DI TÍCH ĐÌNH DĨNH SƠN
Dĩnh Sơn là làng cổ nằm tựa lưng vào núi Con Voi thuộc xã Trung Sơn,
huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình xây dựng và làng phát triển,
những con người ở đây đã lập trên mảnh đất quê hương mình những công trình tín
ngưỡng, tôn giáo để làm nơi sinh hoạt tâm linh chung của cộng đồng. Ở Dĩnh Sơn
tiêu biểu có đình Dĩnh Sơn là tín hiệu được xây dựng từ lâu đời. Trải qua thời gian
và chiến tranh, công trình tín ngưỡng này đã qua nhiều lần tu sửa, tôn tạo và được
nhân dân giữ gìn cho đến ngày hôm nay. Vào thời điểm dựng đình có lẽ lúc đó
Dĩnh Sơn là một làng có hoạt động kinh tế bị khá sầm uất, đa dạng, nên mới có thể
dựng được những công trình tín ngưỡng có quy mô hoành tráng như vậy. Như thế
Dĩnh Sơn phải là một làng cổ, có lịch sử tồn tại và phát triển từ nhiều thế kỷ nay.
Hiện nay, trong đình Dĩnh Sơn vẫn còn lưu giữ được một số nguồn tài liệu,
hiện vật cổ, có giá trị lịch sử, văn hóa như hoành phi, câu đối, sắc phong, bia đá,
bắt hương, bộ bát bửu, chấp kích.... làm cứ liệu chứng minh rằng đây là một di tích
cổ. Đình làng Dĩnh Sơn được công nhận là di tích cấp tỉnh vào 2010.
Đình Dĩnh Sơn nằm về hướng Tây Nam của thị trấn Bích Động, cách thành
phố Bắc Giang khoảng 15 km về hướng Tây Nam. Từ thành phố Bắc Giang qua
cầu sông Thương đi theo đường quốc lộ 1A (cũ) khoảng 10km đến ngã tư Đình
Trám, rẽ phải đi vào thị trấn Bích Động. Từ thị trấn Bích Động đi rẽ trái khoảng 5
km đến UBND xã Trung Sơn. Từ UBND xã Trung Sơn theo đường liên xã khoảng
2km là đến thôn Dĩnh Sơn và di tích đình Dĩnh Sơn.
Ngôi đình có quy mô to lớn, không gian cảnh quan thoáng đạt. Đình Dĩnh
Sơn tọa lạc trên một khu đất cao, rộng ở sườn phía Nam núi Con Voi, thuộc đất số
139 tờ bản đồ địa chỉ số 15, với tổng diện tích khuôn viên là 1.311,6m.
Đình Dĩnh Sơn nhìn về hướng Đông Nam, trước là đường liên xã và cánh
đồng canh tác, hướng Bắc là ngôi chùa Linh Sơn cổ kính, xung quanh định là khu
dân cư trù mật.
Từ xa xưa Đình Sơn vẫn tọa lạc như vị trí hiện tại. Theo tài liệu được chép
trên văn bia còn lưu trữ tại đình, đình Dĩnh Sơn được sửa vào năm 1699 do quan
Thái bảo họ Lê Đỗ hưng công. Như vậy có thể nhận định: Đình Dĩnh Sơn được
xây dựng từ trước năm 1699, bởi có đình rồi mới có công việc chỉnh sửa và lập bia
hậu thần.
- Năm 1949, Thực dân Pháp đánh Trung Sơn. Đầu năm 1950 phá bỏ đình,
lập vành đai trắng, nhân dân phải sơ tán đi nhiều nơi.
- Năm 1954, sau khi hoà bình lập lại nhân dân hồi cư. Đầu năm 1955, chính
quyền xã Trung Sơn cho Ngọn lửa Tây trên núi Con Voi, lấy gỗ chia cho Dĩnh Sơn
3 gian gỗ lim nhỏ.
- Năm 1956, dân làng sử dụng số gỗ được chia cùng nhau dựng lại đình.
