HEAVEN AND HELL: THE PSYCHOLOGY OF THE EMOTIONS by Neel Burton Copyright © Neel Burton, 2023 This edition of “Heaven and Hell: The Psychology of the Emotions” is published by arrangement with Neel Burton All rights reserved. THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC: TÂM LÝ HỌC VỀ 26 LOẠI CẢM XÚC Tác giả: Neel Burton Bản quyền tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2023 Tác phẩm này được xuất bản dựa trên thỏa thuận độc quyền giữa tác giả Neel Burton và Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam Bản dịch tiếng Việt © Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam, 2023 Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam xuất bản, bìa mềm, tay gấp, 2023. Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam - thành viên của Alpha Publishing Group. CÔNG TY CP SÁCH OMEGA VIỆT NAM (OMEGA PLUS) thành lập tháng 9/2016 với định hướng xuất bản tri thức nền tảng trong lĩnh vực Khoa học Nhân văn, Khoa học Tự nhiên, Chính trị - Xã hội, Triết học, Nghệ thuật… Đến nay, chúng tôi đã xuất bản gần 300 đầu sách thuộc 7 tủ sách, bao gồm: Kinh điển, Sử Việt, Khoa học, Nhân vật Vĩ đại, Nghệ thuật, Tủ sách Đời người, và Tủ sách Y sinh (Medinsights). Thông qua việc xuất bản các ấn phẩm có giá trị, mang hàm lượng tri thức cao, qua các hoạt động nhằm đưa tri thức hữu ích đến cộng đồng; Omega Plus mong muốn đóng góp theo cách riêng vào sự phát triển đang ngày càng mạnh mẽ của xã hội. Không phần nào thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam và được chủ sở hữu nhượng quyền trong xuất bản phẩm này được phép sao chép, lưu trữ trong hệ thống truy xuất hoặc truyền đi dưới bất kỳ hình thức nào hoặc bằng bất kỳ phương tiện nào gồm điện tử, cơ khí, sao chụp, ghi âm hoặc mọi hình thức và phương tiện khác mà không có sự cho phép trước bằng văn bản của Công ty Cổ phần Sách Omega Việt Nam. Chúng tôi luôn mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của quý vị độc giả để sách ngày càng hoàn thiện hơn. Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam Burton, Neel Thiên đường và địa ngục : Tâm lý học về 26 loại cảm xúc / Neel Burton ; Giang Thảo dịch. - H. : Dân trí ; Công ty Sách Omega Việt Nam, 2023. - 248 tr. ; 20 cm ISBN 978-604-474-917-4 1. Tâm lí học 2. Cảm xúc 152.4 - dc23 DTM0476p-CIP Góp ý về sách, liên hệ về bản thảo và bản dịch: [email protected] Liên hệ ebooks, hợp tác xuất bản & truyền thông trên sách: [email protected] Liên hệ dịch vụ bản quyền, xuất bản, ký gửi và phát hành: [email protected]
ĐƠN VỊ HỢP TÁC TRUYỀN THÔNG https://www.facebook.com/tramdocvn website: http://tramdoc.vn/ ĐỘI NGŨ TRIỂN KHAI OMEGA+ Phụ trách xuất bản: Trần Hoài Phương Điều phối sản xuất: Hương Nguyễn Biên tập viên: Dương Thùy Chi Thiết kế bìa: Hoàng Duy Khánh Trình bày: Vũ Lê Thư Thư ký xuất bản: Giang Vũ
– 5 Mục lục Cánh cửa để hiểu chính mình......................................................... 7 Về tác giả ........................................................................................................14 Lời tựa................................................................................................................15 Giới thiệu.........................................................................................................17 01 Buồn chán..................................................................................40 02 Cô đơn ...........................................................................................50 03 Lười nhác.....................................................................................60 04 E ngại, xấu hổ và tội lỗi ....................................................67 05 Kiêu hãnh.....................................................................................73 06 Hợm hĩnh....................................................................................80 07 Sỉ nhục...........................................................................................86 08 Khiêm tốn...................................................................................94 09 Biết ơn .........................................................................................105 10 Ganh ghét..................................................................................112 11 Tham lam..................................................................................120 12 Mong muốn.............................................................................128 13 Hi vọng ........................................................................................140 14 Hoài vọng ..................................................................................149 15 Tham vọng................................................................................158
6 – 16 Tức giận ......................................................................................166 17 Kiên nhẫn...................................................................................172 18 Tin tưởng....................................................................................179 19 Tha thứ ........................................................................................187 20 Thấu cảm...................................................................................198 21 Tình yêu.....................................................................................205 22 Hôn................................................................................................209 23 Cười................................................................................................ 214 24 Tự tôn...........................................................................................220 25 Kinh ngạc................................................................................. 227 26 Ngây ngất..................................................................................234 Lời kết............................................................................................................ 239 Giới thiệu loạt sách Ataraxia ........................................................ 241 Tài liệu tham khảo................................................................................243
– 7 Cánh cửa để hiểu chính mình Tôi nhận được bản thảo để đọc và viết cảm nhận về ba cuốn sách của Neel Burton trong những ngày đang rất bận. Nhưng tôi vẫn hào hứng nhận lời vì nghĩ rằng mỗi khi đọc một cuốn sách bản thân mình sẽ được biết thêm điều gì đó mới hoặc biết thêm những cách tiếp cận mới cho điều mình đã biết. Tôi đã tìm được những luận điểm, nội dung mà tôi thật tâm đắc, thấy rất thú vị từ góc nhìn và suy ngẫm của tác giả. Từ việc hiểu về các cảm xúc trong cuốn Thiên đường và địa ngục, đến việc hiểu các cơ chế phòng vệ tâm lý đã được Neel Burton đề cập đến trong cuốn Trốn và tìm, cùng những nội dung chi tiết về các chứng rối loạn tâm thần, những câu hỏi mang tính triết học, nhân văn sâu sắc trong cuốn Ý nghĩa của sự điên loạn. Ba tác phẩm này của nhà tâm lý Neel Burton là ba bước quan trọng để dẫn giải cho chúng ta trong hành trình chữa lành, hiểu chính mình và kết nối với bản thân một cách hòa bình. Trong một xã hội mà guồng quay hướng tới thành công và tôn vinh những hành động tạo ra giá trị, dường như những cảm xúc của con người, đặc biệt là những cảm xúc tiêu cực, có xu hướng bị gạt sang một bên. Và ta thường nhận được lời khuyên rằng hãy chỉ nên nghĩ đến những điều tốt đẹp và tích cực, bởi quá khứ đã qua
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 8 – hãy để nó qua đi, đừng nghĩ đến những cảm xúc tiêu cực nữa vì nó chỉ cản trở sự phát triển sắp tới mà thôi. Tuy nhiên, dưới góc độ tâm lý, mọi cảm xúc của con người đều có lý do để xuất hiện và tồn tại. Ngay cả với những cảm xúc tiêu cực, mỗi cảm xúc đều có lý do chính đáng, chỉ là nó chưa được hiểu một cách chính xác. Nếu như cảm xúc tiêu cực (một cách khách quan hơn, ta có thể gọi nó là “cảm xúc không mong muốn”) là một trong số những lý do khiến chúng ta tìm đến các phương pháp trị liệu tâm lý để giải thoát khổ đau thì thay vì cố gắng gạt bỏ hay xua đi cảm giác khổ đau, ta hãy tĩnh tại lắng nghe cảm giác ấy để thực sự hiểu nó. Lắng nghe một cách khách quan, không phán xét, để cho những nỗi niềm, cảm xúc, suy nghĩ của mình được thành thật bày tỏ là một bước quan trọng để mở cánh cửa chữa lành vào căn nguyên của nỗi đau, thấu hiểu bản thân và phát triển lành mạnh. Thiên đường và địa ngục là cuốn sách khám phá tâm lý và triết lý của cảm xúc giúp chúng ta có cái nhìn khách quan về từng cảm xúc. Người viết không gán cho cảm xúc đó là tích cực hay tiêu cực mà chỉ đưa ra tên gọi của trạng thái cảm xúc đó như thể tôi tên là “Hương Giang” và cảm xúc đó tên là “Buồn chán” hoặc “Cô đơn” hay “Biết ơn”. Cuốn sách thảo luận về sự tồn tại của cảm xúc trong cuộc sống con người và suy ngẫm về vai trò của cảm xúc trong việc thể hiện nhu cầu của một cá nhân. Và đôi khi nhìn, lắng nghe sâu ta sẽ nhận ra rằng cảm xúc chính là những tín hiệu thông báo cho ta hiểu về chính mình và biết cần phải làm gì đó để thay đổi theo cách phù hợp, tốt đẹp cho cuộc sống của mình.
