HUYỆN ĐOÀN TÂN YÊN BCH ĐOÀN XÃ NGỌC VÂN SỐ HÓA DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP TỈNH DI TÍCH ĐÌNH, CHÙA LÀNG SAI XÃ NGỌC VÂN, HUYỆN TÂN YÊN
I. TÊN GỌI DI TÍCH Tên gọi: Đình, chùa làng Sai, thôn Sai, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Các tên gọi khác: Chùa làng Sai là tên Nôm (gọi theo tên địa danh của thôn Sai), chùa còn có tên chữ là Quang Minh tự. Hiện nay trên bờ nóc của chùa vẫn còn bức đại tự đề ba chữ Hán Quang Minh tự.. II. ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐƯỜNG ĐI ĐẾN DI TÍCH 1. Địa điểm di tích Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, cụm di tích đình, chùa làng Sai thuộc xã Thúy Cầu (Súy Cầu), tổng Vân Cầu, huyện Yên Thế. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cụm di tích đình, chùa làng Sai thuộc xã Hồng Kiều, huyện Yên Thế. Năm 1953, xã Hồng Kiều chia làm 3 xã: Ngọc Vân, Việt Ngọc, Song Vân thuộc huyện Tân Yên. Nay, cụm di tích đình, chùa làng Sai thuộc thôn Sai, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. 2. Đường đi đến di tích Cụm di tích đình, chùa làng Sai nằm ở vị trí khá thuận lợi về giao thông. Đình, chùa nằm án ngữ sát trục đường giao thông thuộc tỉnh lộ 295 nối liền thành phố Bắc Giang với thị trấn Cao Thượng (Tân Yên) đi thị trấn Thắng (Hiệp Hòa), thông sang huyện Việt Yên, sang tỉnh Thái Nguyên. Di tích nằm cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 25km về phía Tây Bắc. Từ thành phố Bắc Giang, du khách có thể đi theo trục đường chính sau: Từ trung tâm thành phố Bắc Giang đi qua cầu Mỹ Độ theo trục đường 398 khoảng 16km đến thị trấn Cao Thượng, rẽ trái đi theo đường tỉnh lộ 295 khoảng 9km là tới di tích. Từ trung tâm thị trấn Thắng (Hiệp Hòa) xuôi về phía Cao Thượng đi theo trục đường tỉnh lộ 295 khoảng 10km là đến cụm di tích đình, chùa làng Sai. Đường tới di tích đã được trải nhựa nên rất thuận lợi cho du khách tới tham quan, nghiên cứu bằng tất cả các loại phương tiện giao thông đường bộ như: Ô tô, xe máy, xe đạp... III. PHÂN LOẠI DI TÍCH Cụm di tích đình, chùa làng Sai là những công trình văn hóa tôn giáo, tin ngưỡng có giá trị về lịch sử-văn hóa, điều này được thể hiện ở những tiêu chỉ sau: Cụm di tích đình, chùa làng Sai là công trình tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu của nhân dân thôn Sai, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên được dựng lên làm nơi thờ Thành hoàng làng là “Lang Quân Đô Thống Quy Minh Đại Vương”
Quý Minh Đại Vương là vị tướng dưới thời vua Hùng Duệ Vương có nhiều công lao to lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân địa phương nói riêng và trong toàn tỉnh Bắc Giang nói chung. Tương truyền sau khi hóa, ngài còn hiển Thánh, âm phù cho các triều đại phong kiến lập nhiều chiến công hiển hách, quét sạch giặc ngoại bang ra khỏi bờ cõi, giữ vững biên cương của đất nước. Các đời vua Lê, Nguyễn nhiều lần phong sắc và ban cho nhân dân khắp vùng phụng thờ, đời đời ghi nhớ công ơn, trong đó có thôn Sai, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên. Cụm di tích đình, chùa làng Sai là công trình văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng được khởi dựng vào thời Nguyễn (khoảng cuối thế kỷ XVIII), được phục dựng lại vào những năm giữa thế kỷ XX và tiếp tục được tôn tạo vào những năm về sau. Tuy rằng đã trải qua một số lần trùng tu ở các giai đoạn sau này, di tích không còn dáng vẻ cổ xưa, nhưng công trình hiện tại vẫn mang dáng dấp của một công trình tín ngưỡng, tôn giáo cổ và là nơi lưu giữ những