ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, việc đổi mới quản lý tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập
theo hướng tăng quyền tự chủ cho các trường là xu hướng tất yếu để giáo dục đại học
công lập tháo gỡ được những rào cản về cơ chế và phát triển, bắt kịp trình độ của khu vực
cũng như thế giới. Các đơn vị sự nghiệp không còn đơn thuần thực hiện chỉ tiêu kế hoạch
của Nhà nước giao mà còn tự tổ chức cung ứng dịch vụ cho xã hội.
Trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình (CĐSP Hòa Bình) là một đơn vị sự nghiệp,
với nhiệm vụ đào tạo giáo viên cho tỉnh Hòa Bình và một số tỉnh lân cận . Mặc dù trong
những năm vừa qua, công tác quản lý tài chính của trường CĐSP Hòa Bình đã đạt được
một số kết quả nhất định, song quy chế quản lý của nhà trường vẫn còn những hạn chế,
khiếm khuyết, sự tự chủ vẫn còn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách của tỉnh Hòa Bình. Vì
vậy, việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính phù hợp với điều kiện, đặc điểm
và môi trường hoạt động của trường CĐSP Hòa Bình góp phần làm cho công tác quản lý
tài chính của trường ngày càng tốt hơn là vấn đề mang tính cấp thiết cả về lý luận lẫn
thực tiễn trong giai đoạn hiện nay. Với những ý nghĩa trên, Tổ Tài vụ chọn nghiên cứu và
đề xuất một số kinh nghiệm cho nội dung “Quản lý tài chính tại trường CĐSP Hòa Bình ”
.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ TĂNG CƯỜNG NĂNG
LỰC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TÀI SẢN.
1. Cơ sở lý luận.
1.1 Các văn bản pháp quy liên quan đến quản lý tài chính của nhà trường:
- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 của Chính phủ quy
định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với Đơn vị sự nghiệp công lập;
- Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế
tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập;
- Căn cứ thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Bộ tài chính
về việc hướng dẫn thực hiện nghị định số 43/2006/NĐ-CP;
- Căn cứ thông tư số 01/2015/TT-BGDDT ngày 15 tháng 01 năm 2015 của bộ
trưởng Bộ giáo dục đào tạo về việc ban hành điều lệ trường Cao đẳng;
Căn cứ quyết định số 531/QĐ-UBND ngày 07 tháng 03 năm 2016 của Chủ tịch
UBND tỉnh Hòa Bình về việc giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính giai đoạn
2016-2018 cho trường CĐSP Hòa Bình;
- Căn cứ nghị quyết số 23/2016/NQ-HĐND ngày 04/08/2016 của HĐND tỉnh Hòa
bình về việc quy định mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục
quốc dân từ năm học 2016-2017 đến năm học 2020-2021 trên địa bàn tỉnh Hòa bình;
Trong quá trình triển khai công tác quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tài chính
tại đơn vị, trường Cao đẳng sư phạm Hòa bình đã ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, trong
đó quy định rõ các nội dung thu và các định mức chi. Quy chế chi tiêu nội bộ cũng là một
công cụ quản lý tài chính quan trọng tại đơn vị, là căn cứ để Hiệu trưởng điều hành việc
sử dụng, quyết toán kinh phí Ngân sách nhà nước cấp và nguồn thu sự nghiệp, là cơ sở
pháp lý để Kho bạc nhà nước tiến hành kiểm soát chi đối với nhà trường. Quy chế chi tiêu
nội bộ của trường được bổ sung, điều chỉnh hàng năm cho phù hợp với các băn bản quy
định tài chính hiện hành và trên cơ sở khả năng tài chính của đơn vị.
1.2 Các nguồn lực tài chính
Nguồn tài chính hàng năm của trường bao gồm kinh phí do ngân sách nhà nước
cấp, nguồn thu sự nghiệp.
+ Kinh phí ngân sách nhà nước cấp hàng năm gồm có:
+ Kinh phí cấp cho chi thường xuyên;
+ Kinh phí cấp cho chi thực hiện các đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học;
- Các nguồn thu sự nghiệp của trường bao gồm:
+ Thu học phí sinh viên ngoài sư phạm
+ Thu lệ phí tuyển sinh.
+ Thu từ các hoạt động liên kết đào tạo.
+ Thu từ các hoạt động dịch vụ của nhà trường: Nhà gửi xe, căn tin, được xác định
cụ thể theo từng hợp đồng.
+ Thu từ tiền sinh viên ở nội trú.
+ Thu từ nguồn trích nộp của các trung tâm thuộc nhà trường, từ các lớp đạo tạo
bồi dưỡng cấp chứng chỉ.
Trường CĐSP Hòa bình là một trường cao đẳng công lập thực hiện tự chủ một
phần kinh phí hoạt động, ngoài nguồn thu sự nghiệp và kinh phí tự chủ do NSNN cấp,
hàng năm nhà trường còn được NSNN cấp nguồn kinh phí không thường xuyên để trường
mua sắm thiết bị, xây dựng, sửa chữa cơ sở vật chất.