C á nh c ử a để h iểu ch í nh m ì nh – 9 Từ việc chỉ lắng nghe mà không phán xét những biểu hiện của cảm xúc đến việc cho mình nhìn nhận và thừa nhận những vấn đề tâm lý, những rối loạn tâm thần như trong cuốn Ý nghĩa của sự Điên loạn mà Neel Burton đề cập đến, là những bước quan trọng để chúng ta mở ra cánh cửa chăm sóc sức khỏe tinh thần cho bản thân và những người thân yêu. Cuốn sách đưa ra những bàn luận về ý chí tự do của con người, những câu hỏi và cách đặt vấn đề mang tính triết học, những phương pháp trị liệu tâm lý, những thí nghiệm khoa học và câu chuyện lịch sử mà Neel Burton viết một cách tự nghiệm. Đó cũng là những câu hỏi trong đầu những ai đang thắc mắc về các phản ứng tâm lý của cá nhân, về cách ứng xử trong xã hội và các vấn đề vướng mắc trong đời sống tinh thần của con người khiến cho cuốn sách trở nên rất thú vị, đáng để đọc kỹ. Và đối với tôi, điều quan trọng là cuốn sách đóng góp vào việc nhìn nhận một cách khách quan, công bằng về những vấn đề tâm lý, những rối loạn tâm thần như một phần của đời sống con người và hoàn toàn xứng đáng được quan tâm, nghiên cứu và tìm ra những giải pháp thấu đáo. Từ đó, giúp cho những cá nhân đang gặp phải khó khăn có thể vượt qua khỏi những rào cản tâm lý để tìm đến sự hỗ trợ của các chuyên gia. Vì cũng giống như sức khỏe thể chất, có những vết thương, những căn bệnh mà ta có thể tự chăm sóc nhưng có những vết thương phải được người có chuyên môn chữa trị. Cơ chế phòng vệ là một khái niệm quan trọng trong ngành tâm lý trị liệu mà nếu quan tâm đến lĩnh vực tâm lý thì chúng ta nhất thiết cần tìm hiểu. Trong cuốn sách
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 10 – Trốn và tìm, Neel Burton đã nhắc đến sự tự huyễn như là những cơ chế phòng vệ của bản ngã mà rất “phổ biến trong xã hội và cũng chính là nguyên nhân gây ra những bi kịch tột cùng của nhân loại”. Những cơ chế phòng vệ này như những chiếc mặt nạ mà trong quá trình lớn lên, từ một đứa trẻ cho đến khi trở thành người lớn, chúng ta dần phải khoác lên để bảo vệ cho sự tồn tại của mình. Khi còn nhỏ chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của những người nuôi dưỡng và của cộng đồng xung quanh. Đứa trẻ chưa đủ phát triển về thể chất và tinh thần để tự do lựa chọn, quyết định cuộc sống của mình. Đó là cơ chế sinh tồn mà chúng ta buộc phải sử dụng để tránh bị tổn thương, để được chấp nhận trong một cộng đồng. Đặc biệt, đối với những đứa trẻ lớn lên trong môi trường thiếu sự chăm sóc về thể chất, tinh thần, bị chấn thương tâm lý thì kể từ thời điểm mà tổn thương xảy ra, vì sợ lại bị tổn thương thêm hoặc phải che giấu đi những hổ thẹn của bản thân nên đứa trẻ cảm thấy không an toàn và không dám sống thật với những người xung quanh, kể cả cha mẹ hoặc bất kỳ ai. Vì bất lực, bế tắc, cho rằng không thể có cách nào để chữa lành, đáp ứng, bù đắp cho những khát vọng thật của mình nên đứa trẻ phải dần học cách quen với việc chấp nhận nỗi thất vọng, để có thể “lờ” đi một thực tại mà mình không mong muốn và tiếp tục sống, duy trì sự tồn tại, tiến về phía trước. Những chiếc mặt nạ này như một sự tự huyễn mà cá nhân sử dụng không phải để lừa dối ai cả mà chỉ là để phòng vệ, nhằm mong được xung quanh đón nhận, yêu thương, coi trọng. Nhưng theo thời gian, những công cụ này dần trở nên không còn lành mạnh, không còn phù
C á nh c ử a để h iểu ch í nh m ì nh – 11 hợp nữa và trở thành rào cản gây nên sự mất kết nối của cá nhân với chính mình, với những người xung quanh và với những niềm vui chân thực ở hiện tại. Đặc biệt nó còn gây ra những mâu thuẫn, xung đột, tổn thương trong các mối quan hệ. Những cơ chế này như những vòng lặp luân hồi, nối tiếp giữa các cá nhân với cá nhân, thế hệ với thế hệ. Cho đến khi một cá nhân nhận ra năng lực và ý chí tự do của mình để chủ động lựa chọn thực hiện chữa lành tổn thương, tháo gỡ, buông bỏ những cơ chế phòng vệ không lành mạnh để trở về là chính mình một cách chân thực, tự do, cân bằng thì vòng luân hồi sẽ dần được thay đổi. Về tinh thần, môi trường sống của con người sẽ có thêm nhiều khoảng thở và trở nên thanh bình bên nhau. Trong quá trình tiến hóa, con người đã dùng thật nhiều tâm trí để hiểu cách vận hành của thế giới bên ngoài. Từ cuộc cách mạng nông nghiệp làm sao để nước chảy vào ruộng rồi có thức ăn tích trữ, đến cuộc cách mạng công nghiệp làm sao để tạo ra những cỗ máy tự động, hay cuộc cách mạng công nghệ làm sao để thay thế được con người. Phải chăng ta đã và đang dành thật nhiều thời gian để hiểu và học cách vận hành thế giới bên ngoài mà chưa đủ tâm niệm để tìm hiểu về thế giới bên trong mình? Ta được phổ cập để biết đường ống nước chảy với áp suất lớn ra sao thì sẽ vỡ van nhưng ta không biết khi mình căng thẳng thì các mạch máu co thắt và phản xạ của mình với xung quanh sẽ thế nào. Ta luôn phải “nhìn vào người khác để mà sống” thay vì “nhìn vào mình để mà sống”. Chiến tranh giữa con người xảy ra là bởi vì con người chưa hiểu chính mình. Khi ta hiểu bóng tối và ánh sáng