- Năm 2002, nhân dân Dĩnh Sơn lớn 3 gian đình, xây mới trên nền đất, đồng
thời tôn tạo thêm một số công trình như: nghi môn, sân, tường bao ...
- Năm 2004, Đình Dĩnh Sơn được hoàn thành với quy mô lớn bao gồm một
tòa nhà 3 gian 2 chái và một hậu cung 2 gian.
- Đình Dĩnh Sơn là nơi tôn thờ các thánh: Cao Sơn - Quý Minh- Bá Trọng.
Cao Sơn - Quý Minh vốn là thuộc tướng của vua Hùng Vương thứ 18. Hai
ông đã phù Vua giúp nước, lập được nhiều công lao trong chống lại giặc nổi loạn,
đem lại bình yên cho đất nước, công lao của hai ông được ghi lại trong thần tích,
sắc phong cho các nhân dân thờ phụng.
Về thánh Bá Trọng chưa tìm thấy tài liệu nào nói về vị thánh, Theo lời kể
của các cụ cao niên trong làng, thánh Bá Trọng là thuộc tướng Lý Bí (tức Lý Nam
Đế), ông có công trong việc giúp vua Lý Bí đánh đuổi giặc nhà Đường xâm lược
vào thế kỷ thứ VI để đem lại bình yên cho đất nước, sau khi thác đi ông được nhân
dân địa phương lập đền thờ và suy tôn là thành hoàng làng.
Đình Dĩnh Sơn được tạo bởi 3 hạng mục công trình chính: nghi môn, tiền
đình, hậu cung. Nghi môn đình được xây theo kiểu nghi môn tứ trụ gồm 3 cửa: một
cửa chính và hai cửa phụ. Cửa chính được giới hạn bởi hai trụ biểu cao khoảng
5,5m, trên đỉnh trụ biểu có đắp hình 4 con phượng chung thân, ba mặt của thân trụ
biểu đắp nổi câu đối chữ Hán nội dung ca ngợi cảnh đình. Hai bên tả, hữu nghi
môn xây cột đồng trụ thấp hơn cột chính, trên đỉnh cột đắp nổi hai con nghê chầu
vào nhau, thân cột đắp nổi câu đối chữ Hán.
(Cổng đình Dĩnh Sơn)
Qua nghi môn bước vào sân đình. Sân đình rộng dãi, thoáng đãng, được lát
gạch vuông cỡ gạch 30cm x 30cm. Qua sân bước 5 bậc lên thềm, từ thềm bước
thêm 6 bậc đến tòa tiền đình. Toà tiền đình Dĩnh Sơn gồm 3 gian 2 chái, chiều dài
18.8m, chiều rộng 11,5m. Hai hồi hai bên được xây theo lối tương hồi bít dốc. Hai
bên hồi phía trước xây gạch chỉ, ngoài phủ áo vữa, quét ve màu vàng, chỗ cửa hình
tròn có trang trí hoa văn.
(Đình Dĩnh Sơn)
Hệ thống mái của tòa tiền đình gồm 4 mái, hai mái chính (trước và sau) và
hai mái hai bên đầu hồi, trên bờ nóc có gắn giải hoa chanh, chính giữa đắp nổi hình
Lưỡng long chầu nhật. Hai bên đầu mái đắp nổi hình con kìm. Bờ dải đắp hình hoa
chanh, ngoài phủ áo vữa soi gờ. Góc bờ guột mỗi bên gắn một con sô nhìn về phía
trước đình, bờ guột chạy thẳng xuống dưới đến góc đình uốn lượn thành đao cong
mềm mại, dỡ đầu đao hai bên là bẹ tàu, bẹ đao, ngói lưỡi cày và trụ biểu.
