51
Võ An Khánh
Mobile military Medical Clinic
during the period when the
enemy is defoliating
U Minh Forest/1970
2010
Photography
59 x 40 cm
52
The Propeller Group
AK-47 vs. M16
2015
Fragments of AK-47 and M16 bullets,
ballistics gel, custom vitrine and digital
video
137 x 64 x 37 cm
The concept behind this enemy, but joined in mid-air and the symbol of ‘freedom’
work is unique: There have under miraculous odds. In throughout the wars fought
been only a few instances in short, The Propeller Group during the second half of
the history of modern war- seeks to isolate icons of the twentieth century, the
fare in which bullets from destruction from both sides AK-47, also known as the
opposing militaries have of the Cold War, an AK-47 Kalashnikov, was the weapon
collided on the battlefield and an M16 assault rifle, and of choice for liberation, an
and merged into a single thus force the two sworn icon of revolution, and of
object. This object fuses enemies into a philosophical communism. Both assault
two projectiles aimed with dialogue. While the M16 rifles have been branded
the intention of killing the was America’s pride and joy ‘weapons of peace’ by their
53
corresponding nations. Gun Nói ngắn gọn hơn, nhóm động, cho phép mắt thường
enthusiasts to this day still Propeller muốn lựa ra hai nhìn thấy đường đi của các
continue to compare the biểu tượng huỷ diệt từ hai đầu đạn, cú nổ va chạm, và
advantages and weaknesses phe trong Chiến tranh lạnh, quá trình hoà quyện sau đó.
of their preferred guns. Iron- súng trường AK-47 và M16, (Phần miêu tả của la Bien-
ically, those same guns still và ép hai kẻ tử thù này tham nale di Venezia)
meet on today’s battlefields. gia vào một cuộc đối thoại
The AK-47 vs. The M16 is triết học với nhau. Trong khi
a series of performances khẩu M16 là niềm tự hào
where the rifles were aimed của nước Mỹ, biểu tượng của
at each other in order to ‘tự do’ trong suốt các cuộc
collide and fuse their bullets. chiến nửa sau thế kỷ 20,
The results are captured on khẩu AK-47 (còn gọi là khẩu
ultra-highspeed video and in Kalashnikov) lại là vũ khí ưu
ballistics gel blocks, allowing ái cho giải phóng quân, hình
the human eye to see the tượng của cách mạng, và
projectiles’ flight path, the phong trào cộng sản. Cả hai
explosion, and the fusion. khẩu đều được các quốc gia
(Text courtesy of la Biennale ở hai phe đặt cho danh hiệu
di Venezia) ‘vũ khí vì hoà bình’. Những
Ý tưởng đằng sau tác phẩm người đam mê súng đạn đến
này có phần đặc biệt: trong giờ này vẫn tiếp tục cân đo
lịch sử chinh chiến hiện so sánh điểm mạnh điểm
đại, chỉ có duy nhất một vài nhược của hai loại súng này.
trường hợp khi đầu đạn từ Mỉa mai thay, hai khẩu súng
hai phe đối nghịch va chạm ấy vẫn tiếp tục chạm trán
vào nhau trên chiến trường nhau trên các mặt trận quân
và kết dính thành một khối. sự bây giờ. Sê-ri AK-47 vs.
Vật thể này là tổng hòa của The M16 là một chuỗi các
hai đầu đạn vốn được ngắm trình diễn nơi hai khẩu súng
bắn với mục đích sát thương, được đặt ngắm vào nhau,
nhưng bằng cách thần kỳ với mục đích để các viên đạn
hiếm hoi nào đó lại quyện của chúng va chạm và hoà
vào nhau giữa không trung. quyện. Kết quả được thu lại
trên video siêu tốc cực đại
trong những khối thạch ứng
54
Nguyễn Huy An This piece is inspired by the Tác phẩm này lấy cảm hứng từ vị trí
STUDY OF THE FLUCTUATION undeniable significance of Lenin quan trọng không thể phủ nhận của
OF A SHADOW as a political figure in the history Lê nin như một hình tượng chính
2014 of the country and specifically in trị trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt
Three painted blackboard Hanoi. The large, 3pm shadow cast là Hà Nội. Cái bóng đổ lúc 3 giờ
panels by the East-facing Statue of Lenin in chiều của tượng đài Lê nin đặt theo
360 x 220 cm Hanoi, acts as a direct reference to hướng Đông ở Hà Nội, đóng vai trò
the influence of this political thinker chỉ dụ về tầm ảnh hưởng chính trị
on the land of Vietnam. Measured của nhà lãnh đạo này trên đất nước
during the spring equinox, the Việt Nam. Được đo trong khoảng
shadow exists as an entity out of xuân phân, cái bóng tồn ttạưiơnnhgưtá1c
the interaction between the natural một thực thể sinh ra giữ
(the sun and the spinning earth) của cái tự nhiên (mặt trời và trái
and the unnatural (the concrete đất đang quay) với cái phi tự nhiên
form of the statue). Working with (hình khối bê tông của tượng đài).
a mathematician to determine the Cộng tác với một nhà toán học để
area of Lenin’s shadow at different xác định diện tích cái bóng của
times of the day and consolidated Lê nin ở các thời điểm khác nhau
into a mathematical equation, Huy trong ngày và tổng hợp nên một
An reflects on the way our logic, công thức tính toán, Huy An chiêm
ideals, and world views have always nghiệm về cách lô-gíc, ý tưởng, và
been contained and impacted by nhãn quan của chúng ta vẫn luôn
natural forces beyond our control. chịu ảnh hưởng gò bó của những
(Text courtesy of the artist and 14th thế lực tự nhiên trên cơ kiểm soát.
Istanbul Biennial) (Phần miêu tả của nghệ sĩ trong
Istanbul Biennial lần thứ 14)
55
Nguyễn Huy An A Ă Â ... is the collection of 29 al- A Ă Â ... là bộ sưu tập 29 mẫu tự
A Ă Â ... phabetical letters with 6 tones of Vi- trong bảng chữ cái Việt Nam với sáu
2014 etnamese script, carefully extracted dấu âm, được bóc tách cẩn thận từ
29 glass wooden boxes, from the propaganda slogans drawn các khẩu hiệu cổ động vẽ trên tường
outdoor wall and paint on the walls in villages. This act is a trong các làng quê. Hành động này
12 x 32 x 7 cm each removal of word structure, bringing tháo rời cấu trúc ngôn từ, đưa các
the letters back to its basic linguistic chữ cái trở về nguồn gốc ngôn ngữ
origin before they were used to nguyên bản trước khi người ta kết
construct a political meaning. Yet chúng lại để tạo nên thông điệp
the letters still bear their historical chính trị. Tuy vậy, các chữ cái này
traces on their surfaces. the slogans vẫn mang những dấu vết thời gian
were left as a speech defected state- trên bề mặt, nơi những khẩu ngữ
ments. The extracted letters travel chỉ còn là những phát biểu lụn vụn
to artist’s studio, museum, storage rời rạc. Những con chữ không nhà
room… (Text courtesy of the artist) cứ thế du hành qua studio của nghệ
sĩ, bảo tàng, rồi phòng kho,… (Phần
miêu tả của nghệ sĩ)
56
Trâm Carin Lương (Re)present – (Re)member is a series of works created
Marx.Weber.Hegel.Andme by artist Tram Carin Luong at A. Farm. The collection
2018 explores ideas of vision, recognition, and memories
Installation of one channel video, stone of historical forces that shape modern Vietnam. The
and paper powder artist works primarily with found objects in the city
of Saigon – discarded philosophy books, damaged
photographs, and wartime bullet shells – bringing them
together to reflect on a rapidly changing society in the
aftermath of conflict. The vantage point of the series is
of a younger person urgently looking, although with
immense impasses, for a history refracted by time,
language, and different ways of seeing. Marx.Weber.