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 12 – của chính mình một cách sâu sắc, ta sẽ hiểu được những người khác một cách nhân ái và bao dung. Khi ta thực sự cảm thương hàn gắn trọn vẹn được nỗi đau của ta, ta sẽ không gieo phóng nỗi đau ấy cho người khác. Khi ta đón nhận, ôm lấy những hạn chế của ta, ta sẽ bớt khắc nghiệt phán xét những hạn chế của người khác. Tôi tin rằng nhiệm vụ của tâm lý học là để cho con người hiểu và hòa bình với chính mình. Một người có hòa bình với chính mình, người đó sẽ có hòa bình với người khác. Điều đó sẽ góp phần cho hòa bình thế giới, hòa bình giữa con người với con người. Ba tác phẩm này góp phần cho người đọc thấy một chuỗi tâm lý. Ban đầu là đối diện chân thực với những cảm xúc của mình, gọi tên một cách chính xác trạng thái cảm xúc đó để hiểu nó, quan sát và thừa nhận những triệu chứng không lành mạnh về sức khỏe tinh thần, và bóc ra được từng chiếc mặt nạ hay còn gọi là cơ chế phòng vệ đã “lỗi thời” mà ta đang dùng để đối phó với những nỗi đau thầm kín mình đang có. Bằng việc đưa những cơn đau nhức ấy ra ánh sáng của sự yêu thương, chúng ta sẽ hiểu được tận sâu vào những nguồn cơn của các vấn đề tâm lý, hóa giải thấu đáo và giải phóng phát triển bản thân một cách thăng hoa, phù hợp với con người nguyên bản của mình. Nhà trị liệu tâm lý Giang Kate
Tâm trí là một cõi riêng, chốn ấy Có thể tạo nên thiên đường từ địa ngục và địa ngục nơi thiên đường. — Milton, Thiên đường đã mất
14 – Về tác giả Tiến sĩ Neel Burton, FRSA1 – ủy viên Hiệp hội Nghệ thuật Hoàng gia Anh (RSA) – là một bác sĩ chuyên ngành tâm thần học, một người thích rượu vang, hiện sống và giảng dạy tại Oxford, Anh. Ông là ủy viên của trường Green-Templeton, thuộc Đại học Oxford, là chủ nhân của nhiều giải thưởng sách, nổi bật là giải Xuất sắc của World Gourmand Award. Ông thường cộng tác với các tạp chí Aeon, Psychology Today và có nhiều tác phẩm được dịch sang nhiều thứ tiếng. Khi không đọc, viết hay nghiền ngẫm, ông thích nấu ăn, làm vườn, học ngoại ngữ, đi thăm các bảo tàng, vườn cây cũng như du lịch, nhất là tới những vùng làm rượu vang đầy nắng. www.neelburton.com 1. RSA là cộng đồng người thành đạt và có ảnh hưởng thuộc nhiều lĩnh vực, ủy viên của họ được sử dụng danh hiệu FRSA sau tên của mình. Ủy viên RSA có thể là doanh nhân, nhà báo, kiến trúc sư, kỹ sư cho đến nhà khoa học, nhà lãnh đạo cộng đồng, nghệ sĩ... (Người dịch – ND)
– 15 Lời tựa Khi tôn giáo và các cấu trúc xã hội truyền thống bị suy yếu, cảm xúc con người, dẫu kém thích nghi với thời hiện đại, ngày càng đóng vai trò lớn trong đời sống của chúng ta. Ta vẫn luôn nói rằng cảm xúc điều khiển chúng ta và điều này hiện nay còn đúng hơn bao giờ hết. Vượt trên cả lý trí và truyền thống, chính cảm xúc là thứ quyết định lựa chọn của mỗi con người về nghề nghiệp, người phối ngẫu, tính chính trị, mối quan hệ của ta với tiền bạc, tình dục và tôn giáo. Chẳng gì khiến ta thấy được sống, được làm người hay bị tổn thương nhiều hơn chính cảm xúc của ta. Dẫu vậy, ngạc nhiên làm sao, các cảm xúc bị trường học, rộng hơn là xã hội bỏ lơ, khiến cho hàng triệu cuộc đời không được sống đúng nghĩa. Cuốn sách này bắt nguồn từ một loạt bài trên tạp chí Psychology Today (Tâm thần học ngày nay). Phần giới thiệu dày đặc thông tin mang tính kỹ thuật, độc giả phổ thông có thể bỏ qua để tới thẳng với Chương 1 về sự buồn chán. 26 chương sách theo từng chủ đề được thiết kế có chủ đích để bạn đọc theo đúng thứ tự, bắt đầu với sự buồn chán và kết
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 16 – thúc, với đôi chút hi vọng cũng như ngây ngất – tuy nhiên, mỗi chương đều tương đối độc lập, bạn hoàn toàn có thể đọc qua lại chỗ này, chỗ khác của cuốn sách và tiến theo bất kỳ nhịp độ nào, thậm chí là không cần trình tự gì. Tôi sẽ tiếp tục với việc giải thích trong phần mở đầu, rằng cảm xúc có mối gắn kết chặt chẽ với tính cách, tâm trạng, mong muốn, nhận thức và niềm tin. Vì thế, tôi chọn cách định nghĩa về “cảm xúc” thoáng hơn và đưa vào trong các chương sau, như là mong muốn, tham vọng và cười đùa. Nhưng sẽ không có những chương chuyên nói về sợ hãi và nỗi buồn (hay lo âu và trầm cảm), vì tôi đã bàn rất sâu về những cảm xúc đó trong cuốn Ý nghĩa của sự Điên loạn, cuốn đầu tiên của loạt sách Ataraxia. Tôi hi vọng độc giả sẽ đọc cuốn sách một cách thích thú, như khi tôi viết nó vậy, điều này giúp ích cho các bạn cũng như cả tôi. Kiểm soát cảm xúc là kiểm soát bản thân và kiểm soát bản thân chính là kiểm soát số phận.
– 17 Giới thiệu Cảm xúc là gì? Không có lời đáp rõ ràng cho câu hỏi đó. “Cảm xúc” (emotion) là một thuật ngữ tương đối mới và nhiều ngôn ngữ không có khái niệm tương đương. Trước kia, người ta không nói về cảm xúc mà họ nói về đam mê. Đam mê bao hàm không chỉ cảm xúc mà còn cả sự thỏa mãn, nỗi đau và mong muốn. Đam mê (passion), giống như sự bị động (passivity), có nguồn gốc từ tiếng Latin patere, có nghĩa là sự chịu đựng. Thường thì niềm đam mê thụ động (passive passions) không nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta, và hiện nay thuật ngữ này được dùng để chỉ cảm giác hay mong muốn thôi thúc mạnh mẽ, đặc biệt là trong tình yêu hay sự luyến ái, mặc dù còn giữ lại được một chút nghĩa từ thời Trung Cổ về sự khổ hạnh của Chúa Giê-su trên cây thánh giá hay tử vì đạo của các vị thánh. Khái niệm về sự bị động còn sót lại trong cảm xúc vốn có nguồn gốc từ tiếng Latin emovere với nghĩa là “chuyển ra ngoài, loại bỏ, kích thích”. Trải nghiệm một cảm xúc, theo cách ta thường nói, là khi ta bị điều khiển, quấy rầy và chi phối.