tài liệu, hiện vật có giá trị trong nghiên cứu khoa học như: Ngai thờ, bài vị, bảng văn, hòm sắc, kiệu thờ được chạm khắc đẹp hình vân mây, đao mác, hoa văn kỷ hà mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn muộn (khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) có giá trị về mặt nghệ thuật và trong việc nghiên cứu về lịch sử của di tích. Trong chùa, hệ thống tượng Phật và đồ thờ tự được bài trí tương đối đầy đủ, đăng đối trên các bục xây gạch cao dần từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên. Công trình được xây dựng ở nơi có cảnh quan không gian đẹp, thuận lợi về giao thông. Đây là trung tâm sinh hoạt văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng và là một trong những nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân trong vùng. Hội lệ hằng năm được tổ chức vào mồng 10 tháng Hai âm lịch với nhiều trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc như: Đấu vật, cờ tướng, chọi gà, kéo co, hát quan họ trên thuyền... và một số môn thể thao: Bóng đá, cầu lông... Bên cạnh đó vào những ngày sóc, vọng và khi làng diễn ra sự kiện trọng đại người dân đều ra đình, chùa thắp hương dâng lễ cầu an.
Căn cứ vào giá trị cơ bản của di tích như đã trình bày; Căn cứ Điểm a, b Khoản 1, Điều 28, Mục 1, Chương IV của Luật di sản văn hóa năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về tiêu chí để xếp hạng di tích lịch sử văn hóa; Chúng tôi xác định cụm di tích đình, chùa làng Sai thuộc loại hình: Di tích lịch sử văn hóa. IV. SỰ KIỆN, NHÂN VẬT LỊCH SỬ, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI TÍCH 1. Sự kiện diễn ra tại di tích Căn cứ việc khảo sát điền dã tại địa phương và thông qua các tài liệu có liên quan đến cụm di tích đình, chùa làng Sai, đồng thời căn cứ vào nguồn thông tin do những người dân địa phương truyền khẩu từ đời này qua đời khác được biết: Đình, chùa làng Sai được khởi công xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII trên cùng một thửa đất nằm cách biệt với làng, cách vị trí ngày nay khoảng 250m về phía Tây Nam. Khi khởi dụng đình, chùa có quy mô lớn, cột đình một người ôm không xuể. Quanh khu vực đình, chùa là rừng cây cổ thụ nên còn có tên gọi là khu Rừng Chùa. Cuối thế kỷ XIX, đình, chùa bị xuống cấp nhiều, giai đoạn này trong làng có ông Trùm Tôn (Bùi Văn Tôn) là nghĩa binh tham gia phong trào khởi nghĩa Yên Thế và là người có quan hệ mật thiết với thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám, được Hoàng Hoa Thám tin dùng đã đề đạt sửa lại đình, chùa làng Sai. Hoàng Hoa Thám đã cho quân sĩ cùng nhân dân trong vùng chặt gỗ, lấy đá từ núi Mỏ Thổ (Việt Yên) về để làm chân tảng sửa đình. Một số cột gỗ có khắc ghi danh Đề Thám, về sau khi thực dân Pháp về đóng quân, nhân dân đã phải bào mòn phần ghi danh đi. Qua tìm hiểu thực tế tại địa phương nơi cụm di tích đình, chùa làng Sai tọa lạc thì đây là ngôi làng có rất nhiều nghĩa binh tham gia phong trào khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo vào nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đây cũng là nơi các nghĩa binh Yên Thế thường xuyên qua lại lấy làm địa bàn hoạt động, là nơi trung chuyển giữa vùng trung du Hiệp Hòa, Sóc Sơn với vùng thượng Yên Thế. Một số nghĩa binh được thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám tin dùng là người tâm phúc như cụ Bùi Văn Tôn (Trùm Tôn), Lưu Thị Chuối. Về sau này khi cuộc khởi nghĩa thất bại những người này đã bí mật nuôi dấu con trai của Hoàng Hoa Thám là Hoa Phồn từ khi còn rất nhỏ.