Do đặc thù là trường sư phạm nên không thu học phí của sinh viên ngành sư phạm
chính quy. Kinh phí tự chủ của nhà trường được cấp theo số sinh viên sư phạm trúng
tuyển vào trường theo mức sinh viên cao đẳng 12.000.000 đồng/1 năm/1 em và sinh viên
trung cấp từ 11.000.000 đ/1 năm/1 em. Tổng nguồn kinh phí quyết định sự tự chủ về mặt
tài chính của đơn vị là kinh phí tự chủ do NSNN cấp chiếm chủ yếu của nhà trường.
1.2.1 Quản lý nguồn thu từ NSNN cấp:
Đối với trường CĐSP Hòa Bình kinh phí NSNN đóng vai trò rất quan trọng trong
tổng nguồn kinh phí của nhà trường. Trong khi nguồn thu sự nghiệp còn hạn chế, kinh phí
NSNN cấp chi thường xuyên giảm do số lượng sinh viên giảm, việc được cấp các khoản
kinh phí không thường xuyên đã đóng vai trò rất lớn và góp phần quan trọng vào việc
nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trường.
1.2.2 Quản lý nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp
Trong điều kiện nguồn NSNN giao cho giáo dục còn thấp, để phát triển giáo dục,
khuyến khích các trường nâng cao khả năng tự chủ tài chính bằng nguồn thu từ sự nghiệp,
Nhà nước cho phép huy động mọi nguồn lực trong xã hội để đầu tư cho giáo dục nhằm
chia sẻ bớt gánh nặng với NSNN. Việc Nhà nước cho phép thu học phí, lệ phí, mở rộng
các loại hình đào tạo, liên kết đào tạo, cung ứng dịch vụ... đã tạo điều kiện cho nhà trường
tăng nguồn thu ngoài NSNN. Nguồn thu sự nghiệp góp phần tăng nguồn kinh phí cho nhà
trường.
Việc thu, quản lý và sử dụng học phí và lệ phí tuyển sinh của trường CĐSP Hòa
Bình được thực hiện theo các quy tắc hiện hành của Nhà nước và các ban ngành liên
quan.
Trong tổng kinh phí hoạt động của trường CĐSP Hòa Bình nguồn thu sự nghiệp
chiếm tỷ lệ thấp. Thực tế, nguồn thu sự nghiệp của trường phụ thuộc rất nhiều vào chỉ tiêu
tuyển sinh, mức thu học phí và lệ phí theo quy định của Nhà nước; Mặt khác học phí của
trường thực hiện theo NQ 23/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hòa bình căn cứ điều kiện
kinh tế, xã hội của địa phương để quyết định. Do vậy, mức thu học phí của nhà trường
hiện áp dụng khá thấp. Đây là một khó khăn lớn cho nhà trường trong công tác cải thiện
tình hình tài chính của nhà trường.
Việc khuyến khích mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp khác của trường
tạo điều kiện tăng nguồn thu, giúp nhà trường chủ động trong việc cải tạo, nâng cấp cơ sở
vật chất, chủ động trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập cũng như nâng cao thu nhập
cho cán bộ viên chức trong trường. Việc thu học phí, lệ phí tuyển sinh được hạch toán rõ
ràng và gửi vào KBNN Hòa Bình để kiểm soát chi theo quy định.
Tất cả các nguồn thu của nhà trường đều được quản lý tập trung tại tổ tài vụ của
trường. Việc thu học phí, lệ phí của thí sinh và người học được nhà trường cấp biên lai
cho người nộp theo đúng mẫu quy định của Tổng cục Thuế.
Nhận xét:
Việc Nhà nước chủ chương giao dần quyền tự chủ và đảm bảo về kinh phí cho các
đơn vị theo tinh thần nghị định 43/2006/NĐ-Cp, giảm dần việc bao cấp từ NSNN có ảnh
hưởng rất lớn đến tình hình tài chính của nhà trường. Do số lượng sinh viên ngày càng
giảm, NSNN giao theo đầu sinh viên dẫn đến nguồn kinh phí hạn hẹp, việc trả đủ lương,
đứng lớp cho giáo viên và các hoạt động chuyên môn khác của nhà trường cũng bị ảnh
hưởng rất nhiều.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG CÁC NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH
Việc quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực tài chính trong nhà
trường có vai trò rất quan trọng, góp phần tích cực để nhà trường hoàn thành nhiệm vụ
Nhà nước giao, đó là đào tạo và nghiên cứu khoa học.
2.1. Thực trạng về nguồn thu
Ngoài khoản kinh phí NSNN cấp thường xuyên tính theo số lượng sinh viên,
khoản kinh phí không thường xuyên phục vụ cho đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang
thiết bị dạy học, trường CĐSP Hòa Bình còn có các nguồn thu khác như:
- Thu lệ phí tuyển sinh
Hiện nguồn thu lệ phí tuyển sinh chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn thu sự
nghiệp của nhà trương.
