Hợp Lễ là thôn thuộc xã Long Xuyên, huyện Bình Giang (Hải
Dương). Di chỉ gốm sứ Hợp Lễ chủ yếu ở bến đò Đáy, một nhánh
của sông Kẻ Sặt. Sản phẩm chính của Hợp Lễ là đồ gia dụng: bát,
đĩa, bình vôi, vò nhỏ, chân đèn, lư hương… với 3 dòng gốm chủ
yếu: màu xanh ngọc, men trắng và hoa lam. Nền sản xuất gốm sứ ở
đây còn phát triển sau thời Mạc, tới thế kỷ 18 thì chấm dứt
• Nghề dệt
Nghề dệt trên cơ sở các phường tại đô thị và những làng thủ
công có từ đời trước đã phát triển mạnh hơn trong thời Mạc. Tại
kinh thành Thăng Long có phường dệt, phượng lụa; tại nông thôn
có làng La (Hà Đông), làng Bưởi. Các làng này tuy chưa tách hẳn
khỏi nông nghiệp nhưng những đã là những địa phương lấy nghề
dệt làm chức năng chủ yếu. Nguyên liệu nghề dệt chủ yếu lấy từ tự
nhiên, do đó xung quanh các làng dệt đã hình thành nhiều làng tơ
tằm.
Sản phẩm ngành dệt rất đa dạng. Ngoài các sản phẩm bình
dân phục vụ các tầng lớp dân còn có đồ cao cấp như gấm, the, lụa
vàng, đũi, sa, là, nhung, lĩnh... dành cho vua chúa, quan lại và bán
ra nước ngoài.
Trình độ nghệ dệt đã đạt tới kỹ thuật tinh xảo. Phương thức
sản xuất chủ yếu là cá thể. Tuy đã hình thành các phường, hội
nhưng chủ yếu là giúp đỡ nhau trong việc mua nguyên liệu và bán
sản phẩm, chưa có thuê mướn nhân công và tổ chức cơ cấu thợ cả,
thợ bạn... như sau này.
Tượng Quán Thế Âm ngàn tay ngàn mắt
c. Thương mại:
Lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 là thời kỳ chia cắt. Sau khi lật đổ nhà
Hậu Lê, nhà Mạc giành quyền cai trị nước Đại Việt. Nhưng chỉ được 6
năm (1533), chiến tranh giữa nhà Mạc và nhà Lê Trung Hưng bùng nổ.
Tuy vậy, trong vùng đất Bắc Bộ do nhà Mạc quản lý, thương mại vẫn
hoạt động và phát triển; trong khi đó ở vùng Bắc Trung bộ trong tay nhà
Lê, sử sách gần như không ghi nhận hoạt động thương mại nào.
• Nội thương;
Khác với nhà Hậu Lê, nhà Mạc áp dụng chính sách cởi mở,
thông thoáng đối với hoạt động thủ công nghiệp và thương mại.
Điều đó tạo tiền đề cơ bản cho kinh tế hàng hóa phát triển.
Trung tâm buôn bán lớn nhất cả nước là Thăng Long và phố
Hiến (Hưng Yên). Ngoài ra, tại Bắc Bộ đã hình thành mạng lưới
chợ khá dày, mặc dù chính địa bàn này cũng trải qua binh lửa do
quân Nam triều nhiều lần đánh ra:
o Chợ Cầu Nguyễn (Thái Bình) mở lại năm 1530
o Chợ Tứ Kỳ (Hải Dương) mở năm 1542
o Chợ Nghĩa Trụ (Hưng Yên) mở năm 1570
o Chợ Cẩm Khê (Hải Phòng) mở năm 1572
o Chợ La Phù (Hà Nội) mở năm 1575
o Chợ Hậu Bổng (Hải Dương) mở năm 1579
o Chợ Đặng Xá (Hà Nội) mở năm 1580
o Chợ Phúc Lâm (Hà Nội) mở năm 1589
o Chợ Đào Xá (Hà Nội) mở năm 1590
o Chợ Cẩm Viên (Vĩnh Phúc) mở năm 1590
o Ngoài ra còn có chợ Bộc Đông, chợ Phù Ninh, chợ
Đặng Xá…
Trong các chợ kể trên, có các chợ được mở do chính sách
khuyến thương của triều đình. Ngay cả vùng Thuận Hóa trong thời
nhà Mạc quản lý, hoạt động buôn bán cũng diễn ra khá sôi nổi.
