tuấn (nay đang định cư ở Thụy Điển) và Việt Phương (nay là Giám đốc một công ty xuất nhập khẩu sách báo, có cửa hàng sách ngoại văn InfoStone trên phố Tràng Tiền) lấy quả mùng tơi bóp ra bôi lên tay để thề kết nghĩa vườn đào. Tôi được đặt biệt danh là Trương Phi vì nóng tính từ nhỏ, còn Duy Tuấn là Lưu Bị, Phương “tròn” là Quan Công. Nhưng được vài tuần thì tan, vì chúng tôi lại cãi nhau. Dần dần lên lớp Bảy, lớp Tám, tôi bắt đầu đọc những cuốn sách khó, ít có đứa trẻ nào thích đọc. Đó là những cuốn tiểu thuyết do mẹ tôi mượn hoặc thuê về. Tôi đọc cuốn tiểu thuyết Jăng-Krixtốp của Romain Rolland1 , hay những tiểu thuyết như Ruồi trâu2 , Thép đã tôi thế đấy, Trăm năm cô đơn… Bây giờ có thể các bạn 14-16 tuổi đã đọc những truyện đó rồi, nhưng vào thời điểm năm 1986 – 1987, 1. Romain Rolland (1866-1944): Nhà văn, nhà viết kịch Pháp; nhận giải Nobel văn học 1915 vì tính lí tưởng cao cả của các tác phẩm văn học, vì sự cảm thông và tình yêu chân lý. Tiểu thuyết Jean Christophe lấy cảm hứng từ cuộc đời của Beethoven mang lại cho R. Rolland danh tiếng thế giới. 2. Ruồi trâu (tên gốc: The Gadfly) là tên một cuốn tiểu thuyết của Ethel Lilian Voynich, xuất bản năm 1897. Nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam đã lớn lên dưới ảnh hưởng của tác phẩm này và tinh thần khắc kỷ của nhân vật chính – Arthur bí danh “Ruồi trâu”, chàng thanh niên đã hiến dâng cả cuộc đời, hy sinh tất cả tình cảm riêng tư cho lý tưởng cách mạng.


- 37 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU sách vở ít, hầu như chẳng có gì để đọc, thì việc đọc những cuốn sách đó giống như đột nhiên lạc bước vào một thế giới mới, bước vào những thế giới nội tâm, những cuộc đấu tranh giằng xé, những cuộc chiến tranh giữa thiện và ác, gặp gỡ những người anh hùng như Pavel Corsagin... Chúng tác động lớn đến tâm trí tôi, khiến tôi trăn trở, suy tư, ngẫm nghĩ nhiều về những điều dường như vượt quá trí óc của một đứa trẻ thường vẫn chỉ quen với sách giáo khoa và những câu chuyện thường ngày. Tôi kể những chuyện này để mọi người thấy chúng tôi bị ảnh hưởng bởi sách vở thế nào, và đó là lý do tôi nhận ra ý nghĩa của sách, của những câu chuyện trong sách tác động đến con người, và xa hơn là ảnh hưởng đến xã hội thế nào. Đó là sự khởi đầu cho niềm tin của tôi về sách và xuất bản, về ý nghĩa và giá trị của sách đối với con người, góp phần hình thành những ý tưởng đầu tiên để tôi theo đuổi câu chuyện về chữ nghĩa, sách vở sau này. Những năm tháng đó, tôi cứ thế nghiền ngẫm những cuốn sách mà bố mẹ tôi mang về và những cuốn sách tôi mượn được từ bạn bè. Nhưng rồi khi trưởng thành hơn, tôi bắt đầu chịu ảnh hưởng từ bố tôi, từ công việc và những cuốn sách của ông. Vì là con trai một nên từ nhỏ tôi thường được bố tôi cho đi theo, khi tha thẩn chơi loanh quanh, tôi ngồi hóng nghe câu chuyện của ông và các chú, các bác lớn tuổi. Tôi cứ tha thẩn chơi, tha thẩn lắng nghe mọi chuyện, rồi có thể trong vô thức tôi cũng chịu ảnh hưởng từ các buổi nói chuyện đó của bố tôi – một người có khả năng kể những câu chuyện chính trị xã hội thật dễ hiểu và lôi cuốn. Ông có điều kiện tiếp xúc, hiểu biết nhiều và cũng thích nói chuyện với người khác. Ngoài các buổi nói chuyện ở nhà tôi và ở nhà các bác, các chú cùng cơ quan thì mỗi lần về quê, cả ở Đô Lương và Sim, tối đến, nhiều người họ hàng, chòm