Hegel.Andme zooms unabashedly on the artist’s own
body, as she reduces discarded books to a smattering
of granular forms. In seeing the marks of time and
human forgetfulness as aesthetic abstraction, the works
locate the aftermath of war as a site of hope and beauty,
instead of desperation.
The eclectic collection poses the question of how,
as both spectators and actors of global events, can
we make present again stories of those before us, to
represent and to make them once again member of our
common history. (Text courtesy of the artist)
(Re)present – (Re)member was part of the End of Sea-
son 1 show at A. Farm in May 2018, where Tram was a
funded resident by the Nguyen Art Foundation.
57
(Re)present – (Re)member / Biểu (Tượng) – Hồi (Tưởng)
là seri tác phẩm của nghệ sĩ Trâm Carin Lương ở A. Farm.
Bộ tác phẩm bóc tách những ý niệm về cái nhìn, sự nhận
diện, và ký ức về những thế lực nắn chỉnh dòng chảy lịch
sử Việt Nam hiện đại. Nghệ sĩ chủ yếu sử dụng những đồ
vật có sẵn mà cô bắt gặp ở Sài Gòn – những cuốn sách
triết bỏ đi, những tấm ảnh hoen ố, và những vỏ đạn thời
chiến – hòng phác hoạ bức tranh toàn cảnh của một xã
hội hậu chiến đang thay đổi chóng mặt. Đằng sau seri là
điểm nhìn của một người trẻ mải miết kiếm tìm, dù luôn
đâm vào ngõ cụt, một lịch sử tán nhiễu dưới ảnh hưởng
của thời gian, ngôn ngữ, và vô vàn cách nhìn khác nhau.
Marx.Weber.Hegel.Vàtôi xoáy sâu một cách táo tợn vào
cơ thể người nghệ sĩ trong lúc cô nghiền nát những cuốn
sách bỏ đi thành bột. Thông qua việc nhận dạng những
dấu ấn thời gian và coi sự lãng quên của con người như
nét thẩm mỹ trừu tượng, tác phẩm phóng chiếu hình ảnh
thời hậu chiến như một miền đất của cái đẹp và hy vọng,
thay vì nỗi bi quan bế tắc.
Bộ tác phẩm chiết trung này đặt ra câu hỏi cho chúng ta,
cả những người trực tiếp tham gia và những cá nhân đứng
bên lề các sự kiện toàn cầu, rằng làm cách nào để ta có thể
tái dựng câu chuyện của tiền nhân, hòng tái hiện và biến
họ trở thành một phần của lịch sử chung nhân loại. (Phần
miêu tả của nghệ sĩ)
(Re)present – (Re)member / Biểu (Tượng) – Hồi (Tưởng)
là một phần của Triển lãm Cuối Mùa 1 tại A. Farm vào
tháng Năm 2018 (Trâm là nghệ sĩ lưu trú do Quỹ Nguyễn
Art tài trợ).
58
59
Lê Quý Tông
B29 Plane
2011
Oil on canvas
130 x 250 cm
60
Laurent Weyl
Window #1
(President Hotel)
2017
Photography
50 x 75 cm
The letterboxes on the entrance wall school. In 1980, the People’s Com- to the ancestors has been removed
haven’t received any post for a long mittee allocated two floors to the along with photographs and offering
time. Beneath a waning neon light Radio and Television School. Many bowls, leaving the pot filled with
and facing the fan, the concierge artists from the Vietnamese opera sand and half-used joss sticks on the
vaguely watches the comings then came to the building to benefit shelf. An empty, open suitcase was
and goings of the scooters in and from the technical equipment. left on the floor by the occupants
out of the basement. The lift has During the 1980s and 90s, when who left in a hurry.
vanished. The staircase is closed occupation of the building’s apart- This witness to the last half century
as it was threatening to collapse. ments was at its height, there were of Vietnamese history, this decaying
But the building itself is still solid. over 600 families, numbering 2500 architectural carcass, will soon be
Abandoned by the last inhabitants, residents. The corridors - a blend of destroyed to make room for new
the enormous building is slated for public and private space, as occurs projects, thus turning and erasing
demolition. everywhere in Vietnam – were a a page of History. Time runs layer
Built in the mid-1960s in the centre hum of communal life: stalls selling after layer in this building.
of the old Saigon, the President bun, miniature grocer’s shops, cafés, These dilapidated walls hold signs
Hotel was the tallest and grandest pharmacies, telephones for use by of past lives, visually inspiring mem-
building in the city at the time. the public, and so on. The building ories, moods and emotions. The
With thirteen storeys linked by long is a city within the city. fragments of the last inhabitants’
airy corridors and its rooftop pool, Since 2000, the building has not lives seem frozen in time and yet, in
it stood out, solid and reassuring, been maintained and the site, close the hallways, shadows play games,
during the Vietnam War. During to the city centre, is to be coveted. re-animating the past. (Text by
the last years of the conflict, the US The President Hotel will be demol- Sabrina Rouille)
Army rented the building to house ished. It emptied slowly but surely.
the soldiers of the YRBM-20 navy Today no one lives in it anymore.
support force. The GIs enjoyed the Everywhere in the abandoned
comfort of a building that included apartments, a hotchpotch of planks
a bar, restaurant and pool room. and stripped-down pieces of fur-
After the liberation of Saigon on 30 niture do battle with dirty, ripped
April 1975, the President Hotel was mattresses. In this room with
turned into housing, offices and a broken windows, the altar devoted
61
Laurent Weyl
Perspective #2
(President Hotel)
2017
Photography
50 x 75 cm
Những hòm thư trên bức tường nơi được cải tổ thành khu nhà ở, văn bàn thờ gia tiên đã bị tháo dỡ cùng
cửa ra vào đã từ lâu không còn thư phòng, và trường học. Vào năm với di ảnh và mâm quả, chỉ còn lại
tín. Dưới ánh đèn neon tù mù với 1980, Uỷ ban Nhân dân dành hai bát hương đầy tro và một vài que
cây quạt tốc vào mặt, người lễ tân uể tầng trong khách sạn cho Trường hương cháy dở. Một chiếc va li há
oải ngắm những chiếc xe máy vào ra Cao đẳng Phát thanh Truyền hình. miệng trống ngoác trên sàn do gia
tầng hầm. Thang máy đã biến mất. Rất nhiều nghệ sĩ cải lương đã đến chủ vội vã rời đi mà bỏ lại.
Cầu thang đã bị bít lại vì sợ sập. thu âm trong khách sạn để tận dụng Một chứng nhân cho lịch sử nửa sau
Nhưng bản thân toà nhà vẫn đứng kỹ thuật công nghệ mới. thế kỷ 20 của Việt Nam, khối kiến
đó. Không còn cư dân sinh sống, toà Trong những năm 80 và 90, dân số trúc đang mục ruỗng này sẽ sớm
nhà rộng lớn này thuộc diện sắp bị tòa nhà chạm ngưỡng đỉnh điểm, bị phá huỷ để dành chỗ cho các dự
đập bỏ. với 600 hộ dân và khoảng 2500 cư án phát triển mới, tẩy xoá một lịch
Xây vào khoảng giữa những năm dân. Các dãy hành lang – tổng hòa sử và lật sang trang mới. Những
60 ở trung tâm đô thị Sài Gòn xưa, giữa không gian riêng tư và công lớp thời gian cứ thế chất chồng bên
Khách sạn President là toà nhà cao cộng, như mọi nơi khác trên đất trong tòa nhà.