- Thu sự nghiệp khác:
Ngoài nguồn thu từ lệ phí, trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình còn thực hiện mở
rộng các hoạt động nhằm tăng nguồn thu khác của nhà trường như : Thu từ liên kết đào
tạo với các trường Đại học trong nước, nguồn thanh lý tài sản, dịch vụ gửi xe, căng tin,
nhà ăn, ký túc xá.... Các nguồn thu sự nghiệp này góp phần tạo điều kiện cho trường mở
rộng đầu tư trang thiết bị, nâng cấp cơ sở vật chất và cải thiện thu nhập của cán bộ viên
chức trong trường.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc tạo nguồn thu sư nghiệp khác, nhưng do đặc
thù riêng của trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình chủ yếu đào tạo là ngành sư phạm , vì
vậy những hoạt động kinh doanh dịch vụ còn rất hạn chế.
2.2 Về tình hình sử dụng kinh phí
- Quản lý chi thường xuyên:
Chi hoạt động thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi của trường Cao
đẳng sư phạm Hòa Bình. Kinh phí chi hoạt động thường xuyên của trường bao gồm: Kinh
phí NSNN cấp cho chi thường xuyên và kinh phí từ thu hoạt động sự nghiệp của trường.
+ Chi thanh toán cá nhân:
Bao gồm các khoản chi tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, tiền
thưởng, phúc lợi tập thể, thu nhập tăng thêm và các khoản đóng góp như bảo hiểm xã hội,
kinh phí công đoàn. Khoản chi này nhằm bù đắp hao phí lao động, đảm bảo quá trình tái
sản xuất sức lao động cho giảng viên, cán bộ viên chức của trường. Trong nhóm mục chi
cho con người, còn một phần chi cho học bổng và trợ cấp cho sinh viên. Khoản chi này
được thực hiện theo quy định của Nhà nước và chiếm tỷ lệ không cao so với tổng mức chi
thường xuyên của trường.
Chi thanh toán cá nhân chiếm tỷ lệ cao trong tổng chi thường xuyên. Khoản chi
này có xu hướng tăng do nhà nước thực hiện điều chỉnh tăng lương cơ bản và mục tiêu
nâng cap thu nhập nhằm cải thiện đời sống của cán bộ viên chức. Trong những năm qua,
nhà trường cũng đã cố gắng tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên tuy nhiên do nguồn kinh
phí còn hạn hẹp nên số thu nhập này còn thấp.
+ Chi về hàng hóa, dịch vụ, nghiệp vụ chuyên môn
Bao gồm các khoản thanh toán các dịch vụ công cộng như điện, nước, xăng xe, vật
tư văn phòng, công cụ dụng cụ, công tác phí, thông tin tuyên truyền, liên lạc, chi hội nghị,
đây là khoản chi mang tính thường xuyên, thiết yếu. Thực hiện chủ trương tiết kiệm để
tăng thu nhập cho người lao động, các nội dung chi này luôn được nhà trường quan tâm
và quy định cụ thể trong quy chế chi tiêu nội bộ. Để quản lý tiết kiệm và hiệu quả các
khoản chi này, thời gian qua nhà trường đã thực hiện khoán chi một số mục như: điện
thoại, văn phòng phẩm, công tác phí....
Ngoài ra các khoản chi phí thuê mướn, mua giáo trình, tài liệu, dụng cụ học tập,
vật liệu, thù lao hướng dẫn thực tập, chi phí mời giảng...phụ thuộc vào nhu cầu thực tế
của trường. Đây là các khoản chi nhằm đáp ứng các điều kiện giảng dạy, có vai trò quan
trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả quản
lý nội dung chi naỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Vì vậy, việc nâng cao
hiệu quản quản lý nội dung chi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo của nhà
trường.
+ Chi đầu tư mua sắm, sửa chữa
Bao gồm các khoản chi mua sắm, sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định, nâng cấp
trường lớp, trang thiết bị phòng học, phòng thí nghiệm, phòng máy vi tính... nhằm đảm
bảo điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập.
+ Chi thường xuyên khác
Các khoản chi hoạt động thường xuyên không hạch toán vào các khoản chi trên mà
được hạch toán và khoản chi khác, bao gồn các nội dung chi chủ yếu: các khoản chi về
phí và lệ phí; chi bảo hiểm tài sản, chi tiếp khách và hỗ trợ khác.