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 18 – Nhiều nhà tư tưởng đã đặt sự đam mê mang “thú tính” đối lập với sự tĩnh tại, có niềm tin ở Chúa; với nhiều tác giả theo trường phái từ Khắc kỷ tới Spinoza đã đi xa đến mức cổ xúy sự lãnh đạm, nghĩa là dập tắt các cảm giác, cảm xúc và mối lo. Không may là, sự biện giải cao sang trong lịch sử này không đè nén được những cảm giác khi mà nó gần như không được để tâm tới. Ngày nay, hầu hết mọi người đều quá thờ ơ với cảm xúc đến mức quên đi mạch ngầm đang đưa đẩy, níu giữ và khiến họ lạc lối. * Nếu tôi nói rằng: “Tôi biết ơn”, có thể hiểu theo ba cách: tôi hiện đang cảm thấy biết ơn vì điều gì đó, tôi thường sẽ thấy được ân huệ với điều đó, hoặc tôi là kiểu người biết ơn. Tương tự vậy, nếu tôi nói “Tôi tự hào” thì có thể là tôi hiện đang thấy tự hào về điều gì đó, tôi thường thấy tự hào về điều ấy, hoặc tôi là kiểu người có lòng tự hào. Với trường hợp đầu tiên (tôi hiện đang thấy tự hào về điều gì đó), đây là một trải nghiệm cảm xúc; trường hợp thứ hai (cảm thấy tự hào nói chung) là một dạng cảm xúc; và trường hợp thứ ba (là kiểu người tự hào), là một nét tính cách. Rất dễ bị lẫn lộn và chồng lấp giữa ba khả năng này, nhất là với trường hợp thứ nhất và thứ hai. Nhưng trải nghiệm cảm xúc thì ngắn và thành từng đợt, còn cảm xúc có thể kéo dài nhiều năm –
Giới th iệu – 19 có thể có hoặc không được khơi nguồn bởi một trải nghiệm cảm xúc – và trong khoảng thời gian đó, nó trở thành khuynh hướng cho những trải nghiệm cảm xúc đa dạng, cũng như suy nghĩ, niềm tin và hành động. Ví dụ, tình yêu có thể không chỉ tạo ra cảm giác yêu thương mà còn cả sự hứng khởi, đau khổ, giận dữ, thương nhớ, ghen tuông xen lẫn. Tương tự, rất dễ nhầm lẫn giữa cảm xúc và cảm giác. Một trải nghiệm cảm xúc, xét theo khả năng nhận thức của trải nghiệm, trước tiên phải là một cảm giác như những cảm quan thực thể như là đói hay đau (mặc dù không phải mọi nhận thức trải nghiệm đều là cảm giác, chẳng hạn như là tin tưởng hay nhìn thấy, có lẽ do nó thiếu yếu tố thực thể hay các chiều kích trong không gian). Ngược lại, một cảm xúc, hiểu theo nghĩa tiềm ẩn thì chỉ có thể được cảm thấy, hiểu theo nghĩa chặt chẽ thì cần thông qua trải nghiệm cảm xúc để phát ra, mặc dù nó có thể được khám phá thông qua những suy nghĩ, niềm tin, mong muốn và hành động kèm theo. Tuy có biểu hiện đa dạng, bản thân các cảm xúc không cần mang tính nhận thức, một số cảm xúc như ghét mẹ của ai đó hoặc ưa thích một người bạn cùng giới, chỉ có thể được phát hiện ra, chưa nói tới việc thừa nhận, sau nhiều năm trị liệu tâm lý. Cảm xúc chưa được nhận thức thường do bị đè nén hoặc là một số dạng thức khác nhau của tự huyễn. Tất nhiên, tự dối mình cũng có thể xảy ra ở
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 20 – cấp độ trải nghiệm cảm xúc, hầu hết do phiên giải sai lầm về loại và cường độ của trải nghiệm cảm xúc hay quy kết sai mục đích, nguyên nhân. Vậy thì, ghen ghét thường được coi như kém đạo đức và có tính Schadenfreude (vui mừng trước sự bất hạnh của kẻ khác) khi chia buồn. Nỗi sợ hồn ma hay các “thế lực bóng tối” rõ ràng là do sợ hãi cái chết vì những người đã sẵn sàng đón nhận cái chết thì khó có thể còn e ngại những điều trên. Thêm nữa, người ta có thể cho rằng ngay cả những cảm xúc thuần khiết nhất cũng mang bản chất tự huyễn vì nó mượn sức nặng của những trải nghiệm với một điều gì đó hơn là những điều khác. Theo ý trên thì cảm xúc không phải một nhận thức chủ quan hay trung tính mà là cách “nhìn nhận” mang tính cá nhân, phản ánh nhu cầu và mối quan tâm của mỗi cá nhân. * Khi đã có được sự phân biệt giữa cảm xúc, trải nghiệm cảm xúc và cảm giác, tôi sẽ tiếp tục nói về nét cá tính. Mỗi cá tính là một khuynh hướng – hoặc sự khuyết thiếu một khuynh hướng – ví dụ như không bao giờ hối hận – để có được những cảm xúc và trải nghiệm cảm xúc nhất định. Cá tính cũng bao hàm cả những suy nghĩ, niềm tin, mong muốn, hành động và tới lượt nó cũng bị những thành tố này định hình.
Giới th iệu – 21 Cá tính thường được gọi theo cảm xúc ưu thế và thường được phân loại thành đạo đức (virtue) hay thói xấu (vice), ví dụ khiêm tốn (đạo đức), biết ơn (đạo đức), tham lam (đạo đức). Một số đạo đức thời xưa không liên quan gì tới loại cảm xúc ưu thế mà thay vào đó là sự kiềm chế những cảm xúc đó, ví dụ như dũng cảm, cẩn trọng và chừng mực. Có thể phân biệt được giữa khí chất với tính cách của một con người. Khí chất thì bẩm sinh và không thể thay đổi, trong khi tính cách thì sẵn sàng, cởi mở với sự biến chuyển hơn. “Tính cách” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp charaktêr, có nghĩa là dấu ấn trên một đồng xu, tính cách có thể ăn sâu đến mức như thể chúng được in vào ngoại hình của chúng ta. Như Coco Chanel từng nói: “Tạo hóa ban cho bạn khuôn mặt lúc đôi mươi. Cuộc đời nhào nặn nên khuôn mặt bạn lúc ba mươi. Chỉ tới khi năm mươi, bạn mới có khuôn mặt xứng với mình.” Cũng như tính cách có thể suy diễn từ hành vi, và hành vi cũng có thể suy diễn từ tính cách – mặc dù, tất nhiên những tình huống ngoại cảnh có thể đóng vai trò quan trọng để xác lập hành vi của chúng ta. Khi giải thích hành vi của người khác, chúng ta có xu hướng đánh giá quá cao vai trò của tính cách so với yếu tố tình huống, một kiểu thiên kiến được gọi là thiên kiến liên hệ (correspondence bias), với xu hướng đi theo chiều ngược lại khi tự đánh giá hành vi của bản thân. Như vậy, nếu Charlie
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 22 – không chịu cắt cỏ, tôi sẽ muốn nghĩ rằng cô ấy đãng trí, lười nhác hay không quan tâm, nhưng nếu là tôi không cắt cỏ vườn thì tôi muốn bào chữa cho bản thân với lý do bận bịu, mệt mỏi hay tại thời tiết không thích hợp. Chúng ta nhanh chóng đổ tại tính cách trong khi lần lữa xem xét lại sự đổ lỗi ấy với những thông tin tương phản, khiến ấn tượng ban đầu trở nên rất quan trọng. Ngay cả khi sự quy kết tính cách là đúng thì cũng nhờ những yếu tố ngoại cảnh, và tất nhiên với điều kiện là không phải tranh cãi, đối chọi với bất kỳ tính cách nào khác. * Cũng có thể học cách phân biệt cảm xúc với tâm trạng, mong muốn, quan điểm và niềm tin. Cảm xúc có tính “chủ đích” theo nghĩa nó hướng tới một đối tượng cụ thể, thường là một người, đồ vật, hành động, sự kiện hoặc trạng thái nhất định nào đó. Mặc dù đặc biệt, đối tượng của cảm xúc không nhất thiết phải hiện hữu, bạn hoàn toàn có khả năng sợ hãi quỷ dữ hay yêu thích ngựa một sừng. Ngược lại, một tâm trạng như khó chịu hoặc trầm cảm thì mang tính lan tỏa hơn và không đặc biệt hướng tới một đối tượng cụ thể. Dẫu vậy, sự phân biệt không hoàn toàn rạch ròi: tâm trạng có thể cô đọng thành cảm xúc, và cảm xúc có thể lãng đãng như một tâm trạng.