lớn nhất trong thành phố lúc bấy nước – vẽ nên diện mạo đời sống Những bức tường vụn vỡ này lưu
giờ. Với mười ba tầng nối nhau tập thể: những gánh bún, quầy tạp giữ những dấu vết sinh hoạt trong
bằng những hành lang dài thông hoá thực phẩm, tiệm cà phê, tiệm quá khứ, những chỉ báo thị giác gợi
thoáng và một hồ bơi trên nóc, nó thuốc, bàn điện thoại công cộng, và ta nhớ về những ký ức, tâm trạng,
đứng vững vàng như bàn thạch nhiều nữa. Toà nhà trở thành một xúc cảm. Những mảnh vụn cuộc
trong suốt thời gian chiến tranh. đô thị trong lòng đô thị. đời của những cư dân cuối cùng
Trong những năm cuối của cuộc Từ năm 2000, toà nhà rơi vào hoang dường như đông cứng trong thời
chiến, quân đội Hoa Kỳ đã cho thuê phế và rơi vào tầm ngắm của nhiều gian, trong khi, trong hành lang,
phòng trong khách sạn để phục vụ người do vị trí trung tâm đắc địa. bóng tối chơi trò đuổi bắt, tái hiện
binh lính thuộc đơn vị hỗ trợ hải Người ta chính thức lên kế hoạch lại cảnh xưa. (Phần miêu tả của
quân YRBM-20. Những người lính đập bỏ Khách sạn President. Các Sabrina Rouille)
GI này tận hưởng cuộc sống dễ chịu cư dân lần lượt rời đi, để lại tòa nhà
trong khách sạn với quầy bar, nhà trống vắng hiện nay. Bên trong các
hàng, và phòng bơi lội. căn hộ bỏ không, ta có thể tìm thấy
Sau giải phóng miền Nam vào ngày một mớ hổ lốn đồ nội thất cũ mòn
30/4/1975, Khách sạn President và những tấm đệm rách nát ố bẩn.
Trong một phòng với cửa sổ nứt vỡ,
62
Nguyễn Quốc Chánh removing them of their positions in conventions that
Moulds and Models 1 produce individual hegemonic meanings. At a glance,
2016 it seems chaotic, but the Guerrilla is always forced to
Ceramic and glaze deal in chaos until balance is reached. As Chánh himself
60 x 44 x 28 cm suggests, balance is the mouse that skitters between con-
ventional lines and the cat is yet to swallow it.
Attentive to the position of Biên Hoà ceramics in global If the pieces tell a story, then it is one that transcends
and nationalist imaginings, Chánh writes in his artist’s the confinements of genre and style. We can see that
statement, “Rather than nostalgic reproductions or the moulds have diverse influences: folkloric symbols
subcontracted production, I make use of local clay, in Dong Ho woodcut paintings, the serene faces of The
glazes, and techniques to evoke Biên Hoà’s eclectic Bayon at Angkor Thom and Easter Island. Often, they are
tendencies blurring the boundaries between artisanal not made by Chánh himself, but were found – gathering
craft and art, between sentiment and concept.” dust in his adopted studio in Biên Hoà. In this way, the
pieces proceed from multiple histories and are shaped by
For Nguyễn Quốc Chánh to align his latest series of ce- generations of artisans in different cultural and political
ramic sculptures with the idea of a ‘Guerilla’ mentality, contexts. In Chánh’s Guerrilla operation, they now
is to place them firmly within Vietnamese history and become material for new purposes, positioned alongside
cultural memory. To understand this process, just swap more contemporary symbols on a shared substrate: casts
the image of a jungle soldier, living opportunistically of credit cards, face moulds of football-playing children
within their environment and replace it with an artist and images borrowed from the high relief facets of Ben
whose materials are found and requisitioned. What Thanh Market. In collecting these tools, Chánh acts as a
emerges are assemblages that fuse multiple symbols, gatherer and a disruptor. The recognisable motifs must
exist in relation to each other and are rendered unfamil-
iar in a state of disorder and uncertainty. A surreal and
alluring effect is achieved. (Text courtesy of the artist)
Vốn nhận thức rõ những hình dung mường tượng về
gốm Biên Hoà trong và ngoài nước, Chánh viết trong lời
tựa cho tác phẩm, “Thay vì ôm ấp hoài niệm hay sản xuất
theo đơn hàng, tôi chọn sử dụng đất sét, men, cũng như
kỹ thuật địa phương để khơi gợi lại tâm thế ‘chiết trung’
của nghề gốm Biên Hoà, xoá nhoà ranh giới giữa mỹ
nghệ và mỹ thuật, giữa xúc cảm và ý niệm.”
Khi Nguyễn Quốc Chánh nhào nặn sê ri điêu khắc gốm
mới đây của anh với tư tưởng ‘Du kích’, anh đã tạo ra vị
thế vững chãi cho các tác phẩm của mình trong ký ức lịch
63
sử và văn hoá Việt Nam. Để thấu hiểu quá trình này, ta Nguyễn Quốc Chánh
hãy cứ hoán đổi hình ảnh một người lính ẩn náu trong Moulds and Models 2
rừng rậm chờ cơ hội với hình ảnh người hoạ sĩ tìm 2016
lượm và trưng dụng những chất liệu có sẵn trong tự Ceramic and glaze
nhiên. Sau cùng, quá trình đó vừa kết tụ các biểu tượng 63 x 29 x 24 cm
đa dạng, vừa tách rời chúng khỏi lớp nghĩa đơn điệu
mà các thể chế tục lệ áp đặt lên chúng. Thoạt trông,
trưng bày nhìn có vẻ hỗn độn, nhưng bất cứ người
Lính du kích nào cũng buộc phải đối mặt với hỗn loạn
trước khi chạm đến thế cân bằng. Như chính Chánh
đã nói, cân bằng là con chuột vẫn chạy rúc rích giữa
những lằn ranh định sẵn bởi con mèo vẫn còn chưa
xơi tái nó.
Nếu những tác phẩm này có thể kể chuyện, thì câu
chuyện đó hẳn sẽ vươn lên khỏi những tù túng bó hẹp
của phong cách và thể loại. Ta có thể thấy tầm đa dạng
ảnh hưởng trong các khuôn gốm: từ những biểu tượng
dân gian trong tranh khắc gỗ Đông Hồ đến những
khuôn mặt Phật Bayon hiền từ ở Angkor Thom và
Đảo Phục Sinh. Chánh thường không tự làm ra những
chiếc khuôn này; trái lại, anh tìm thấy chúng đang bám
bụi trong studio đi thuê ở Biên Hoà. Theo cách này, các
tác phẩm của anh cũng vay mượn từ muôn vàn lịch sử
khác nhau, nhào nặn qua tay bao thế hệ nghệ nhân đến
từ những bối cảnh văn hoá chính trị khác biệt. trong
chiến dịch Du kích của Chánh, chúng trở thành vật
liệu với đời sống mới, song hành cùng những ký hiệu
đương đại trên cùng lớp chất nền: những khuôn đúc
hình thẻ tín dụng hay hình đầu những đứa trẻ chơi
đá banh, cũng những hình ảnh mượn từ các tấm phù
điêu đắp nổi trên mặt tiền Chợ Bến Thành. Trong lúc
thu thập các công cụ này, Chánh đóng vai trò một nhà
sưu tầm lẫn một kẻ đả phá. Những mô-típ dễ nhận này
tuy tồn tại liên đới nhưng lại đồng loạt biến thành xa
lạ qua bàn tay của sự vô trật tự mơ hồ. Qua đó, nghệ sĩ
đạt đến cảnh thức hiệu ứng nghệ thuật trừu tượng và
lôi cuốn. (Phần miêu tả của nghệ sĩ)
64
A drift in Darkness, an installation composed of Đỉnh Q. Lê
amorphous three-dimensional sculptures, saw the artist A Drift in Darkness
explore rattan weaving for the very first time, featuring 2017
the recent refugee exodus from Africa and the Middle Digital Print Awagami bamboo paper,
East into Southern Europe. laser cut and weaved onto cane
Đỉnh Q. Lê: “It takes reference from the images of 118 x 102 x 90 cm
people packed so tightly on a rickety old boat, floating
in the middle of a dark ocean. As one who did the same
to escape the harsh Vietnamese communist regime at
the time, issues of this mass exodus and the fear and
rejection of Europeans have been on my mind lately.