+ Quản lý việc trích lập và sử dụng các quỹ
Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, sau khi trang trải các khoản chi phí và
thực hiện đầy đủ các nghĩ vụ với NSNN theo quy định (thuế và các khoản phải nộp), căn
cứ vào số chênh lệch thu lớn hơn chi (thu, chi hoạt động thường xuyên) Hiệu trưởng nhà
trường chủ động quyết định việc trích lập quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ saukhi thống
nhất với các tổ công đoàn của trường. Việc trích lập và sử dụng các quỹ của nhà trường
trên cơ sở phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thực hiện theo đúng tinh thần
của nghị định số 43/2006/NĐ-CP.
Hiện nhà trường trích lập các quỹ như sau:
+ Quỹ dự phòng ổn định tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho CBGV: Nếu đơn vị
xét thất có khả năng tiết kiệm chi phí thì có thể trích lập quỹ này nhằm đảm bảo thu nhập
cho người lao động.
+ Quỹ khen thưởng: nhằm khen thưởng đột xuất và định kỳ cho các cá nhân có
thành tích trong học tập và công tác.
+ Quỹ phúc lợi: dùng để xây dựng, sửa chữa các công trình phuc lợi, chi cho các
hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị, chi trợ cấp khó khăn đột xuất
cho người lao động, hỗ trợ, nâng cao đời sống cho CBCC trong cơ quan. Chi thêm cho
người lao động trong biên chế khi thực hiện tinh giảm biên chế.
+ Quỹ ổn định phát triển hoạt động sự nghiệp: được dùng để đầu tư, phát triển
nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây sựng cơ sở vật chất, mua sắm trang
thiết bị, nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, trợ giúp đào tạo, bồi
dưỡng năng lực quan lý, tham quan học tập, huấn luyện nâng cao tay nghề, năng lực cho
cán bộ, viên chức trong đơn vị.
CHƯƠNG III
NỘI DUNG BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH NHẰM GIẢI PHÁP VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Phần I. Hướng dẫn nguồn ki h phí, tính chất nguồn kinh phí, lập dự toán và xây dựng quy
chế chi tiêu nội bộ
3. Nguồn kinh phí chi thường xuyên
3.1 Định mức giao dự toán chi các đơn vị
Định mức giao ngân sách hàng năm theo đầu sinh viên (theo NQ 26/2016 của Hội
đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình). Đây là sự khó khăn cho các trường Đại học, cao đẳng
trong cả nước nói chung và trường cao đẳng sư phạm nòi riêng đó là tuyển sinh đầu vào
ngày một ít. Khi giao kinh phí ngân sách ít thì đơn vị sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong năm
chẳng hạn như hoạt động chuyên môn, mua sắm sửa chữa, thu nhập tăng thêm cho cán bộ
giáo viên, ....
3.2 Định mức giao dự toán đối với các trường chuyên nghiệp
Giao theo Nghị quyết 26/2016 của hội đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình (Kinh phí
giao cho nhà trường được cấp theo số sinh viên sư phạm trúng tuyển vào trường theo mức
sinh viên cao đẳng 12.000.000 đồng/1 năm/1 em và sinh viên trung cấp từ 11.000.000
đ/1 năm/1 em. Tổng nguồn kinh phí quyết định sự tự chủ về mặt tài chính của đơn vị là
kinh phí tự chủ do NSNN cấp chiếm chủ yếu của nhà trường.
3.3 Nguồn kinh phí không thường xuyên
Cấp một phần kinh phí theo yêu cầu của đơn vị nhằm bổ sung mua sắm, sữa chữa nhỏ
của đơn vị đáp mứng nhua cầu đào tạo
Kinh phí cấp bổ sung khi nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu
Kinh phí giao thực hiện chi trả phụ cấp thâm niên nhà giáo theo NĐ 54/2011/NĐ-CP
Các bước lập dự toán
+ Xác định số viên viên hiện có
+ Lập danh sách sinh viên các lớp
+ Thông báo chỉ tiêu tuyển sinh của bộ
+ Nghị quyết 26/2016/NQ-HĐND tỉnh Hòa Bình
+ Quyết định giao chỉ tiêu biên chế của Giám đốc sở giáo dục và đào tạo Hòa Bình
+ Các văn bản khác có liên quan ( bảng thanh toán tiền lương CBGV, các chế độ học
sinh, sinh viên....)
Biểu mẫu lập dự toán các thông số cần thiết (có biểu chi tiết kèm theo)
III. Thực hiện thu, chi dự oán
Nguồn kinh phí được giao
Tất cả nguồn kinh phí được giao đều được kiểm soát chi qua kho bạc nhà nước tỉnh Hòa
Bình, và được ghi sổ, báo cáo tài chính kịp thời đúng thời gian quy định nhà nước
Kinh phí chi thường xuyên
Đảm bảo các khoản chi tiền lương, phụ cấp, chức vụ, các khoản đóng góp của nhà
nước
Kinh phí chi không thường xuyên
Chi mua sắm sữa chữa cơ sở vật chất, các chế độ của sinh viên theo thông tư
53/1998/TT-TTLT/BGD&ĐT-BLĐTB-TB$XH ngày 25/8/1998 của Bộ giáo dực và đào
tạo, Bộ lao động thương binh &Xã hội, Bộ tài chính và Quyết định 66/2013/QĐ-TTg
ngày 11/11/2013 về chính sách hỗ trợ chi phí học tập đối với sinh viên là người dân tộc
thiểu số học tại các cơ sở giáo dục đại học
IV Thủ tục chứng từ thanh toán, mẫu biểu, kiểm tra kiểm soát và lưu giữ chứng từ kế
toán.