Giới th iệu – 23 Thực tế, tâm trạng có thể được mô tả như một trạng thái bị động, ít nhiều chịu khuynh hướng của cảm xúc với sắc thái nhất định – và do tính bị động của tâm trạng, chứ không phải tính cách mà có thể lấy đó để bào chữa cho hành vi của chúng ta. “Xin lỗi vì đã công kích, gần đây tôi hơi khó chịu.” Cũng như với cảm xúc, tâm trạng không có cảm nhận nào khác bên ngoài những trải nghiệm cảm xúc mà nó dẫn lối; và như vậy, người ta có thể không tự nhận ra tâm trạng mà cần phải được chỉ cho thấy. Giống như đối tượng hình thức của niềm tin là sự thật, đối tượng hình thức của cảm xúc là sự đánh giá: niềm tin hướng tới sự thật, cảm xúc hướng tới sự đánh giá. Như với niềm tin, cảm xúc cũng cần được suy xét để tương thích với thực tại. Tuy nhiên, trong khi niềm tin hướng tới những đối tượng trong thực tại, ít nhất theo lý thuyết là thế, thì cảm xúc hướng nhiều hơn tới việc sao cho phù hợp với thực tại, để phản ánh mức độ quan trọng hay ý nghĩa của đối tượng. Mặt khác, mong muốn lại hướng tới sự điều chỉnh thực tại để nó trở nên phù hợp với con người. Như vậy, cảm xúc (và niềm tin) mang chiều hướng từ tâm trí – ra thế giới, sự mong muốn có chiều hướng từ thế giới – tới tâm trí: cảm xúc phản ánh thực tại, mong muốn thì thay đổi nó.
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 24 – Cảm xúc rõ ràng có liên quan với mong muốn. Tôi tức giận với John là bởi tôi mong muốn anh ấy tôn trọng tôi hơn; nếu tôi sợ sư tử đó là bởi tôi mong muốn không bị giết chết. Cảm xúc cũng thúc đẩy mong muốn như là trừng phạt John hoặc trốn thoát khỏi con sư tử. Nhưng loại mong muốn đầu tiên (mong muốn liên quan tới cảm xúc) khác với loại sau (mong muốn phát sinh do cảm xúc) ở điểm trừu tượng hơn, chung chung và chậm rãi hơn, có tính khuynh hướng hơn. Mong muốn không cần phải phát sinh từ cảm xúc, và có thể xuất hiện dưới nhiều dạng thức, sắc thái bao gồm ước nguyện, ham muốn, thôi thúc, xung động, cưỡng bức, mong chờ, khao khát và ao ước. Nói đúng ra, ước nguyện là một mong muốn khó lòng được thỏa mãn như khi tôi nói “Tôi ước bụng mình sáu múi!” Ham muốn là một mong muốn phát sinh từ thân thể như một ham muốn tình dục. Thôi thúc là khi ham muốn trở nên khẩn thiết hơn. Xung động là một mong muốn đột ngột, không được suy xét và gắn liền với một hành động cụ thể. Cưỡng bức là xung động rất khó cưỡng lại như trong rối loạn ám ảnh-cưỡng bức. Mong chờ là sự mong muốn kéo dài, nhất là với điều gì đó khó có thể đạt được. Khao khát là mong chờ gắn với sự bức bối về thể xác. Và ao ước là khi mong chờ đi kèm với sự buồn bã, dịu dàng.
Giới th iệu – 25 Thế còn nhận thức? Giống với cảm xúc, nhận thức hướng tới phản ánh thực tại. Nhưng khác với cảm xúc, nhận thức liên quan chặt chẽ với các cảm giác và những cơ quan cảm giác đặc biệt. Chúng được khoanh vùng trong khoảng không gian tại nơi đây và ngay bây giờ, bởi những gì bao quanh chúng ta và có giới hạn rõ ràng (ít nhất là bề ngoài), là những đối tượng vật chất và đặc tính vật lý của nó. Ngược lại, cảm xúc thì không rõ ràng như vậy (theo ý tích cực hay tiêu cực, hoặc cả hai) và có thể bắt nguồn từ nhiều trạng thái tinh thần, khiến cảm xúc có thể xuất phát từ quá khứ (trong ký ức), tương lai và giả định (qua tưởng tượng), hoặc hoàn toàn không có thời gian (ảo tưởng). Nhận thức gắn với niềm tin, và cũng giống niềm tin, nhằm mục đích phản ánh đối tượng thực thể, trong khi cảm xúc phản ánh thực tại chủ quan – không phải bản thân thực tại mà là mối quan hệ của chúng ta với thực tại đó. Niềm tin là những suy nghĩ được cho là đúng đắn. Niềm tin được giữ lấy, chứ không phải cảm nhận. Tôi có thể tin rằng thứ gì đó đáng sợ mặc dù không hề thấy sợ nó. Quan trọng là niềm tin có lúc đúng lúc sai, trong khi cảm xúc mặc dù phi lý, ít chấp nhận sự tranh cãi hơn. “Cảm nhận” thường được nói ra với nghĩa là “nghĩ rằng” hay “tin rằng”, như trong “Tôi cảm thấy Daphna đang lừa dối tôi”. Hiểu nhầm xảy ra bởi cảm xúc và niềm tin gắn kết chặt chẽ với nhau. Niềm tin có thể làm nảy sinh cảm
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 26 – xúc, cũng như cảm xúc có thể nảy sinh niềm tin, cung cấp những chất liệu và sự bền bỉ cho nó, điều này lý giải tại sao trong tác phẩm Thuật hùng biện của Aristotle nói về nghệ thuật thuyết phục có đề cập chi tiết tới sự phân tích về cảm xúc, và tại sao truyền thông chính trị hay quảng cáo lại ít tập trung vào sự kiện mà lại nói nhiều về cảm giác. Điều ấn tượng là chính cảm xúc là chất xúc tác để biến niềm tin thành hành động. Con người ra quyết định tốt hơn máy móc là nhờ cảm xúc, đó là thước đo cho mỗi cân nhắc cụ thể mà chỉ những sự kiện và lựa chọn đáng kể nhất trong số những thứ sẵn có mới được nhận thức suy xét tới. Cảm xúc truyền động lực cho chúng ta, những người có khả năng cảm xúc kém – bất kể do tổn thương não bộ, do trầm cảm hay rối loạn tâm thần nào khác – cũng sẽ thấy khó ra quyết định, chưa nói tới chuyện hành động. Như vậy, mặc dù có quan hệ gần gũi với tính cách, tâm trạng, mong muốn, nhận thức, niềm tin thì cảm xúc không bị chứa đựng trong bất kỳ điều gì kể trên, khiến nó mang bản chất tự nhiên và độc lập. * Dẫu thế, cảm xúc có thể rất đa dạng. Ví dụ chúng có thể mang tính đạo đức hoặc không mang tính đạo đức, không phản tư hay phản tư (hướng về bản thân, như là xấu hổ hay tội lỗi), là nguyên phát hay thứ phát (với một cảm xúc khác, như là xấu hổ