I like to think that we are all sitting on a rock and
floating in this dark universe. the faces are drawn from
images of large group protests from all over the world.
as the world’s population grows larger, conflicts arise as
more people cross territories. anger and hatred abound,
but we all need to step back and take a look at where
we are.” (Text courtesy of the artist)
This work is mutual acquisition between Post Vidai and
the Nguyen Art Foundation.
65
Trôi trong Đêm đen là một sắp đặt bao gồm
những điêu khắc ba chiều vô định hình, nơi
nghệ sĩ lần đầu thử nghiệm với kỹ thuật đan
mây như lời dẫn về cuộc di dân mới từ Châu
Phi và Trung Đông sang khu vực Nam u.
Theo lời nghệ sĩ Đỉnh Q. Lê: “Tác phẩm dựa
trên hình ảnh những lớp người lèn chặt cứng
vào trong một con tàu cũ kỹ ọp ẹp, trôi nổi giữa
đại dương mù mịt. Ở vị thế một người từng
trải qua hành trình tương tự để rời Việt Nam,
những vấn đề di cư hàng loạt, nỗi sợ, và cảm
giác bị dân châu u từ chối gần đây luôn chiếm
đầy tâm trí tôi. Tôi hay nghĩ rằng chúng ta đều
đang ngồi trên một tảng đá bập bềnh trên vũ
trụ tối đen. những khuôn mặt trong tác phẩm
được lấy từ hình ảnh những đám đông biểu
tình trên toàn thế giới. khi dân số bùng nổ, bạo
động xung đột sẽ leo thang khắp nơi. Mặc dù
sự thù ghét và cơn giận dữ lăm le xâm chiếm trí
óc, chúng ta cần phải lùi lại và quan sát kỹ càng
tình thế của mình.” (Phần miêu tả của nghệ sĩ)
Tác phẩm này được cả Post Vidai và Quỹ
Nguyễn Art thụ đắc.
66
The Vacant Chair is a multi-layered video installation. It is an intimate Bàng Nhất Linh
narrative, where social issues derived from the modern history of a turbulent The Vacant Chair
Vietnam are unveiled: the wounds, tolerance, optimism, as well as the special 2013-2015
relationship amongst those who remain. From a broader angle, it suggests Installation
a universal sense of existence and death, particularly the limited nature of
the human race… On the other hand, through the act of transforming a
powerful symbol of war into a symbol of love and loss, the work steps out of
its geographical context to tell a universal story of all humanity. The Vacant
Chair, therefore, is a song of humanity, and for humanity…
The Vacant Chair is a popular song during the American Civil War written
by George F. Root in 1861 based on a poem by Henry S. Washburn. The song
signifies the loss and emptiness of those who lost their loved ones in the
Civil War, it specially gained empathy from both the North and the South of
the United States during the war. (Text courtesy of the artist)
67
Chiếc Ghế Trống (The Vacant Chair) là một sắp đặt Tiêu đề tiếng Anh The Vacant Chair là một bài
video đa lớp nghĩa. Nó là một lời tự sự thân mật, nơi hát nổi tiếng trong thời Nội chiến ở Hoa Kỳ, do
bóc tách những vấn đề xã hội bắt nguồn từ lịch sử hiện George F. Root phổ nhạc vào năm 1861 dựa trên
đại đầy biến cố của Việt Nam: những thương đau, chịu một bài thơ của Henry S. Washburn. Bài hát mang
đựng, niềm lạc quan, cũng như mối quan hệ gắn kết nặng nỗi đau và trống trải của những người mất
giữa những người ở lại. Nhìn rộng hơn, nó gợi cho đi người thương trong cuộc Nội chiến; đây là lý do
ta nghĩ về sự tồn tại và cái chết qua lăng kính vũ trụ khiến bài hát trở nên nổi tiếng với cả hai phe Bắc
quan, đặc biệt khi nói về cái hữu hạn vô thường của và Nam trong cuộc chiến ở Hoa Kỳ. (Phần miêu tả
đời người … Mặt khác, thông qua việc biến một biểu của nghệ sĩ)
tượng tiêu biểu cho chiến tranh thành một chỉ dụ cho
yêu thương và mất mát, tác phẩm tách mình ra khỏi
bối cảnh địa phương để kể một câu chuyện liên đới
đến toàn nhân loại. Chiếc Ghế Trống, vì thế, trở thành
một bài ca của con người, và cho con người …
68
Trương Công Tùng
Portrait of a deforming symbol. Lost
and Found
2017
Two channel video
69
Taking the vertical axis as a metaphor for urban architecture, the artwork – part of
a larger project called ‘Another Place Across The River’ – is part of a collection of
Saigonese urban myths. Urban myths do not necessarily only come from ‘human
characters’; forgotten objects also reflect a peculiar history of the land – where their
life cycle retains the traces of the impact of both humanity and nature. Here, ‘material
myths’ are collected primarily in District 2, where the reformation process of urban
space is most apparent: from swampland to semi-urban and then back to swampland,
waiting for the future megalopolis. ‘Material myth’ lies in the torn billboards with
fading pictures, advertising slogans or propaganda statements, which used to be hung
effulgently by the river. The plethora of scattered iron pieces were metal-detected and
dug up to reveal their previous lives. Door bolts, rivets, scale weights, warheads, spears,
knives, working tools, etc., count among the things that once contributed to the daily
life of a community – now becoming waste to recycle. As man-made objects, they last
longer than a human’s life cycle. Despite being fragmented, their bodies remain in places
where even humanity cannot withstand. These anonymous and worthless objects create
an animate world in a landscape lacking human beings. Their absurd world exists in
parallel and in opposition to the metropolis full of the sound and movement of people
on the other side of the Saigon River. (Text courtesy of the artist)
Lấy trục tung làm ẩn dụ cho kiến trúc đô thị, tác phẩm – nằm trong dự án lớn hơn
mang tên ‘Một nơi khác bên kia sông’ – là một phần trong sưu tập những truyền thuyết
đô thị ở Sài Gòn. Ở đây, các truyền thuyết đô thị không chỉ bắt nguồn từ các ‘nhân vật
người’; những đồ vật bị lãng quên cũng là một phần ký thú trong lịch sử một vùng đất
– chúng lưu giữ dấu vết của những tác động từ cả con người và thiên nhiên trong suốt
vòng đời tồn tại. Ở đây, ‘các truyền thuyết vật chất’ được thu thập chủ yếu quanh Quận
2, nơi quá trình cải tạo không gian đô thị diễn ra rõ rệt nhất: từ đầm lầy chuyển sang
bán-đô thị rồi lại trở về đầm lầy, mọi thứ đều đang nằm chờ sự xuất hiện của siêu đô
thị tương lai. ‘Truyền thuyết vật chất’ náu mình trong những tấm biển hiệu rách nát với
hình vẽ mờ nhạt, những băng rôn quảng cáo và biểu ngữ cổ động, vốn trước kia vẫn
phất phơ bây trên mặt sông. Hằng hà sa số những mảnh sắt vụn được rà tìm và đào lên
để hé lộ cuộc đời trước kia của chúng. Then cửa, đinh tán, quả cân, đầu đạn, mũi lao,
dao, dụng cụ, vân vân – hết thảy từng góp phần vào cuộc sống sinh hoạt trong một cộng
đồng thì giờ đây chỉ còn là rác đợi ngày tái chế. Những đồ vật do con người làm ra này
lại có tuổi thọ lâu hơn chúng ta rất nhiều. Mặc dù sứt mẻ vụn vỡ, cơ thể của chúng nằm
lại ở những nơi không người nào có thể chịu nổi. Những món đồ không tên vô giá trị
này tạo nên một thế giới sinh động trong một quang cảnh vắng bóng con người. Thế
giới dị thường này tồn tại song song và đối kháng với đô thị xô bồ đầy âm sắc phía bên
kia sông Sài Gòn. (Phần miêu tả của nghệ sĩ)
70
Artist Biography
Bàng Nhất Linh
Bàng Nhất Linh (b.1983, Tuy chủ yếu thực hành trong
Vietnam), whilst working mảng nghệ thuật thị giác,
primarily as a visual artist, Bàng Nhất Linh (sn.1983,
is also well-known as a Việt Nam), cũng nổi tiếng
collector of American- là một nhà sưu tầm những
Vietnam War memorabilia. kỷ vật về cuộc chiến tranh
This interest informs Hoa Kỳ - Việt Nam. Sở thích
his artistic practice này góp phần ảnh hưởng
of recontextualizing lên thực hành nghệ thuật
such memorabilia as của anh, vốn xoay quanh
communicable and việc tạo dựng các bối cảnh
interactive objects. Linh giúp ta nhìn nhận lại các kỷ
cites the human condition vật nêu trên như những đồ
as a primary concern vật biết giao tiếp. Với Linh,
and inspiration for his nhân trạng vừa là mối quan
artistic practice; his work tâm lớn vừa là nguồn cảm
carries themes of memory, hứng; tác phẩm của anh
history, and the oblivion of truyền tải thông điệp về các
submerged psychological chủ đề như ký ức, lịch sử,
spaces. These interests và sự lãng quên các không
have long formed the gian tâm trí chìm khuất. Quả
basis for his works such as thực, các chủ đề này luôn
The Vacant Chair, which hiện diện và tạo nên xương
showed previously at sống cho các tác phẩm như
MoT+++, Vietnam in 2015 Chiếc Ghế Trống, trưng bày
as well as the Mori Art ở MoT+++, Việt Nam năm
Museum, Japan as part of 2015 và sau đó là ở Bảo tàng
the 2017 ‘SUNSHOWER: Nghệ thuật Mori, Nhật Bản
Contemporary Art from năm 2017 trong triển lãm
Southeast Asia 1980s to ‘SUNSHOWER: Nghệ thuật
Now’ show. In 2018, Linh Đương đại Đông Nam Á từ
showed again at MoT+++ 1980 đến nay’. Năm 2018,
as part of a duo show with Linh triển lãm lần thứ hai tại
artist Wu Chi-Tsung. MoT+++ cùng với nghệ sĩ
Wu Chi-Tsung.