Thủ tục chứng từ thanh toán
Mọi chứng từ thanh toán đều được kiểm soát chi qua kho bạc nhà nước và khoản
thu nhập từ tiền lương, thu nhập khác ngoài lương đều được thanh toán qua tài khoản cá
nhân
Danh mục biểu mẫu chứng từ kế toán Theo biểu mẫu quy định nhà nước
Kiểm tra, kiểm soát chứng từ trước khi thanh toán
Khi cán bộ giáo viên thanh toán thì bộ phận kế toán hướng dẫn, kiểm tra, kiểm
soát, sau đó được thủ trưởng đơn vị duyệt chi
Phương pháp hoạt toán kế toán một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu, tổng kết báo cáo
quyết toán
Hoạch toán theo đúng mục, chọn nguồn đúng, báo cáo theo quý, cuối tháng được
kiểm tra quỹ theo quy định nhà nước khi nhà trường thu các khoản thu sự nghiệp thì
mang ra kho bạc nộp để thực hiện các khoản chi theo quy định pháp luật
CHƯƠNG IV
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÒA BÌNH
4.1 Giải pháp về phía trước trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình
Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã tạo ra sự công khai, minh bạch hóa các hoạt động của
nhà trường. Tuy nhiên, để khắc phục nhứng vấn đề còn tồn tại, bất cập nhà trường cần
giải quyết tốt các vẫn đề sau:
4.1.1.Quán triệt cơ chế tự chủ tài chính đến tất cả các cán bộ, giáo viên, nhân viên
trong toàn nhà trường
Thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, quản lý tài chính công chế độ tự chủ là thiết
thực, góp phần cải thiện thu nhập, tự chủ về biên chế, tài chính phát huy vai trò trách
nhiệm và quyền làm chủ cuat cán bộ, giáo viên, nhân viên
4.1.2. Tăng cường các nguồn lực tài chính
Qua phân tích nguồn tài chính của Trường CĐSP Hòa Bình hiện nay cho thấy,
nguồn tài chính duy trì hoạt động chủ yếu tài nguồn Ngân sách NN cấp hàng năm chi
thường xuyên của ngân sách là lương cán bộ giáo viên, điện, nước, xăng xe và các khoản
đóng góp ngoài ra hoạt động chuyên môn và mua săm, sữa chữa là không có. Các nguồn
thu khác của nhà trường ngày một ít. Điều này thể hiện không đa dạng về nguồn tài chính
của nhà trường. Để phát triển nguồn tài chính theo hướng bền vững, Trường CĐSP Hòa
cấn tăng cường khai thác, đa dạng các nguồn thu tài chính qua các hình thức
+ Nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cấu ngày càng cao của xã hội, quảng
bá tuyển sinh trên các phương tiện nâng cao uy tín chất lượng nhà trường. Điều đó góp
phần thu hút học sinh, sinh viên
+ Liên kết các trường đại học, mở các lớp ngoài sư phạm, trung tâm đào tạo ở huyện
đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo mới mọi hình thức để tăng nguồn thu nhà trường.
4.1.3 Hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính
Khi được giao tự chủ tài chính, các định mức giao theo NQ 26/2016 hội đồng nhân
dân tỉnh Hòa Bình, các văn bản liên quan định mức, tiêu chuẩn tiếp khách, chế độ công
tác phí đề được thực hiện theo công văn 120.121 của UBND tỉnh Hòa Bình
Thực hiện các giải pháp đổi mới trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực tài
chính, nhà trường cần xắp xếp tổ chức lại bộ máy, biên chế và nâng cao hiệu quả sụng
dụng quỹ tiền lương, tiền công, tiết kiệm các khoản chi mua sắm, sữa chữa, nhiêm cứu
khoa học, chuyên môn....
Trường CĐSP Hòa bình những năm gần đây phần thu nhập tăng thêm cho các bộ
giáo viên, nhân viên nhà trường không có, tiết kiệm tất cả các khoản chi nhà trường
4.1.4 Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản
Những năm gần đây nhà trường đã đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, cho cơ sở
thực hành mầm non Hoa Sen, máy vi tính, thiết bị chuyên dùng...
Để tăng cường quản lý, phục vụ các tài sản nhà trường cần nâng cao công tác quản
lý và cả trình độ sử dụng một cách có hiệu quả
Trong thời gian tời nhà trường cần có kế hoạch mua sắm tăng cường cơ sở vật chất
nhà trường, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đáp ứng nhu cầu đào
tạo, tận dụng tài sản hiện có của nhà trường trách hiện tượng thất thoát, lãng phí.