Giới th iệu – 27 vì sự sợ hãi của mình). Chúng có thể tích cực hay tiêu cực, hoặc như với cảm xúc hoài vọng, tức giận đều có thể mang nghĩa tích cực hoặc tiêu cực. Cảm xúc duy nhất không có vẻ mang tính nhất quán đó là ngạc nhiên, ngạc nhiên có thể là tích cực, tiêu cực hoặc hỗn hợp – mặc dù tất nhiên mỗi tình huống ngạc nhiên đều sẽ là một trong số những kiểu đó. Cảm xúc được coi là tích cực hay tiêu cực dựa trên tính dễ chịu hay khó chịu, cảm xúc dễ chịu là phản ứng với những điều có xu hướng bền vững và xác thực ta trong tiến trình phát triển của lịch sử, còn cảm xúc khó chịu là phản ứng với những thứ có xu hướng hủy hoại ta. Một ẩn ý quan trọng là cảm xúc của chúng ta không hoàn toàn phù hợp với cuộc sống hiện đại. Cụ thể, cảm xúc thường thiên về ngắn hạn khiến những thỏa mãn, vui sướng trong dài hạn bị giảm trừ quá mức. Thời xa xưa, sự thiên lệch ngắn hạn này giúp tăng khả năng sống sót và sinh sản của chúng ta nhưng khi tuổi thọ được kéo dài, an ninh lương thực, v.v.. khiến điều này trở thành gánh nợ. Cảm xúc tiêu cực, mặc dù tiêu cực, cũng có thể là dễ chịu nếu đối tượng của nó chỉ là một thứ giả tạo, điều này lý giải tại sao người ta chi nhiều tiền để xem phim kinh dị, đi tàu lượn, không lên tiếng về vấn đề bạo dâm (sadomasochism) – điều này tôi sẽ bàn chi tiết hơn trong cuốn For Better For Worse. Một số cảm xúc, như biết ơn hay khiêm tốn, mang tính phức tạp và nhiều sắc thái hơn những
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 28 – loại khác, khiến nó hiếm gặp ở trẻ nhỏ hay động vật. Khái niệm về cảm xúc “cơ bản” hay “nguyên phát” đã xuất hiện trong Kinh Lễ, một cuốn từ điển Trung Hoa từ thế kỷ thứ nhất có chỉ ra bảy “cảm giác của người đại phu”: hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục (vui mừng, giận dữ, yêu thương, ghen ghét, buồn bã, thích thú, thèm muốn). Ở thế kỷ 21, Paul Ekman xác định sáu cảm xúc cơ bản (giận dữ, ghê tởm, sợ hãi, hạnh phúc, buồn đau và kinh ngạc) còn Robert Plutchik chọn ra tám và nhóm lại thành bốn cặp đối lập (vuibuồn, tức giận-sợ hãi, tin tưởng-không tin, bất ngờdự đoán). Những cảm xúc cơ bản được cho là đã tiến hóa để đáp ứng những thử thách về sinh học từ thời tổ tiên xa xưa của chúng ta, và nguyên thủy tới mức bắt rễ sâu xa – trở thành “phần cứng” trong não bộ của chúng ta, từng hoạt động cảm xúc có những đường dẫn truyền thần kinh riêng biệt. Là phần cứng, các cảm xúc cơ bản (đôi khi còn được gọi là “lập trình thụ cảm”) mang tính bẩm sinh, tự động, phản ứng nhanh và kích động các phản ứng có tính sinh tồn cao. Trong một kỳ nghỉ tại hòn đảo nhiệt đới Mauritius, tôi mở ngăn tủ bếp và thấy một con thằn lằn lớn, tất nhiên tôi không ngờ lại thấy nó giữa đống dao dĩa. Khi con vật phóng vào khe tối của ngăn kéo, tôi đã không kịp nghĩ gì, nhảy lùi ra sau và đóng sập ngăn kéo lại. Ngay sau đó, tôi đột nhiên nhận ra cảm giác nóng bừng và hốt hoảng đã xuất
Giới th iệu – 29 hiện trước cả những hành động đó. Phản ứng hoảng sợ này nguyên thủy tới mức xem ra cả con thằn lằn cũng có nó và nó tự động tới nỗi “nhận thức không thấy được”, không kịp nhận ra và không được kiểm soát, mang tính phản xạ hoặc phản ứng hơn là một hành động đã được cân nhắc. Lạc quan Vui thú Bình tâm Quan tâm Biết trước Yêu thương Chấp thuận Tin tưởng Ngưỡng mộ Ngây ngất Cảnh giác Cuồng nộ Ghê tởm Sửng sốt Kinh hoàng Sợ hãi Lĩnh hội Ngạc nhiên Sao nhãng E sợ Phụng sự Phản đối Sâu sắc Buồn Ghét Buồn chán Bằng lòng Ân hận Công kích Bực mình Sầu khổ Giận Hình 1: Bánh xe của Plutchik Một giả thuyết là những cảm xúc cơ bản này hoạt động như việc lắp ráp các khối, cảm xúc phức tạp là sự hòa trộn của những cảm xúc cơ bản. Ví dụ, cảm giác coi khinh có thể chứa đựng trong đó sự tức giận và ghê tởm. Năm 1980, Plutchik tạo ra một sơ
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 30 – đồ dạng bánh xe về cảm xúc với tám loại cảm xúc cơ bản và thêm vào tám cảm xúc phái sinh mà mỗi loại hợp thành từ hai cảm xúc cơ bản (Hình 1). Tuy nhiên, có nhiều cảm xúc phức tạp không thể phân tách thành những cảm xúc cơ bản, và lý thuyết này cũng không giải thích tại sao trẻ nhỏ và động vật không (hay có vẻ) có những cảm xúc phức tạp. Thay vào đó, có thể cảm xúc phức tạp là hỗn hợp của cảm xúc cơ bản và nhận thức, mỗi sự kết hợp cần đủ những điểm chung để có thể gọi tên được. Như vậy, sự thất vọng (frustration) có thể chứa đựng những suy nghĩ về niềm tin rằng “chẳng thể làm gì nữa”. Nhưng, lại có những cảm xúc phức tạp đi ngược lại với cách phân tích này. Thêm vào đó, chính cảm xúc cơ bản lại có thể hình thành nhận thức khá phức tạp, như là cơn hoảng sợ mù quáng (blind panic) của Tom khi nhận ra, hay đơn thuần tin rằng, anh ta đã ngủ quên qua một kỳ thi quan trọng. Mặc dù những cảm xúc cơ bản được so sánh với sự lập trình, có vẻ những đối tượng tiềm năng của chúng khơi mở cho các điều kiện văn hóa. Nếu anh chàng Tom tội nghiệp đã lỡ buổi thi, liệu rằng cảm xúc gây ra là do phần lớn giá trị văn hóa của anh ấy hay là phần văn hóa nhỏ nhoi gắn với sự thành công học thuật? Với những cảm xúc phức tạp hơn, đó là do bản thân cảm xúc (chứ không phải đối tượng tiềm năng
Giới th iệu – 31 của nó) đã bị xây dựng và định hình trên nền tảng văn hóa. Schadenfreude không phải điều phổ biến với mọi người, mọi lúc. Tình yêu lãng mạn cũng không, có vẻ nó xuất hiện cùng với tiểu thuyết. Trong tác phẩm Bà Bovary (1856), vốn là một tiểu thuyết, Gustave Flaubert kể với chúng ta về nhân vật nữ chính Emma Bovary chỉ tìm thấy tình yêu lãng mạn qua “những cuốn truyện cũ mượn tại thư viện”. Những cuốn truyện này, theo ông: ...Đều về tình yêu và những kẻ đang yêu, những thiếu nữ gặp nạn co ro nơi góc phòng cô đơn, những xà ích bị tàn sát dọc các con đường, những con ngựa chạy tới chết trong từng trang sách, những khu rừng âm u, những trái tim trằn trọc, lời thề, tiếng nức nở, giọt nước mắt, những nụ hôn, chèo thuyền đêm trăng, tiếng sơn ca trong rừng, những quý ông dũng mãnh tựa sư tử và dịu dàng như chú cừu, chính trực tới khó tin, luôn ăn mặc đẹp, và nước mắt sẵn sàng tuôn như suối. * Các điều kiện văn hóa cũng mở rộng sự biểu thị của cảm xúc, một số biểu cảm còn có thể tập trung để trở thành một phương ngữ. Ở thái cực khác, biểu cảm khuôn mặt của những cảm xúc cơ bản như giận dữ và sợ hãi lại ít chịu tác động của những điều kiện văn hóa và trở thành giống nhau, dễ thấy trên toàn cầu.