71
Chu Thảo
Painter Chu Thao was of his works are stored họa với nhiều tác phẩm về đề
born in 1945 in Hanoi. He at the Vietnam Fine Arts tài chiến tranh cách mạng và
graduated from the Faculty Museum and the Ho Chi các đề tài khác với nhiều thể
of Graphics of the Industrial Minh City Museum of Fine loại khác nhau như ký họa
Fine Arts University in Arts, the Ho Chi Minh City bằng các chất liệu màu nước,
1967 and graduated from War Remnants Museum. chì than, chì màu... Tranh ký
the Vietnam University of In 1994, he exhibited a họa chiến tranh của ông đã
Fine Arts- Yet Kieu, Hanoi, solo exhibition in Ho Chi được in trong nhiều tạp chí
in 1981. While on the Minh City, causing a great mỹ thuật trong nước nhất
battlefield (1969-1975), in resonance in the art industry là các tạp chí mỹ thuật ở TP
addition to the professional and outside. HCM. Nhiều tác phẩm của
work as a reporter (he joined Họa sỹ Chu Thảo sinh năm ông được lưu giữ tại Bảo
the army as a reporter of the 1945 tại Hà Nội. Ông tốt tàng Mỹ thuật Việt Nam và
Lao Dong newspaper) he nghiệp khoa Đồ họa thuộc Bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ
was also passionate about Đại học Mỹ thuật công Chí Minh, bảo tàng Chứng
recording and composing nghiệp năm 1967 và tốt tích chiến tranh TP Hồ Chí
paintings with many nghiệp Đại học Mỹ thuât Minh. Năm 1994 ông trưng
works on the subject of Việt Nam - Yết kiêu Hà Nội- bày triển lãm cá nhân tại
revolutionary war and other năm 1981. Trong thời gian TP Hò Chí Minh gây được
topics with many different ở chiến trường (1969-1975) tiếng vang lớn trong và ngoài
genres such as autographs. ngoài công tác chuyên môn ngành mỹ thuật.
Painting with watercolor của một phóng viên ( ông
materials, graphite, crayon nhập ngũ khi là phóng viên
... His sketches of war have báo Lao Động ) ông còn say
been printed in many mê ghi chép và sáng tác hội
domestic art magazines,
especially art magazines in
Ho Chi Minh City. Many
72
Đỉnh Q. Lê
Đỉnh Q. Lê (b. 1968, Đỉnh Q. Lê (sn.1968, Việt
Vietnam) is a fine art Nam) là một nhiếp ảnh gia
photographer most well- mỹ thuật nổi tiếng với những
known for his experimental seri ảnh đan móc đậm tính
series of interwoven thử nghiệm. Những tấm
photographic works. The ảnh đan cùng các tác phẩm
photo-weavings, as well as video, sắp đặt, và điêu khắc
other video, installation and của anh phác họa tâm thế
sculptural works, depict bất an bén rễ từ ký ức chạy
collective memories and trốn quân Khơ-me Đỏ ở
anxieties from his personal miền Nam Việt Nam và sau
experiences escaping the đó di cư sang Hoa Kỳ vào
Khmer Rouge attacks in năm 10 tuổi. Tác phẩm của
Southern Vietnam and anh áp dụng lăng kính hậu
immigrating to the USA thuộc địa để soi chiếu về
at age 10. His work uses a cuộc chiến tranh Việt Nam
post-colonial lens on the – Hoa Kỳ, nhằm tái mường
American-Vietnam war to tượng những điểm nhìn
reimagine perspectives on đương đại trong xã hội Việt
contemporary Vietnamese Nam cũng như các quốc gia
society and other colonised từng bị đô hộ. Đỉnh đồng
nations. Đỉnh co-founded sáng lập Sàn Art năm 2007 ở
San Art in 2007 in Ho Chi TP. Hồ Chí Minh, sau khi trở
Minh City, after returning to về Việt Nam sinh sống vào
Vietnam to live in the early đầu những năm 1990. Đỉnh
1990s. Dinh has exhibited đã triển lãm nhiều nơi trên
widely around the globe thế giới, các tác phẩm của
and his work can be found anh nằm trong các bộ sưu
in the collections of the tập lớn của Bảo tàng Nghệ
Museum of Modern Art thuật Hiện đại (MoMA)
(MoMA) in New York, and ở New York, và Bảo tàng
the San Francisco Museum Nghệ thuật Hiện đại San
of Modern Art. Francisco.
73
Laurent Weyl
Laurent Weyl (b.1971, Laurent Weyl (sn.1971,
France) is an award-winning Pháp) là một nhiếp ảnh gia
photographer whose đoạt giải, người sử dụng
documentary style approach cách tiếp cận mang hơi thở
is used to investigate phóng sự tài liệu để khám
social and environmental phá các chủ đề xã hội và môi
themes relating to topics trường, đặc biệt là các chủ
such as urban poverty đề cảnh nghèo nàn nơi đô
and climate change. thị và biến đổi khí hậu. Các
His socio-ethnographic tác phẩm dân tộc học xã hội
works provide an insight của anh tiết lộ cho chúng ta
into the functionality những uẩn khúc về các cơ
of rapidly urbanising chế vận hành trong những
environments and the khu vực đang ngày một đô
harsh living conditions thị hoá cũng như môi trường
they create. Laurent is sống khắc nghiệt mà chúng
a long-term resident of tạo ra. Laurent là một cư dân
Vietnam and published lâu đời ở Việt Nam. Anh đã
the photobook President xuất bản cuốn sách hình về
Hotel in conjunction with Khách sạn President trong
his solo exhibition of the cùng dịp triển lãm cá nhân
same name at MoT+++ in ở MoT+++ năm 2016. Anh
2016. He joined Paris-based gia nhập nhóm nhiếp ảnh
photographer collective gia Collectif Argos vào năm
Collectif Argos in 2001 2001 và đã cùng nhóm xuất
and with them published bản các ấn phẩm Climate
Climates Refugees (2010), Refugees (2010), một cuốn
a portrait of France titled sách phác hoạ chân dung
Gueule d’Hexagone (2012), nước Pháp với tựa đề Gueule
and Footprints (2015). d’Hexagone (2012), và
Footprints (2015).