4.1.5 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài chính
Năng lực làm việc của cán bộ làm công tác tài chính sẽ quyết định chất lượng, hiệu
quả hoạch toán chi tiêu trong công tác tài chính hiện nay, cán bộ tài chính cần nâng cao
trình độ nghiệp vụ chuyên môn, sử dụng đào tạo cán bộ đúng mục đích. Theo hướng đào
tạo và giải pháp thì chúng ta cần thực hiện như sau:
Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, nghiệp vụ chuyên môn đối với đọi ngũ cán bộ quản lý
tài chính tạo điều kiện cho cán bộ trẻ phát huy năng lực trình độ chuyên môn
Có kế hoạch đạo tạo, bồi dưỡng cho cán bộ công tác tài chính về tin học, ngoại ngữ
nhằm trang bị kỹ năng cần thiết phục vụ công việc chuyên môn
4.1.6 Tăng cường công tác hoạch toán kế toán công khai tài chính
Hoạch toán kế toán thực hiện thu nhận và sử lý thông tin về các vấn đề phát sinh
hành ngày, thực hiện công tác hoạt toán kế toán theo đúng quy định nhà nước đồng thời
làm báo cáo hàng quý, năm theo đúng thời gian quy định, ghi chép sổ sách kế toán một
cách kịp thời, chính xác.
Hàng năm tổ chức hội đồng tự kiểm tra tài chính theo thông tư 67 và Nghị định số
43/2006/NĐ-CP của chính phủ, để thực hiện kịp thời những sai sót trong công tác tài
chính đi vào nề nếp theo đúng quy định của Nhà nước.
4.1.7 Hoàn thiện cơ chế trả lương và thu nhập cho cán bộ giáo viên chức:
Trong những năm gần đây, mức lương cơ bản có tăng nhưng vẫn chưa đảm bảo
được cuộc sống đối với nhân viên hành chính, thu viện, tờng cần có thêm phần tăng thu
nhập cho cán bộ nhân viên phòng hành chính, thư viện.
4.2 Kiến nghị
4.2.1 Đối với UBND tỉnh Hòa Bình
Nâng cao kinh phí cấp ngân sách theo đầu sinh viên cho học sinh sư phạm cả hệ
cao đẳng và hệ trung cấp để nhà trường có thêm kinh phí tạo điều kiệnđiều kiện nâng cao
chất lượng dạy học. Giao quyền tự chủ cho nhà trường trong việc mua sắm cơ sở vật chất
phục vụ dạy học.
Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà trường trong việc xây dựng vị trí việc làm
nhằm đảm bảo cân bằng lao động và kế hoạch tuyển sinh hàng năm của nhà trường.
4.2.2 Đối với chính phủ và các bộ ngành liên quan
4.2.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, Chính phủ đã phê duyệt
chương trình tổng thể về cải cách hành chính nhà nước với nhiều nội dung lớn, trong đó
cải cách hành chính công là một nội dung quan trọng. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính
trong các đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những bước đột phá của cải cách hành
chính công. Thực hiện theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đã giúp các cơ sở giáo dục
công lập đạt được những kết quả tích cực, tạo được động lực phát triển để nâng cao chất
lượng, tăng thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện Nghị định
vẫn còn nhiều vướng mắc, do vậy chúng ta cần kết hợp một số giải pháp để hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả của tính tự chủ tài chính trong đơn vị.
Thực tế cho thấy công tác quản lý tài chính đạt hiệu quả cao khi quản lý tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về tài chính cho các cơ sở giáo dục công lập, do đó Nhà nước cần hoàn
thiện, bổ sung hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến việc thực hiện Nghị định số
43/2006/ NĐ-CP và một số văn bản quy định trong ngành giáo dục ban hành đã lâu không
còn phù hợp, nhằm tạo môi trường pháp lý hoàn chỉnh giúp các cơ sở giáo dục công lập
chủ động trong quản lý và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả. Hoạt động giáo
dục đào tạo hiện nay rất phong phú và đa dạng, ngoài các hệ đào tạo chính quy, không
chính quy, đào tạo từ xa,…còn có các phương thức đào tạo ngắn hạn, liên kết đào tạo từ
cao đẳng lên đại học, đào tạo chứng chỉ. Cần có các văn bản hướng dẫn thực hiện quản lý
nguồn lực tài chính cho phù hợp với từng phương thức đào tạo.
Một là, Các Bộ liên quan cần ban hành các văn bản hướng dẫn thự hiện quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính:
- Ban hành các văn bản quy định tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành, chất lượng
và kết quả hoạt động các trường được giao quyền tự chủ. Hướng dẫn thống nhất công tác
quản lý thu chi các lớp chứng bồi dưỡng chứng chỉ, Chương trình liên doanh, liên kết, để
thu học phí tương xứng với chất lượng đào tạo đã quy định tại diều khoản 6 diều 65 của
luật giáo dục đại học năm 2012.