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 32 – Thực tế, một số thậm chí còn xuất hiện ở động vật, khiến chúng ta thấy sự đồng cảm lớn lao với những người bạn chó hơn so với những loài khác. Hình 2: Đây là cảm xúc gì ở chú chó này? Có lẽ là thứ gì đó trong khoảng từ chú ý-tò mò-ngạc nhiên-bối rối-quan tâm... không có gì mà vài cái gãi lên mũi ấy không giải quyết được. Biểu đạt của cảm xúc rất đa dạng, bao gồm cười mỉm, nhăn nhó, khóc, than, giật lùi, nhảy tới, che mày, giấu mặt, hất đầu, hôn, ôm ấp, khiêu vũ... kể cả những hoạt động vốn không liên quan với biểu cảm cũng có thể hòa lẫn với cảm xúc, như là đóng cửa (khép nhẹ nhàng hay đóng sập) hay rút chiếc bút ra khỏi túi áo. Một số, nếu không muốn nói là hầu hết, những biểu cảm đều mang tính mục đích, ví dụ nhe răng hay cuộn nắm đấm thể hiện sự hăm dọa hay chuẩn bị tấn công. Ngoài ra, mọi biểu cảm đều là tín
Giới th iệu – 33 hiệu cho người khác về cảm xúc – mở rộng ra là sự đánh giá với thứ mà nó hướng tới, để tạo nên một hệ thống giao tiếp có từ trước cả sự tiến hóa của ngôn ngữ. Trong tín hiệu cảm xúc hay sự đánh giá, sự biểu thị cảm xúc nhằm khuyến khích điều tương tự hoặc bộc lộ cảm xúc ở những người khác – sự ngưỡng mộ chung, sự đồng cảm, hiếu kỳ, vui thú, sợ hãi, tội lỗi hay xấu hổ. Mọi điều đều ngầm chỉ rằng những người khác có khả năng đọc được biểu cảm. Khả năng diễn giải biểu thị cảm xúc của chúng ta mang tính tự động và không cần phản xạ, thậm chí với cả những cảm xúc mà bản thân ta chưa từng trải qua hoặc chỉ mới biết một phần. Khả năng đọc biểu cảm dựa trên cơ sở giả thuyết rằng những người khác nhau có chung hoạt động tâm lý giống nhau và giống như chúng ta, và cũng giải thích tại sao chúng ta thấy cẩn trọng khi tiếp xúc với những người thuộc văn hóa, thế hệ hay tầng lớp xã hội khác. Do biểu đạt cảm xúc cơ bản mang tính đồng nhất, sự cẩn trọng ấy chỉ cần thiết với những cảm xúc phức tạp – những điều mà trực giác của chúng ta biết được mà không cần phải suy tính. * Mặc dù đa dạng, mọi cảm xúc đều gắn liền với một mức độ cảm giác nhất định. Ví dụ, sợ hãi gắn với đáp ứng về mặt sinh lý như tăng nhịp tim, tăng trương lực cơ, toát mồ hôi, nổi da gà, chưa kể tới những biểu
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 34 – cảm của sợ hãi như là cơ thể cứng đờ, ngưng hoạt động, mắt mở to và cánh mũi phập phồng. Nhà tâm thần học và triết gia William James (mất năm 1910) lập luận rằng, không có những thay đổi cơ thể như vậy thì cảm xúc sẽ chỉ còn là “trạng thái nguội lạnh và trung tính của một nhận thức có trí tuệ”. Theo thuyết của James-Lange, cảm xúc chứa đựng không gì ngoài trải nghiệm về những thay đổi cơ thể này. Như vậy, theo lời của James: “ta thấy hối tiếc vì ta khóc, giận dữ vì ta tấn công, e ngại vì ta run rẩy chứ không phải là ta khóc, tấn công, run rẩy bởi vì ta hối tiếc, giận dữ và sợ hãi, như có thể là vậy.” Không may là, điều này giống như đặt xe kéo phía trước con ngựa. Tôi không e ngại vì tôi run rẩy mà đúng hơn là tôi run rẩy vì đang e ngại. Sự run rẩy của tôi không phải là nguyên nhân mà chỉ là một phần nỗi sợ của tôi. Mặc dù có đủ sự phân biệt giữa tập hợp những thay đổi trên cơ thể để biểu đạt từng sắc thái cảm xúc khác nhau, ta không thể nói rõ rằng từng cảm xúc cần có những thay đổi cơ thể nào, hay nói ngược lại, sự thay đổi cơ thể (giống như tập luyện hay bị ốm) nào để tạo nên cảm xúc. Những bệnh nhân tổn thương tủy sống mức cao không bị suy giảm phổ cảm xúc, và những người tham gia thí nghiệm tiêm adrenaline [epinephrine] nói rằng ngưỡng kích thích của họ khác nhau tùy theo bối cảnh, tình huống.