38 - NGUYỄN CẢNH BÌNH xóm đều quây quần ở nhà ông bà tôi để nghe bố tôi nói chuyện. Bố tôi hay kể những câu chuyện thời sự chính trị, xã hội của đất nước, về công cuộc đổi mới, về những tranh đấu và những khó khăn của cuộc sống, những trăn trở thời cuộc của các tướng tá quân đội và giới học giả, trí thức mà ông quen biết. Do điều kiện công việc nên ông cũng kể rất nhiều chuyện về Liên Xô và các nước Đông Âu, cả những chuyện về Mỹ và Trung Quốc. Không hiểu sao tôi rất thích thú theo dõi những câu chuyện đó. Bạn bè, họ hàng hay các bác quen với bố tôi cũng thường qua nhà tôi hỏi thăm và nói chuyện với bố tôi như bác Phạm Như Cương, từng làm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia – nơi giờ đây tôi thường tới làm việc). Ông Phạm Như Cương cũng quê ở Đô Lương, làm trưởng nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Marx – Lenin những năm sau Cách mạng tháng 8, mà bố tôi cũng tham gia nhóm này, hay chú Phạm Hào (chồng O Trân là con gái họ Nguyễn Cảnh), làm bên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, ông Nguyễn Cảnh Toàn, khi đó làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục, chú Nguyễn Cảnh Dinh, Bộ trưởng Bộ Thủy Lợi, chú Nguyễn Cảnh Chất, Tổng công trình sư Cầu Thăng Long… Tôi còn bé chưa hiểu nhiều những câu chuyện mà bố tôi và các bác, các chú nói với nhau, nhưng tôi biết đó là những chuyện rất nghiêm trọng, rất lớn lao. Đó là những câu chuyện về đất nước, về quê hương, về dòng họ, về các chính sách hay các nhà lãnh đạo của đất nước. Những câu chuyện như thế kích thích tôi tìm tòi tự học, tự đặt câu hỏi và tự đi tìm câu trả lời. Bố tôi cũng mang nhiều sách báo từ cơ quan về nhà nghiên cứu. Vì ông làm trong Cục Tình báo nên có những cuốn sách mà bên ngoài không có, nhất là những tài liệu tham khảo đặc biệt. Nhờ vậy tôi được đọc những câu chuyện lạ lẫm với một đứa trẻ, và chính việc đọc các thông tin đó làm cho suy nghĩ của tôi khác đám bạn học cùng. Trong khi đám bạn tôi đọc truyện tranh, sách ôn thi, sách bài tập hay giáo khoa… thì tôi lại tò mò và háo hức đọc những tài liệu