Kết cấu chịu lực của tòa tiền định được tạo bởi 4 vì, mỗi vì 4 hàng chân cột,
khoảng cách giữa cột cái với cột cái là 4,1m, giữa cột cái và cột quân là 2,5m. Vì
nóc tòa tiền đình được liên kết theo kiểu chống giường. Vì nách phía trước kết cấu
theo kiểu kẻ ngồi, vì nách phía sau được tạo bởi 4 cấu kiện chính là kẻ ngồi, trụ
chốn, giường cụt, ván dong. Tại chính giữa tòa tiển đình có treo bức hoành phi
“vạn cổ anh linh". Dưới bức hoành phi là cửa võng, cửa võng được sơn thếp cẩn
thận trang trí hình lưỡng long chầu nhật và để tài tứ linh tứ quý. Hai cột gian giữa
có treo hai câu đối với nội dung ca ngợi công lao của các thánh. Nền tiền đình
được lát gạch vuông cỡ gạch 25cmx25 cm.
Hệ thống cửa di tích được làm theo kiểu thượng song hạ bản gồm 3 cửa: một
cửa chính và hai cửa phụ. Cửa chính rộng 3,3m, hai cửa phụ có kích thước tương
đương nhau rộng 1,5m.
Tòa hậu cung đình Dĩnh Sơn gồm hai gian đều nhau có chiều dài 5,7m,
chiều rộng 4,3m. Hệ thống chịu lực bên trong hậu cung được tạo bởi 2 vì kết cấu
theo kiểu chồng rường, mỗi vì hai hàng chân cột, hai cột hai bên có treo một đôi
câu đối nội dung ca ngợi công lao của các thần.
Tại Đình có lưu giữ 01 bát sứ thờ thời Vĩnh Thọ (thế kỷ XVII) bát có màu
men lam, xung quanh thân bát có viết chữ Hán, nội dung nói về trận chiến Xích
Bích trong lịch sử Trung Quốc thời Tam Quốc. Đo kích thước bát: cao 0,11m,
miệng bát rộng 0,19m. để rộng 0,12m.
(Bát sứ thời Vĩnh Thọ)
- Di tích có 04 bia đá dẹt:
+ Bia thứ nhất cho 1,33m, thân bia rộng 0,60m, trán bia rộng 0,46m, trang trí
hình lưỡng long chầu nhật và hình vân mây cách điệu, đế bia chạm nổi 4 chữ Hán
“Phụng sự Đỗ Lê", dòng lạc khoản khắc ghi cho biết được tạo tác vào năm Chính
Hoà thứ 20 (1699), đế bia cao 0,30m, thân bia dày 0,30m, diềm bia rộng 0,6m.
+ Bia thứ 2 cao 0,66m, trán bia rộng 0,14m, thân bia rộng 0,26m, diềm bia
rộng 0,4m, thân bia dày 0,15m, để bia cao 0,5m.
+ Bia thứ 3 đã bị mờ mòn. Đo chiều cao 0,60m, thân bia rộng 0,40m, dày
0,11m
+ Bia thứ 4 đã bị mài mòn. Đo chiều cao 0,56m, thân bia rộng 0.36m, dày
0,12m.
( Bia đá cổ Đình Dĩnh Sơn)
- 01 sắc phong được phục chế lại, dài 1,34m, rộng 0,51m. Sắc phong ban
vào ngày 15 tháng 11 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), mặt nền chính vẽ mây, Rồng,
những chấm nhỏ hình giọt nước, chữ triện, trên nền viết chữ Hán thể chữ chân
phương, điểm 4 bên là hoa văn hình trám lồng kép.
(Sắc phong niên hiệu Thiệu Trị thứ VI)
Đình Dĩnh Sơn là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân địa
phương. Hàng năm, vào ngày 17 tháng Giêng âm lịch (ngày xưa là 13 tháng 8, sau
này dân làng lấy ngày 17 tháng Giêng cùng với hội chùa), dân làng mở hội lớn, thu
hút đông đảo khách thập phương về dự hội, dân gian còn truyền lại câu ca: “Dĩnh
Sơn vào đám 7 ngày/ Vừa vào vừa dỡ vừa ra 7 ngày” để nói về quy mô của lễ hội
xưa nay. Lễ hội không đơn thuần để tưởng nhớ công lao của thành hoàng làng, mà
là ngày con em trong làng ai đi làm ăn xa, nay trở về với quê hương cùng sinh hoạt
trong cùng một cộng đồng, nêu cao đạo lý “uống nước nhớ nguồn ”của nhân dân.