Với sự gắn kết mật thiết với cuộc khởi nghĩa Yên Thế như vậy nên việc cụm di tích đình, chùa làng Sai được các thủ lĩnh nghĩa quân Yên Thế quan tâm hỗ trợ tu sửa trong thời kỳ này là có cơ sở. Sang đầu thế kỷ XX đến năm 1945 đình, chùa làng Sai tiếp tục được tu sửa với quy mô nhỏ và hầu như không có sự thay đổi lớn. Đến năm 1976, do Nhà nước có chính sách cải tạo đồng ruộng, đã di chuyển một số công trình phúc lợi để mở rộng diện tích cày cấy nên cụm di tích đình, chùa làng Sai đã bị san ủi, các hiện vật và đồ thờ tự cũng bị thất lạc nhiều trong thời gian này. Trong những năm 1994-1996, dân làng đã xây dựng lại đình, chùa ở vị trí giữa làng (là vị trí cụm di tích tọa lạc ngày nay) với quy mô tuy không lớn nhưng rất khang trang, tố hảo. Những năm gần đây đình, chùa bị xuống cấp nghiêm trọng. Với ý thức khôi phục lại một cụm di tích lịch sử văn hóa có giá trị của địa phương, năm 2005 chính quyền sở tại cùng dân làng với hằng sản, hằng tâm đã khởi công phục dựng lại đình cách vị trí cũ 250m về phía Tây Nam. Năm 2010, khởi công phục dựng lại chùa trên cùng một thửa đất để làm nơi sinh hoạt văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân trong vùng. 2. Nhân vật lịch sử Quần thể di tích đình, chùa làng Sai là nơi tôn thờ người có công với dân với nước. Đình là nơi thờ Thành Hoàng có tên gọi Lang Quân Đô Thống Quy Minh Đại Vương. Quy Minh Đại Vương là vị tướng dưới thời vua Hùng Duệ Vương có nhiều công lao to lớn trong việc đánh đuổi giặc ngoại xâm, đem lại cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân địa phương nói riêng và trong toàn tỉnh Bắc Giang nói chung. Theo các tư liệu lịch sử thu thập được thì thân tích về Đức Thánh Quy Minh được truyền tụng lại như sau: Vào thời Hùng Vương thứ 18, ở đạo Nghệ An có một đôi vợ chồng dòng dõi thi lễ nhiều đời làm công khanh. Ngày 15 tháng 3 năm Nhâm Ngọ, người vợ hạ sinh được hai người con trai diện mạo khác thường, đặt tên cho người con lớn là Cao Sơn, người con út là Qúy Minh. Khi mới 12 tuổi, hai ông đã học hành thông mẫn, võ nghệ kỷ tài, khó ai sánh nổi. Khi hai ông 18 tuổi thì cha mẹ đều qua đời, bèn tìm nơi đắc địa để mai tang và chịu tang cha mẹ tròn 3 năm chu tất.