74
Lê Quý Tông
Lê Quý Tông (b.1977, Lê Quý Tông (sn.1977, Việt
Vietnam) is a painter Nam) là một hoạ sĩ vẽ về đề
who works with themes tài ký ức và tập thể và sang
of collective memory and chấn tâm lý. Các tác phẩm
trauma. His more recent gần đây của anh biến tấu và
works involve sourcing trừu tượng hoá những hình
images from mass media, ảnh trên truyền thông đại
which are then manipulated chúng, sử dụng sơn dầu để
and abstracted with the tạo nên những bức tranh
application of paint to create đa tầng và thú vị. Tông tốt
multi-layered, intriguing nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà
works. Tông graduated Nội vào năm 2000. Ban đầu,
from the Hanoi Fine Art anh được biết đến chủ yếu
University in 2000, and qua những bức hoạ phúng
originally became well dụ về các điểm mốc công
known for his allegorical nghiệp nổi tiếng ở Hà Nội.
paintings of Hanoi’s famous Cuộc chuyển dịch sau này
industrial landmarks. His qua các chủ đề phản kháng,
move towards themes of đấu tranh, giải phóng, và
protest, struggle, liberation tự do - ở Việt Nam và quốc
and freedom—both in tế - thể hiện quan điểm của
Vietnam and globally— anh về vòng luân chuyển
illustrate his view of giữa xung đột và cách mạng
the perpetual cycle of như nền tảng cho một lịch
conflict and revolution as sử thế giới đan xen. Tông đã
the undercurrent of our triển lãm ở nhiều nơi ở Việt
interwoven world history. Nam, với triển lãm cá nhân
Tông has exhibited widely in ở cả TP. Hồ Chí Minh và Hà
Vietnam with a number of Nội, cũng như châu Á và
solo shows in both Ho Chi châu Âu.
Minh City and Hanoi, as
well as elsewhere in Asia and
Europe.
75
Nguyễn Huy An
Nguyễn Huy An (b.1982, Nguyễn Huy An (sn.1982,
Vietnam) uses his work Việt Nam) sử dụng tác phẩm
to reflect on the emotive như lăng kính phản chiếu
associations of everyday các khía cạnh xúc cảm trong
materials and their insights những chất liệu đời thường
into memory and isolation. và cách chúng hé mở cánh
He graduated from the cửa vào ký ức và ly biệt. Anh
Hanoi Fine Art University, tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật
Vietnam in 2008, and co- Hà Nội, Việt Nam vào năm
founded the performance 2008, sau đó trở thành thành
art collective The Appendix viên đồng sáng lập nhóm
Group (Phụ Lục) in 2010. Phụ Lục vào năm 2010.
In addition to performance, Ngoài trình diễn, những ý
Huy An’s minimalist and niệm tối giản và nội vấn của
introspective concepts are Huy An còn được thể hiện
expressed as installations, qua các tác phẩm sắp đặt,
paintings and sculptures that hội hoạ, và điêu khắc – cầu
mediate the artist’s desire nối giữa mong muốn đi vào
to trace inwards towards nội tại bản ngã của nghệ sĩ
the self and the psychology và tâm lý hành vi con người.
of human behaviour. Huy Năm 2008, Huy An cũng
An spent six-months in Ho đã dành sáu tháng cùng
Chi Minh City, Vietnam nhóm Phụ Lục ở TP. Hồ Chí
with The Appendix Group minh, Việt Nam để tham gia
as resident artists of lưu trú trong chương trình
MoT+++’s performance plus nghệ thuật trình diễn của
programme in 2018. He has MoT+++. Anh đã tham gia
participated in exhibitions, vào các triển lãm, lễ hội nghệ
festivals and residencies thuật, và lưu trú ở châu Á và
across Asia and Europe. châu Âu.
76
Nguyễn Quốc Chánh
Nguyễn Quốc Chánh Nguyễn Quốc Chánh
(b.1958, Vietnam) creates (sn.1958, Việt Nam) thổi
surreal and alluring ceramics chất nhạc trừu tượng trong
that incorporate the abstract thơ anh vào hình hài hữu thể
lyricism of his well-known nhằm tạo ra những tác phẩm
poetry into a solid, tangible gốm siêu thực và cuốn hút.
form. His resulting works Những tác phẩm của anh
oscillate between artisanal luôn dao động giữa mỹ nghệ
craft and conceptual art. thủ công và nghệ thuật ý
Local clay and glazes from niệm. Tuy sử dụng chất liệu
his hometown of Biên Hòa đất sét và men từ quê hương
situates the work within Biên Hoà, những nguồn cảm
Vietnam, whilst diverse hứng thẩm mỹ của anh lại
visual references transcend vượt ra ngoài giới hạn văn
any one cultural or political hoá chính trị tại địa phương.
context. Chanh has Chánh đã xuất bản bốn
published four collections of tuyển tập thơ, Đêm mặt trời
poems, Night of the Rising mọc (1990), Khí hậu đồ vật
Sun (1990), Inanimate (1997), Của căn cước ẩn dụ
Weather (1997), the (2001) và Ê, tao đây (2005).
samizdats Of Metaphorical Năm 2018, nghệ sĩ ĐỈnh Q.
Identity (2001) and Hey, Lê đã giám tuyển một triển
I’m Here (2005). In 2018 lãm cá nhân tại không gian
showed his ceramic works at MoT+++ mang tên Guerilla
MoT+++ in Guerilla Tactics, Tactics / Chiến thuật Du
a solo show curated by Dinh kích để trưng bày các tác
Q. Le. phẩm gốm của Chánh.
77
Phạm Thanh Tâm
Phạm Thanh Tâm (b. official Quân Đội Nhân Dân trước khi tốt nghiệp năm
Vietnam, 1932-2019) was (People’s Army) newspaper 1967 với chuyên ngành sơn
the eldest son of a traditional to stage touring exhibitions dầu. Ông trở lại tiền tuyến
revolutionary family. His of wartime art works. He ở miền Nam trước khi kết
life as an artist began retired and lived in Ho Chi thúc cuộc chiến với các đơn
studying how to sketch Minh City, Vietnam until his vị bộ đội Bắc Việt Nam tại
and paint revolutionary death in 2019. Sài Gòn năm 1975. Sau chiến
posters in a propaganda Phạm Thanh Tâm (sn. Việt tranh, ông cộng tác với tờ
division of Military Zone Nam, 1932-2019) là con báo Quân Đội Nhân Dân để
III. In 1950 Tâm joined the trưởng trong một gia đình tổ chức các chuyến lưu diễn
Việt Minh resistance army truyền thống cách mạng. triển lãm các tác phẩm nghệ
and was assigned to work Cuộc đời làm họa sĩ của ông thuật thời chiến. Ông nghỉ
as a reporter for the Quyết bắt đầu học cách ký họa và hưu và sống tại Thành phố
Thắng (Be Determined to vẽ tranh cổ động cách mạng Hồ Chí Minh, Việt Nam cho
Win) newspaper. He went trong một đội tuyên truyền đến khi qua đời vào năm
on to join the Điện Biên Phủ của Quân khu III. Năm 1950, 2019.