- Tăng cường quản lý, mua sắm tài sản nhà trường
- Đơn giản hóa quy trình, thủ tục, mua sắm tài sản.
Hai là, Để luật quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước theo số 09/2008/QH12; Nghị
định 52/2009/NĐ-CP, và thông tư 12/2012/TT-BTC ứng dụng trong thực tiễn tại các
trường thì Bộ Tài chính cần ban hành ngay mẫu hồ sơ, nội dung các văn bản đề nghị, đề
án sử dụng tài sản…đối với đơn vị sự nghiệp công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác
định giá trị tài sản để giao quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp. Có như vậy,
mới tạo điều kiện cho các trường chủ động hoàn thành thủ tục hồ sơ trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt, nhanh chóng sử dụng hiệu tài sản hiện có, đồng thời khuyến khích các
cá nhân, tổ chức liên doanh, liên kết đào tạo với các trường, qua đó thu hút các kênh đầu
tư mới để các trường chủ động tham gia hội nhập quốc tế.
Ba là, Nhà nước nên giao cho các trường tự quyết định mức chi thu nhập cho cán
bộ giáo viên, nhân viên. Có nghĩa là trong cơ chế tự chủ tài chính, Nhà nước cần bãi bỏ
quy định hàng tháng chỉ được chi 60% phần chênh lệch thu lớn chi tiết kiệm được, phần
còn lại chờ cấp trên phê duyệt quyết toán; Bãi bỏ quy định mức chi tối đa không quá 2
tháng lương đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động,…nhằm khuyến khích
mọi cá nhân, tập thể tiết kiệm, chống lãng phí, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
nhiệm vụ được giao. Hơn nữa, nó tạo ra sự ổn định thu nhập hàng tháng đảm bảo mức
sống yên tâm công tác của cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường.
Năm là, Nhà nước cần có cơ chế ưu đãi, hỗ trợ tài chính cho các trường ở các vùng
miền khó khăn; đào tạo ngành nghề đặ thù, khó thu hút sinh viên, khó có cơ hội tham giao
vào sản xuất, chuyển giao công nghệ như đào tạo khoa học cơ bản; sư phạm; ngành nghề
truyền thống; văn hóa nghệ thuật.
4.2.2 Tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học công lập
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thực chất chỉ mới giao quyền tự chủ cho các trường
trong việc tổ chức chi, chưa giao quyền tự chủ về huy động nguồn lực tài chính từ học phí
và lệ phí do người học đóng góp. Đây thực sự là một bất cập lớn cho các trường trong
việc chủ động tìm kiếm, huy động nguồn lực tài chính thu hút nhân tài, xây dựng cơ sở
vật chất nâng cao chất lượng đào tạo. Việc đầu tư, mua sắm tài sản, xây dựng cơ bản đã
được phân cấp cho đơn vị tự thực hiện, nhưng giá trị tài sản phân cấp còn thấp. Nhiều
định mức, tiêu chuẩn như định mức giờ giảng, chế độ thanh toán ngoài giờ, mức thu học
phí, lệ phí…không còn phù hợp, thanh toán theo thông tư 47 và quy chế chi tiêu nội bộ
nhà trường.
Mức học phí được quy định theo Nghị quyết 23/2016 của hội đồng nhân dân tỉnh Hòa
Bình các trường học chất lượng cao không được thu học phí cao thu theo quy định của
nhà nước, vì vậy chưa khuyến khích việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất
lượng giáo dục, tạo ra bất lợi và thiếu bình đẳng về điều kiện phát triển của các cơ sở giáo
dục trong nước so với các cơ sở giáo dục .Điều này trực tiếp gây nên hiện tượng sinh viên
Việt Nam có điều kiện kinh tế ra nước ngoài học tập trong thời gian vừa qua. Nhà nước
cần đầu tư cho các trường đại học, cao đẳng trọng điểm, các trường đại học, cao đẳng
công lập tự chủ hoàn toàn về kinh phí hoạt động thường xuyên được quyền tự chủ về mức
thu học phí. Đối với các trường đại học, cao đẳng công lập còn lại, chính phủ cần xây
dựng các khung học phí theo chất lượng cao, các khung học phí này phải tương ứng với
các nhóm thứ bậc về chất lượng đào tạo.
Thời gian qua với chính sách cắt giảm kinh phí, nhu cầu đầu tư mua sắm và xây dựng
mới bị hạn chế và giá cả trên thị trường luôn tăng, vô hình chung làm giảm hiệu quả sử
dụng kinh phí của các trường. Đối với các trường đại học, cao đẳng công lập được tự chủ
tài chính, số tiền thu từ học phí và lệ phí không nên bắt buộc các đơn vị phải gửi tại kho
bạc Nhà nước, thay vào đó được gửi ở ngân hàng và các trường được tự chủ trong việc sử
dụng lãi thu được.