- 39 SINH NĂM 1972: KHÁT VỌNG SỐNG CỦA KẺ ĐI NGƯỢC CHIỀU tham khảo đặc biệt và các cuốn sách, các tập tài liệu của bố. Tôi đọc tất cả những thứ đó vì ở nhà không có việc gì, học bài một loáng là xong hết và không khó khăn gì với tôi. Rồi sau này, trong nhiều năm trời, cho đến cả sau khi nghỉ hưu, tuần nào bố tôi cũng hai lần vào Thư viện Quân đội ở Phố Lý Nam Đế để mượn sách về cho tôi đọc. Ban đầu, có lẽ chỉ là chiều chuộng cậu con trai, rồi xa hơn ông muốn tôi mở mang hiểu biết. Chính những việc đó đã định hình nên tương lai và cả sự nghiệp của tôi, điều mà ngày đó ông không sao hình dung được. Những năm 1985 – 1986, thông tin thật ít ỏi, còn thông tin từ nước ngoài thì chỉ những người làm công việc đặc biệt như bố tôi mới tiếp cận được. Thậm chí, thời đó có lẽ việc nghe tin tức nước ngoài như bản tin tiếng Việt của BBC hay RFI, cả đài phát thanh của Trung Quốc có thể xem là bị cấm. Ai muốn nghe các đài như BBC thường phải lén nghe chứ không nghe tự do, thoải mái ở chỗ công cộng bao giờ. Thế nên những thông tin tài liệu của bố tôi mang về cuốn hút tôi lạ lùng, dần dần tôi say mê chúng hơn nhiều so với việc học trên trường. Tôi đọc miệt mài tin tức về tình hình thế giới, tình hình biến động ở Liên Xô và Đông Âu, những đánh giá của Mỹ về Việt Nam…Tôi cũng bắt đầu nghe láng máng tin về Đổi mới, về biến động ở Đông Âu và Liên Xô, lần đầu tiên nghe đến những bình luận và sự trông đợi kỳ vọng lớn về Gorbachev qua những câu chuyện bố tôi kể… Những cuốn sách mẹ tôi mang về và những bản tin tham khảo, tài liệu của bố dần dần tạo nên thay đổi rõ rệt ở tôi, nhất là khi tôi lên cấp III, bắt đầu nhận thức về thế giới và cuộc sống. Tôi dần nhận ra rằng ngoài kia, ngoài cái thế giới đơn giản tôi đang sống còn vô số những điều mà mình không được biết. Trên thế giới hay ở đâu đó, ở quốc gia nào đó có những câu chuyện mà mình không thể tưởng tượng được. Những điều đã và đang diễn ra trên thế giới thật khác với những gì tôi được học ở nhà trường. Và ngay ở Việt Nam, có những câu chuyện, những bi kịch, những cay đắng cả trong quá khứ và trong thời hiện đại chưa được


40 - NGUYỄN CẢNH BÌNH nhắc tới, thậm chí mọi người còn chẳng biết là chúng đã từng tồn tại. Chúng cho tôi hiểu rằng có một thế giới mới, có những khoảng trống mà sách vở bình thường chưa nói tới. Tôi cũng tò mò về nhiều cái tên mà tôi chưa bao giờ nghe đến, chưa bao giờ được học về họ, như Phan Văn Trường, Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Nguyễn An Ninh và rồi sau này những năm tháng sống ở Sài Gòn giúp tôi biết đến những nhân vật như Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Trần Trọng Kim, Nhượng Tống... Những thông tin đó kích thích, những nhân vật đó lôi cuốn tôi, khiến tôi tò mò, suy nghĩ về nó. Và quan trọng hơn, những thông tin đó hé mở nhiều điều và chúng nói với tôi rằng còn một thế giới bao la khác mình cần phải biết, phải tìm hiểu nhiều hơn nữa. Càng đọc, tôi càng thấy háo hức và khao khát những bầu trời mới, tri thức mới. Tôi muốn biết nhiều hơn về các nhân vật từng bị quên lãng. Có lẽ sự tò mò của tuổi trẻ, sự ham hiểu biết đã thôi thúc tôi tìm kiếm những chân trời mới, tự trả lời cho những câu hỏi của chính mình. Hẳn là vì sự khác biệt đó mà suốt thời niên thiếu, tôi không có mấy bạn bè trong khu tập thể. Tôi cũng không thích chơi với bọn trẻ hàng xóm vì chúng không nói chuyện về những gì tôi biết, chúng không cho tôi chơi những trò tôi không giỏi, những trò chúng thường chơi. Tôi không có mấy bạn bè, không đi đâu chơi, chỉ quanh quẩn trong nhà với sách. Và cứ thế, những thông tin cứ ngấm dần, chảy dần vào tôi. Cả hai điều đó đã giúp tôi có được thế giới quan, từ lý thuyết đến những câu chuyện và con người thực tế từ khi còn rất nhỏ.


Click to View FlipBook Version