campaign as a journalist ông tham gia Việt Minh
and artist. His role was to kháng chiến và được giao
record the daily life and làm phóng viên báo Quyết
hardships of soldiers and Thắng. Ông tiếp tục tham
civilian volunteers on the gia chiến dịch Điện Biên Phủ
front lines. Tâm began với tư cách là một nhà báo
studying at the Vietnam Fine và một nghệ sĩ. Vai trò của
Art College in 1963, before ông là ghi lại cuộc sống hàng
graduating in 1967 with a ngày và những khó khăn
speciality in oil painting. He gian khổ của những người
returned to the front lines in lính và dân tình nguyện nơi
the south before ending the tiền tuyến. Ông bắt đầu theo
war with North Vietnamese học tại trường Cao đẳng Mỹ
army units in Saigon in thuật Việt Nam năm 1963,
1975. Following the war,
Tâm collaborated with the
78
The Propeller
Group / Nhóm
Propeller
The Propeller Group was Nhóm Propeller được thành
formed in 2006 by the artists lập năm 2006, bao gồm các
Phunam Thúc Hà (b.1974, nghệ sĩ Phunam Thúc Hà
Vietnam) and Tuấn Andrew (sn.1974, Việt Nam) và Tuấn
Nguyễn (b.1976, Vietnam), Andrew Nguyễn (sn.1976,
who were later joined by Việt Nam), sau đó có thêm
Matt Lucero (b.1976, USA) Matt Lucero (sn.1976, Hoa
in 2008. Together they Kỳ) gia nhập vào năm 2008.
created The Propeller Group Mục tiêu của nhóm là vượt
to cross the boundaries lên và xoá nhoà đường biên
of contemporary art and giữa nghệ thuật đương đại
visual media production. và sản phẩm truyền thông
Based in both Ho Chi thị giác. Hoạt động giữa TP.
Minh City, Vietnam and Hồ Chí Minh, Việt Nam
Los Angeles, USA their và Los Angeles, Hoa Kỳ,
work often incorporates nhóm thường xuyên cộng
collaborations with other tác với các nghệ sĩ khác
artists in order to foster a làm tác phẩm, nhằm nuôi
critical and questioning dưỡng một thực hành sâu
global practice integrated sắc, kết hợp các đặc tính
with local idiosyncrasies. địa phương và hơi thở toàn
They have exhibited cầu. Nhóm đã triển lãm trên
extensively worldwide, toàn thế giới, bao gồm ở
including at the Museum of Bảo tàng Nghệ thuật Hiện
Modern Art (MoMA) and đại (MoMA), https://www.
the Guggenheim Museum in guggenheim.org/ ở New
New York, at Para Site, Hong York, Para Site ở Hồng Kông,
Kong, and as part of the 56th và trong Venice Biennale lần
Venice Biennale. thứ 56.
79
Trâm Carin Lương
Tram Carin Luong Trâm Carin Lương (s. Việt
(b.Vietnam) is a trained Nam) là một nhà làm phim
filmmaker and visual và nhà nghiên cứu nhân học
anthropologist. Her work thị giác. Tác phẩm của cô
examines the interrelation mổ xẻ mối tương quan giữa
between collective ký ức tập thể, sang chấn lịch
memories, historical trauma, sử, và biểu hiện văn hoá. Cô
and cultural representation. dung nạp sự chặt chẽ trong
She combines rigorous nghiên cứu với khả năng
research with artistic ‘bắc cầu’ của nghệ thuật để
mediation to arrive at new đi đến những hướng khám
ways of investigating the phá mới trong cách chúng ta
connections between the nhìn nhận mối quan hệ giữa
past and present, between quá khứ và hiện tại, giữa
the lived reality of modern thực tại đang sống và những
life and the turns of biến cố lịch sử. Cô tốt nghiệp
history. She holds a B.A in bằng cử nhân ngành Quốc
International Studies and tế học và Mỹ thuật Studio
Studio Arts from Trinity tại Đại học Trinity, Hoa Kỳ
College, USA and a MPhill và bằng thạc sĩ Nhân chủng
in Anthropology from Yale học tại Đại học Yale, Hoa Kỳ.
University, USA. Her work Tác phẩm của cô đã tham dự
has been featured at the New vào Liên hoan Phim tài liệu
Haven Documentary Film New Haven Documentary
Festival 2018, USA, Hanoi 2018 (Hoa Kỳ), Hanoi
DocFest 2018 Vietnam, and DocFest 2018 (Việt Nam),
Ethnografilm Paris 2018 và Ethnografilm Paris 2018
France, among others. In (Pháp), bên cạnh nhiều sự
2018 she was selected as an kiện khác. Năm 2018, cô trở
A. Farm Season 0 resident thành nghệ sĩ lưu trú Mùa 0
artist. tại A. Farm Season 0.
80
Trương Công Tùng
Trương Công Tùng (b.1986, Trương Công Tùng (sn.1986,
Vietnam) often draws Việt Nam) thường lấy cảm
from spiritual cultures and hứng từ văn hoá tâm linh
oral histories to examine và lịch sử truyền miệng, qua
the material intersection đó bóc tách những tầng đan
of humans and nature. xen giữa con người và thiên
Công Tùng specialised in nhiên. Công Tùng theo học
lacquer painting at the Ho chuyên ngành sơn mài tại
Chi Minh City Fine Arts Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí
University, graduating in Minh, tốt nghiệp năm 2010.
2010. Since then, he has Từ đó đến nay, anh đã nới
expanded his practice to rộng đường biên sáng tác,
incorporate mediums such thử sức với video và sắp đặt
as video and installation, trong khi vẫn duy trì việc thử
and continues to approach nghiệm trong hội hoạ. Xuất
painting as an experimental thân từ vùng cao nguyên
form. Originating from the Đăk Lăk, Công Tùng dành
highlands of Dak Lak in the hầu hết quãng đời thơ ấu ở
Central Highlands, Công nơi thôn dã trước khi chuyển
Tùng spent his early life in đến TP. Hồ Chí Minh để học
rural surroundings before đại học; vì thế, hầu hết các
moving to Ho Chi Minh City tác phẩm của anh đều phản
for university; much of his ánh thực trạng đô thị hóa ào
work addresses Vietnam’s ạt cũng như những thay đổi
rapid urban development chính trị xã hội kèm theo
and concurrent social and ở Việt Nam. Công Tùng đã
political changes. Công Tùng triển lãm ở nhiều nơi ở TP.
has exhibited widely in Ho Hồ Chí Minh, tại Galerie
Chi Minh City at Galerie Quynh năm 2018, Trung
Quynh in 2018, The Factory tâm Nghệ thuật Đương đại
Contemporary Arts Centre The Factory năm 2017, và
in 2017 and San Art in Sàn Art năm 2014 và 2011,
2014 and 2011, as well as in cũng như ở châu Âu và châu
Europe and Asia. In 2012, Á. Năm 2012, anh đồng sáng
he co-founded artist-curator lập nhóm nghệ sĩ – giám
collective Art Labor, based in tuyển Art Labor, ở TP. Hồ
Ho Chi Minh City, Vietnam. Chí Minh, Việt Nam.
81
Võ An Khánh
Vo An Khanh (b.1936, Võ An Khánh (sn.1936, Việt
Vietnam) is most well Nam) được biết đến chủ
known for his striking black yếu qua những tấm ảnh đen
and white photographs of trắng chụp cảnh chiến tranh
the American-Vietnam Hoa Kỳ - Việt Nam, những
War, and their testament to chứng nhân cho tinh thần
human resilience. Starting bất khuất của con người.
life as a farming and fishing Xuất thân làm nghề nông
in the Bac Lieu Province, và đánh cá ở Bạc Liêu, Võ
Vo An Khanh moved to An Khánh sau đó chuyển
moved to Ho Chi Minh City đến TP. Hồ Chí Minh City
(Saigon), Vietnam, where (lúc đó là Sài Gòn), nơi ông
he started a photography kinh doanh tiệm ảnh. Sau
lab business, after American khi quân đội Mỹ bắt anh em
forces captured his younger của ông vào năm 1956, ông
and elder brothers in 1956, gia nhập Quân đội miền Bắc
before joining the North Việt Nam vào năm 1960.