Khi đó Hùng Duệ Vương hạ chiếu cho các châu, huyện, đạo tuyển chọn những người có tài năng đức độ ra làm quan, lĩnh binh đánh dẹp giặc ngoại xâm. Hai ông thấy vậy bèn xin về triều ứng tuyển. Vua thấy hai ông có tải vẫn võ hơn người liền lệnh truyền và lệnh cho giữ chức chỉ huy sứ. Tuy được đội ơn vua nhưng hai ông không quên tưởng nhớ đến cha mẹ, việc tang gia, thờ cúng đều rất chu đáo, tâm thành Lúc bấy giờ, Hùng Duệ Vương sinh được 22 hoàng tử và 24 công chúa. Trong đó, một công chúa đã gả cho Chử Đồng Tử, một gả cho vị Sơn Thánh Tản Viên và truyền ngôi cho con rể. Khi ấy, ở đất Tượng Quận có người họ Thục tên Phán vốn dòng dõi nhà Hùng, sau khi phân chi nhánh được sang trị vì vùng đất này nên đã đổi họ, nghe tin vua Hùng truyền ngôi báu cho con rể nên sinh lòng ghen tức bèn đem quân sang xâm lược. Hùng Duệ Vương lấy làm lo lắng liền cho vời phò mã Sơn Thánh đến để hỏi kế. Ngay sau đó, Sơn Thánh lĩnh mệnh vua và phong cho Cao SơnQúy Minh làm Tả hữu tướng quân tiên phong lên đường dẹp giặc Thục Phán ở miền Đông Bắc. Hai tướng Cao Sơn-Qúy Minh vâng mệnh cùng quân sỹ lên đường, trống dong cờ mở. Khi tới miền Đông Bắc, lộ Bắc Giang thì trời đã sầm tối nên hạ lệnh đóng quân trại ở đó. Xét thấy vùng này có nhiều lợi thế cho việc quân cơ, hai ông truyền xây đồn đắp lũy, trấn giữ khu trang, ngăn cản bước tiến của quân Thục. Một hôm, đang ngủ trong bản doanh, hai ông mộng thấy có thần linh tới xin trợ giúp. Sáng hôm sau, hai ông làm lễ bái yết và cho khao thưởng quân sĩ. Dân thôn thấy vậy nô nức tới hưởng ứng và giúp đỡ. Qua thật, sau đó hai ông đã dẹp yên được quân giặc, thiên hạ từ đó hưởng thanh bình. Vua liền cho với hai tướng cùng quân sĩ về triều mở yến tiệc khao thưởng và phong tặng những người có công lao lớn. Sau khi hồi triều, được nhận bổng lộc vua ban tặng, hai ông tâu với vua rằng: Chúng tôi vâng mệnh bệ hạ lên miền Đông Bắc, đạo Bắc Giang trấn giữ đồn lũy để dẹp yên giặc được thần phù trợ và nhân dân trong vùng hết lòng hưởng ứng nên đã giành được thắng lợi trở về nay xin báo đáp. Vua nghe xong bèn cho chuẩn y, hai ông bái tạ đức vua rồi về đóng đồn binh ở các trang khu thuộc lộ Bắc Giang khi trước. Tới nơi, hai ông được các vị bộ lão và nhân dân thôn trang nô nức tới chúc mừng. Các cụ tâu với hai ông rằng: Từ khi hai ông đóng quân ở đây dân thôn được yên nghiệp làm ăn, ngày một thịnh vượng, an khang. Nhân đây, xin trên mảnh đất này, xưa làm nơi đồn trú, nay lập đền thờ cúng, tưởng niệm. Hai ông ưng thuận và bảo với nhân dân rằng: Dân trang có lòng trọng ta để truyền tới muôn đời.