Giới th iệu – 35 Và còn những giới hạn giác quan mà giả thuyết của James-Lang chưa giải thích được. Nước mắt cảm xúc (khác với phản xạ chảy nước mắt như khi bạn thái hành) có một số chức năng xã hội như là nhấn mạnh chiều sâu cùng tính chân thành cảm xúc của chúng ta, thu hút sự chú ý, đồng cảm và hỗ trợ khi gặp nguy hiểm, khó khăn hay cần trợ giúp. Nhưng chúng còn có chức năng tâm lý học quan trọng để nói với ta rằng vấn đề hay tình huống cụ thể này có ý nghĩa rất nhiều với chúng ta, rằng chúng ta cần dành thời gian và nỗ lực để giải quyết hay ít ra là xử lý nó – bộc lộ nó, theo tiến trình đúng đắn, chính là thái độ lành mạnh và một nhận thức rõ ràng hơn. Là chỉ dấu của cảm xúc mạnh, những giọt nước mắt này là tín hiệu tồn tại sự sống ở ngay khoảnh khắc quan trọng của ta, từ nụ hôn đầu tiên cho tới nỗi buồn đau khi mất người bạn đời. Những giọt nước mắt bộc lộ bản thân ta, và nhờ vậy khiến ta biết yêu bản thân hơn – điều này lý giải tại sao ta nên để mặc chúng thay vì cố nén lại. * Cảm xúc có thể và rõ ràng có liên quan tới những thay đổi trên cơ thể, nhận thức, mong muốn và nhiều nữa, nhưng như tôi đã giải thích trước đó, nó không chứa đựng hoàn toàn hay bao gồm những điều trên. Thay vào đó, cảm xúc là một thái độ được cảm thấy, hoặc một tâm thế hướng tới đối tượng hoặc
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 36 – một nhóm đối tượng. Thái độ được cảm thấy (hay ít ra là có cảm giác) này thường có tính tự động, nằm ngoài ý thức, và có thể nói là lý trí hay phù hợp nếu nó phản ánh quan hệ giữa chủ thể với khách thể, mà bản thân quan hệ này có chức năng làm bối cảnh và định giá trị. Ví dụ, sự khó chịu của tôi với tật xấu nhỏ nhoi của người bạn chỉ có lý khi xét tới sự bội ước gần đây của anh ta, quan điểm về tình bạn của tôi, những điều tôi coi trọng trong tình bạn. Cũng như cảm xúc phản ánh giá trị của đối tượng, một khuynh hướng cũng phản ánh giá trị đối với một giá trị khác. Rất nhiều, nếu không muốn nói là phần lớn, các khuynh hướng đều do bẩm sinh hoặc do văn hóa quyết định, nhưng một số do cá nhân quyết định, và hoàn toàn định đoạt bởi ý muốn. Cảm xúc cho ta lối đi riêng để đánh giá tình huống, với danh nghĩa cảm xúc nhất thời cho lúc đó. Nhưng đôi khi, khó có thể gọi tên cho cảm xúc hay trải nghiệm cảm xúc, chứ đừng nói tới việc thấu hiểu. Trước tiên, có nhiều cảm xúc hơn là những gì được gọi tên trong ngôn ngữ. Thứ hai, cảm xúc thường hòa trộn cùng những cảm xúc khác hay bị những trạng thái tâm lý khác chế ngự – như là sợ hãi bị áp chế bởi mong muốn hay xung năng trốn chạy, và chỉ được cảm nhận hoàn toàn khi nghĩ lại. Thứ ba, một số cảm xúc chỉ đơn giản là quá khó chịu để đào sâu thêm, ít ra là vì làm thế sẽ khiến những cảm xúc còn khó chịu hơn nữa ùa vào.
Giới th iệu – 37 Cảm xúc không chỉ phản ánh giá trị của chúng ta, mà còn cho phép ta định hình, tiếp nhận và tinh chỉnh nó. Có thể có xúc cảm với một cảm xúc và xem xét lại nó, củng cố nó. Có cảm xúc nguyên phát tương ứng với nó là cảm xúc thứ phát. Tương tự, một số cảm xúc của ta sáng rõ, trong khi số khác lại mơ hồ và đa nghĩa. Ví dụ như sự yêu mến ta dành cho sự thật, công lý hay cái đẹp được trải nghiệm sâu sắc như chân lý, trong khi sự ngưỡng mộ ta có thể dành cho kẻ mị dân thiếu chân thành khiến ta bất an. Khi các giá trị bị méo mó, cảm xúc của ta cũng vậy, khiến ta cảm thấy và hành động ngược với những lợi ích lâu dài của chính mình. Thực tế là, chỉ một cảm xúc hay trải nghiệm cảm xúc lãng đãng cũng có thể dễ dàng phá hỏng kế hoạch nửa đời người tốt nhất. Theo nghĩa ấy, cảm xúc được gọi là “gây rối”, nhưng tất nhiên, cảm giác kém thì không thể phá rối nhiều hơn là suy xét kém cỏi. Suy nghĩ và cảm nhận có mối tương quan chặt chẽ, nhiều tới mức khiến chúng ta có thể dùng cảm nhận để xác định suy nghĩ, và với mức độ ít hơn thì dùng suy nghĩ để xem xét cảm nhận. Chức năng kiểm tra chéo này chính là nguyên tắc chính trị cơ bản của tôi: Nếu điều gì đó, bất kể là cánh tả hay cánh hữu, được thúc đẩy bởi sự yêu mến và đoàn kết thì điều đó là đúng đắn hay có cơ hội trở nên đúng đắn; nhưng nếu nó bị thúc đẩy bởi thù hận và sợ hãi thì khả năng cao đó là sai lầm. Bằng cách dựa trên cảm nhận, mọi việc có thể đơn giản vậy đó.
THIÊN ĐƯỜNG VÀ ĐỊA NGỤC 38 – Chúng ta đã chứng kiến loài người tốt hơn máy móc trong việc ra quyết định và những người có năng lực cảm xúc thấp hơn rõ ràng khó ra quyết định hơn, chứ đừng nói tới việc thực hiện nó. Trong vũ điệu của suy nghĩ và cảm nhận, cảm nhận là người dẫn nhịp và là vũ công giỏi hơn – như trong ẩn dụ của triết gia David Hume (mất năm 1776) “lý do chỉ nên là nô lệ của đam mê”. Cảm giác kém cỏi “bắt cóc” suy nghĩ để dẫn lối vào sự tự huyễn: để giấu đi sự thực khó nhằn, trốn tránh trách nhiệm, từ chối hành động, và như những người theo chủ nghĩa hiện sinh có thể nói, chạy trốn khỏi sự tự do. Như vậy, cảm giác kém cỏi là một kiểu thất bại về mặt đạo đức, thực tế, sự tử tế sâu sắc nhất và những nguyên tắc đạo đức luôn có trong hành động điều chỉnh cảm xúc, sửa lại cho đúng cảm xúc và những giá trị mà chúng phản ánh. Cảm nhận đúng chính là nghĩ đúng và làm đúng mà không cần bất kỳ suy xét hay nỗ lực đặc biệt nào. Ngược lại, những hành động đúng lặp đi lặp lại sẽ dẫn tới cảm nhận đúng. Aristotle, cha đẻ của logic và tư duy, cho rằng hầu hết mọi người cảm giác đúng đắn hay là đạo đức, không phải là sản phẩm của sự suy xét lý trí mà chỉ đơn giản là do tập luyện và thói quen: ...Nếu việc tranh biện đủ để khiến người ta tốt lên, chúng đáng ra, như cách nói của Theognis, xứng đáng giành được các phần thưởng và những phần
Giới th iệu – 39 thưởng đó phải được trao tặng; nhưng như sự việc vốn thế, mặc dù chúng có vẻ có khả năng để khuấy động, khích lệ tâm hồn đại lượng của các thanh niên, xây dựng nên một tính cách, tạo tình yêu đích thực cho những điều cao quý, sẵn sàng hiến dâng cho đạo đức thì nó cũng không có khả năng khuyến khích nhiều người hướng tới điều cao cả và tốt đẹp. Sau này, trong cuốn Luân lý học (ra đời năm 340 TCN), Aristotle nói rằng tranh luận và giảng dạy chỉ có thể tác dụng với một tâm hồn đẹp tự nhiên hay đã được gieo những thói quen tốt, và thói quen tốt là thành quả của những luật lệ tốt. Bởi vậy, ông quay sang với cuốn sách kế tiếp, Chính trị luận. Nhưng, đến đây thì điều này đã vượt ngoài khuôn khổ của chúng ta rồi.