Cần phải xem xét lại việc quy định về giờ giảng nghĩa vụ của giảng viên. Hiện nay
mức giờ giảng một năm quy định cho giảng viên và giáo viên trong các trường đại học,
cao đẳng công lập còn quá cao là 270 giờ/1giáo viên/năm học Với mức giờ giảng như vậy
làm cho các giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ không có thời gian dành cho nghiên cứu
khoa học.
4.2.2.2Nhà nước cần có sự thay đổi về chế độ kiểm tra, giám sát
Một là, khi đã có các quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ thì cho phép các
trường dược chi những khoản cho cao hơn định mức quy định của Nhà nước.
Hai là, cần giảm bớt sự kiểm soát chi của kho bạc. Các trường chỉ phải mở tài
khoản tại kho bạc để phản ánh các khoản kinh phí thuộc ngân sách cấp. Phần kinh phí
trích lập các quỹ; khoản thu học phí, lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác thì cho phép
các trường chuyển sang mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng thương mại để hưởng lãi,
tiền lãi này được sử dụng là một nguồn thu hợp pháp. Có như vậy, mới tạo thêm nguồn
thu và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính nhàn rối của các trường.
Ba là, Ngân sách cấp cho các trường theo chế độ khoán và hậu kiểm theo phương
thức thanh tra, kiểm toán định kỳ; trong năm các trường được trích lập quỹ phát triển
hoạt động sự nghiệp từ nguồn NSNN cấp chi cho hoạt động thường xuyên để các trường
có nguồn vốn chi cho đầu tư XDCB, mua sắm TSCĐ nhằm giảm bớt khó khăn cho các
trường sư phạm, các trường có nguồn thu ngoài NS thấp.
4.2.2.4 Chính sách đối với giảng viên và cán bộ trong ngành giáo dục
Tiền lương là khoản thu nhập duy nhất đối với đại bộ phận các giảng viên, vì giảng
viên không có làm thêm, không có tiền thưởng như các ngành nghề khác nên thu nhập của
đa số giảng viên nói chung, đặc biệt là của giảng viên trẻ thấp hơn so với thu nhập của
ngành nghề khác. Nhìn chung chính sách tiền lương chưa tạo điều kiện để giảng viên yên
tâm công tác, chưa thực sự đúng vị trí coi giáo dục và đào tạo là “ Quốc sách hàng đầu”.
Hệ thống thang bảng lương ngành giáo dục đào tạo đại học hiện cũng như thang bảng
lương của các ngành khác ( tốt nghiệp đại học đều có lương bậc 1 là 2,34), trong khi đó
chuyên viên làm việc trong các ngành nghề khác chỉ yêu cầu phải tốt nghiệp đại học, còn
với nhiều trường giảng viên đại học yêu cầu phải tốt nghiệp đại học loại giỏi và sau đó
phải có trình độ sau đại học…
Từ tháng 5 năm 2011 Nhà nước cũng đã áp dụng chế độ phụ cấp thâm niên cho
ngành giáo dục, nhưng chỉ áp dụng với các giảng viên đã có 5 năm giảng dạy trở lên, vì
vậy các giảng viên trẻ vừa vừa có hệ số lương thấp, vừa không được hưởng phụ cấp thâm
niên trong khi còn phải học để nâng cao trình độ lên thạc sỹ, tiến sỹ.
Do những hạn chế nêu trên, nên tiền lương chưa đủ sức thu hút người giỏi, đặ biệt
đối với những giảng viên trẻ mới ra trường. Nhà nước phải có chính sách đảm bảo cho
giảng viên trong các cơ sở giáo dục đại học công lập ổn định đời sống và ngày càng được
cải thiện. Cần xây dựng chế độ thang bảng lương hợp lý phù hợp với cấp học và trình độ
đào tạo, cần thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên cho tất cả các nhà giáo và cán bộ quản lý
công tác trong ngành giáo dục.
*Ngày 14/2/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định
cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế nghị định 43/2006/NĐ-CP.
Việc ban hành Nghị định trong thời điểm hiện nay đã kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi
mới, phát triển của hoạt động sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã
hội chủ nghĩa; thay đổi cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công
lập, từng bước áp dụng phương pháp quản trị doanh nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp
công lập thông qua hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật, xây dựng lộ trình để
đơn vị sự nghiệp cỏ đủ điều kiện hạch toán đầy đủ chi phí, chuyển đổi từ việc giao dự
toán sang phương thức đặt hàng của nhà nước, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp
công dựa trên hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng của
từng loại hình dịch vụ công. Bên cạnh đó, tạo khung pháp lý để các Bộ, ngành có liên
quan trình Chính phủ ban hành các Nghị định quy định về cơ chế tự chủ đối với các lĩnh
vực cụ thể phù hợp với đặ thù của ngàng, lĩnh vực.