Vietnamese Communist Ông trở thành Trưởng Cục
Army in 1960. He Nhiếp ảnh trong kháng
became manager for the chiến vào năm 1961, được
Photography Department of đặc cách di chuyển trong
the cause in 1961, travelling khu vực cùng với triển lãm
the area with a rare touring di động hiếm hoi từ năm
exhibition from 1962-75. Vo 1962 đến 1975. Các bức ảnh
An Khanh’s photography has của Võ An Khánh sau đó trở
since gained international nên nổi tiếng toàn cầu, từng
recognition, including được trưng bày năm 2002
showing in the 2002 trong triển lãm ‘Một Việt
‘Another Vietnam: Pictures Nam khác: Thước ảnh chiến
of the War from the Other tranh nhìn từ bên kia chiến
Side’ exhibition in New York, tuyến’ tại New York, Hoa Kỳ.
USA.
82
Vương Duy Khoái
Vương Duy Khoái (b. Vương Duy Khoái (sn. 1981,
1981, Hanoi, Vietnam) is Hà Nội, Việt Nam) là một
a painter practising since họa sĩ hành nghề từ năm
2008. He graduated with 2008. Anh tốt nghiệp Cử
a Bachelor of Arts from nhân Mỹ thuật Khoa Mỹ
Faculty of Fine Arts, Hanoi thuật, Đại học Sân khấu
University of Theater and Điện ảnh Hà Nội năm 2017
Cinema in 2017 and has và đã tham gia nhiều triển
taken part in numerous lãm tại Việt Nam. Hà từng
exhibitions in Vietnam. Ha được giải C tại Triển lãm Mỹ
has been awarded the the C thuật Hà Nội năm 2015 và
Prize at the Hanoi Fine Arts 2020.
Exhibition in 2015 and 2020.
83
84
List of works Bàng Nhất Linh Chu Thảo
The Vacant Chair Portrait of a soldier from 8th
2013-2015 Division - Comrade Ho Si Que
Installation 1969
Watercolor on paper
27 x 20 cm
Liberation army soldier from
Ede ethnic group
1969
Drawing
27 x 19.5 cm
Comrade Dieu Tam
1969
Ky Hoa
27 x 20 cm
Soldier of Delta Division -
Comrade Dao Van Hoc
1973
Drawing
27 x 19.5 cm
Portrait of a Liberation Army
soldier - Comrade Phan Xuan
Hoa
1973
Drawing
27 x 19.5 cm
Soldier of Mekong Division
1973
Drawing
27 x 19.5 cm
85
Dong chi Trieu Xuan Hiep A Liberation Army soldier Portrait of a liberation army
1973 1974 soldier from Cambodia
Ky Hoa Drawing 1971
27 x 19.5 cm 27 x 20 cm Watercolor on paper
30.5 x 23.5 cm
Portrait of a soldier from 8th Soldier of Delta Division -
division - Comrade Ha Van Comrade Mao Sy Cuoc Ambush on the battlefield
Cau 1973 1974
1973 Paint on paper Watercolor on paper
Drawing 27 x 19.5 cm 24 x 32 cm
27 x 19.5 cm
Southern aunty
Military post soldier Portrait of a young soldier 1973
1973 1973 Drawing
Ky Hoa Watercolor on paper 23 x 15.5 cm
27 x 20 cm 26 x 19 cm
Portrait of Mr. Bay
Portrait of a Liberation Army Minority liberation army 1973
soldier - Comrade Son soldier Watercolor on paper
1974 1974 19 x 13.5 cm
Watercolor on paper Drawing
29 x 21 cm 27 x 20 cm A young girl in Loc Tan
1973
Portrait of a doctor, hero of Portrait of a Liberation Army Watercolor on paper
the South Vietnamese Libera- soldier - Comrade Truong 24 x 17.5 cm
tion Army Quang Tho
1973 1973 Comrade Fao
Drawing Drawing 1973
31 x 24 cm 31.5 x 24 cm Ky Hoa
27 x 19.5 cm
Portrait of a Liberation Army
First class private Dau soldier in Mekong Delta
1974 1974
Drawing Watercolor on paper
22 x 14.5 cm 32 x 24 cm
86
Chu Thảo A break moment in the base
1978
Aunt Nam, Mum Hai Paint on paper
1974 13 x 20 cm
Ky Hoa
21 x 29 cm Shed in the woods
1972
Gunner B40 Paint on paper
1974 18 x 26 cm
Watercolor on paper
21 x 29 cm Truong Son soldier 2
1974
Soldier communicating on Watercolor on paper
the battlefield 24 x 31.5 cm
1974
Watercolor on paper
20.5 x 29 cm
Gunner on the delta
1974
Watercolor on paper
21 x 29 cm
Portrait of Uncle Ba in Kien
Giang
1974
Watercolor on paper
26 x 19 cm
Portrait of a Cambodian man
in Prey Veng
1974
Watercolor on paper
31 x 23 cm
87
Dinh Q. Le Nguyễn Huy An Phạm Thanh Tâm
A Drift in Darkness STUDY OF THE FLUCTUATION War Sketch 4
2017 OF A SHADOW 17 x 11.5 cm
Digital Print Awagami 2014
bamboo paper, laser cut and Three painted blackboard War Sketch 5
weaved onto cane panels 29 x 21 cm
118 x 102 x 90 cm 360 x 220 cm
Laurent Weyl A Ă Â ... War Sketch 131
2014 1975
Window #1 29 glass wooden boxes, 29 x 21 cm
(President Hotel) outdoor wall and paint
2017 12 x 32 x 7 cm each War Sketch 22
Photography 1975
50 x 75 cm Nguyễn Quốc Chánh 29 x 21 cm
Perspective #2 Moulds and Models 1 War Sketch 21
(President Hotel) 2016 1963
2017 Ceramic and glaze 18 x 13 cm
Photography 60 x 44 x 28 cm
50 x 75 cm War Sketch 96
Moulds and Models 2 19 x 14 cm
Lê Quý Tông 2016
Ceramic and glaze War Sketch 64
B29 Plane 63 x 29 x 24 cm 21 x 16.5 cm
2011
Oil on canvas War Sketch 53
130 x 250 cm 13.5 x 9.5 cm
War Sketch 123
13 x 9 cm
88
Phạm Thanh Tâm The Propeller Group
War Sketch 38
27 x 21 cm AK-47 vs. M16
2015
war sketch 55 Fragments of AK-47 and M16
15 x 13.5 cm bullets, ballistics gel, custom
vitrine and digital video
War Sketch 6 137 x 64 x 37 cm
1978
24 x 40 cm Trâm Carin Lương
War Sketch 58 Marx.Weber.Hegel.Andme
1978 2018
20 x 35 cm Installation of one channel
video, stone and paper
War Sketch 36 powder
19.5 x 15.5 cm
Trương Công Tùng
War Sketch 35
27 x 21 cm Portrait of a deforming
symbol. Lost and Found
War Sketch 40 2017
27 x 21 cm Two channel video
War Sketch 31
24 x 19 cm
89
Võ An Khánh
Extra-curriculum Political
Science Class 7/1972
2010
Archival pigment inkjet print
56 x 40 cm
Mobile military Medical Clinic
during the period when the
enemy is defoliating
U Minh Forest/1970
2010
Photography
59 x 40 cm
Vương Duy Khoái
Rice field
2004
Gouache on print paper
40 x 60 cm
90
ACKNOWLEDGEMENT
Renaissance International School & EMASI International School
Teachers
Atlanta Cecilia Frith
Cathelyn Gentuya
Cesar Yael Velez Velez
Joshua James
Limbert Palabrica Goloran
Sheryl Susan Freeman
and students
MOT Team
Alessandra Dias
Nguyen Tra My
Tran Thanh Ha
Post Vidai
Art Space Manager
Nguyen Thi Tuong Vy
Exhibition Design by
Passapak Klomsakul
Installer
Luke Schneider
Catalog Design by
Benyapa Wongwanichaya
Curator would like to thank Dihn Q Le, Arlette Quỳnh-Anh Trần
and Zoe Butt
91
Chapter 1