Nhưng khi lập miếu thờ phụng thì hãy cho linh thần sở tại phối hưởng. Sau đó hai ông ban cho dân trang khu vàng bạc để về sau mở rộng đền từ, ao ruộng giúp cho việc thờ cúng. Cùng lúc ấy, trời đất bỗng nhiên tối sầm, có hai đám mây vàng từ trên trời hạ xuống trước mặt hai ông rồi đưa hai ông bay đi, đó là ngày 15 tháng 8 âm lịch. Dân trang khu liền làm sớ tấu trình lên vua. Vua lệnh cho dân các trang khu, nơi được hai ông đóng đồn trại dánh đuổi giặc Thục tổ chức thờ cúng, tế lễ hai ông theo đúng nghi thức. Nhân đó, vua ban sắc cho hai ông, phong cho đức Cao Sơn là Thông minh Đại Vương. Tặng phong: Tế thế hộ quốc, an dân phù vận dương vũ dực thánh bản cảnh hiển hựu tôn thần. Nguyên tặng: Hiệu linh đôn tĩnh, hùng lược trác vỹ, dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Phong cho Đức Quy Minh là: Hiển ứng Đại Vương. Tặng phong: Phụ úy uy dũng hộ quốc an dân, phù hiểu chiêu cảm, trật ưu tôn Thần. Tặng: Thanh lãng cao diệu địch cát cát tĩnh, dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Chuẩn cho dân toàn vùng trong trang khu phụng thờ. Dương phủ, âm trợ, từ đó về sau các ngài đều rất linh ứng cho nên được nhiều đời vua các triều đại phong kiến sau này ban cho sắc phong và mỹ tự, ban tặng cho các vị thần này được thờ ở đình, trong đó đình Sai, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên thờ phụng người em chính là Đức Thánh Quý Minh Đại Vương. Cùng trong quần thể di tích, song song với ngôi đình là chùa làng Sai-đây là nơi thờ Phật và thờ Mẫu của nhân dân địa phương. 3. Đặc điểm của di tích Cụm di tích đình, chùa làng Sai là công trình văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng được nhân dân thôn Sai, xã Ngọc Vân, huyện Tân Yên xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVIII. Di tích xưa to rộng bề thế với nhiều tài liệu, hiện vật cổ quý giá chứa đựng nhiều giá trị lịch sử-văn hóa. Trải thời gian hơn 2 thế kỷ tồn tại, vượt qua hai cuộc chiến tranh ác liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cùng sự di chuyển khỏi vị trí ban đầu khiến di tích không còn giữ được dáng vẻ như ngày đầu khởi tạo. Tuy nhiên, do nhân dân địa phương luôn có ý thức gìn giữ, tu sửa, tôn tạo nên công trình hiện tại vẫn được phục dựng lại trên dáng vẻ của di tích cũ. Hiện nay cụm di tích đình, chùa làng Sai tọa lạc trên một khuôn viên đất rộng, bằng phẳng nằm cách UBND xã Ngọc Vân khoảng 500m về phía Bắc. Cụm di tích có bình đồ kiến trúc không giống nhau, đình Sai có bình đồ kiến trúc kiểu chữ nhất (-) gồm tòa tiền đình 3 gian 2 chái 4 mái đao cong, nhìn hướng Nam ghé Tây. Ngôi chùa có bình đồ kiến trúc chữ đỉnh (J), gồm 5 gian tiền đường và 2 gian thượng điện.
Đình, chùa làng Sai còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa cổ. Trong đình hiện còn ngai thờ, bài vị, bảng văn, hòm sắc, kiệu thờ được chạm khắc đẹp hình vân mây, đao mác, hoa văn kỷ hà mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn muộn (khoảng cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) có giá trị về mặt nghệ thuật và trong việc nghiên cứu về lịch sử của di tích. Trong chùa, hệ thống tượng Phật và đồ thờ tự được bài trí tương đối đầy đủ, đăng đối trên các bục xây gạch cao dần từ ngoài vào trong, từ dưới lên trên. Đình là nơi thờ Thành Hoàng làng, chùa là nơi thờ Phật, đồng thời quần thể di tích này cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng, là địa điểm tổ chức lễ hội truyền thống của người dân trong vùng. Hằng năm, cứ vào ngày mồng 10 tháng Hai âm lịch nhân dân địa phương lại tổ chức lễ hội truyền thống tại đình, chùa với nhiều nghi lễ và các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐÌNH LÀNG SAI
MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHÙA LÀNG SAI