Dương Văn An trong sách Ô châu cận lục ghi lại:
Chợ Thế Lại (Thừa Thiên - Huế) bắt đầu họp từ gà gáy, đến
giữa trưa vẫn đông. Lều hàng la liệt, quán xá dọc ngang… gồm đủ
hàng nam bắc…
Các mặt hàng buôn bán tại các chợ chủ yếu là vải vóc, tơ lụa,
gấm, bạc, thuốc bắc, gốm sứ… Sự phát triển của thủ công nghiệp
càng thúc đẩy thương mại phát triển. Sản phẩm gốm sứ Bát Tràng
và Chu Đậu có mặt từ đông bằng Bắc Bộ vào đến Thanh Hóa.
Hoạt động thương mại được hỗ trợ bằng mạng lưới giao thông
thủy bộ. Nhiều tài liệu văn bia cổ ghi lại việc chú trọng sửa sang
đường sá và làm cầu, tu sửa cầu của nhà Mạc. Trên đường số 18
(Quảng Ninh) còn dấu vết những đoạn đường thời kỳ này từ Thảo
Tân qua rừng Bãi Thảo chạy ven sông Lục Nam mà nhân dân địa
phương vẫn gọi là "đường nhà Mạc, đầu voi, quán Sé". Tại Đông
Triều (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng) còn dấu tích
những bến đóng thuyền của nhà Mạc.
• Ngoại thương:
Với chính sách kinh tế cởi mở, nhà Mạc chủ trương không
"ức thương" hay "bế quan tỏa cảng" như nhà Hậu Lê. Điều đó
khiến ngoại thương nước Đại Việt có những bước chuyển biến tích
cực.
Chủ trương cấm tư thương kinh doanh gốm sứ của nhà Minh
ở Trung Quốc trong gần 2 thế kỷ (1371 – 1567) là cơ hội thuận lợi
cho gốm sứ Đại Việt mở rộng thị trường tới vùng Đông Nam Á mà
không gặp phải nhiều sự cạnh tranh. Các làng gốm sứ nổi tiếng
như Bát Tràng, Chu Đậu, Hợp Lễ và một số trung tâm khác như
Nam Sách, Bình Giang, Chí Linh (Hải Dương) ngoài việc cung cấp
sản phẩm cho thị trường trong nước và đồ cống phẩm còn có số
lượng lớn để xuất khẩu.
Trung tâm gốm Bát Tràng được thuận lợi nằm giữa kinh kỳ
Thăng Long và phố Hiến, dọc sông Hồng - đường thủy nối hai đô
thị này với cửa ngõ thông thương ra thế giới bên ngoài.
Đồ gốm sứ Chu Đậu từ nơi sản xuất ngược sông Thái Bình
đến Nấu Khê, xuôi theo sông Kinh Thầy ra cảng Vân Đồn hoặc
xuôi sông Thái Bình sang sông Luộc đến phố Hiến. Từ phố Hiến,
đồ gốm Chu Đậu theo thuyền buôn sang Trung Quốc và Nhật Bản
hay các nước phương Tây.
Vùng gốm Hợp Lễ nằm trên hệ thống sông Đò Đáy - Kẻ Sặt,
cũng là một tuyến đường thủy quan trọng đi ra nước ngoài như
Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á.
Nhà nghiên cứu Nhật Bản Hasebe Gakuji cho rằng: Sự có mặt
của đồ gốm Đại Việt ở Nhật Bản có ảnh hưởng lớn đến một số lò
gốm của quốc gia này, tạo ra phong cách mô phỏng theo gốm Việt
Nam mà người Nhật gọi là gốm Kochi (Giao Chỉ) như lò gốm
Onuke ở Seto.
Kết quả khai quật tháng 2 năm 1990 ở các quần đảo Đông
Nam Á cho thấy, có gốm cổ Đại Việt gồm bát, đĩa, chậu cảnh, hũ
nhỏ, bình nước, gốm da lươn... thuộc niên đại thời kỳ này đã đến
Malaysia, Brunei, Philippines, Indonesia. Các nhà nghiên cứu
khẳng định đây là những bằng chứng về việc thông thương mạnh
mẽ giữa nhà Mạc với các quốc gia xung quanh.
3. Giáo dục:
Giáo dục khoa cử thời Mạc trong lịch sử Việt Nam phản ánh hệ thống
trường học và chế độ khoa cử nước Đại Việt từ năm 1527 đến năm 1592
trong vùng nhà Mạc kiểm soát.
a. Hệ thống trường học:
Thừa kế nền giáo dục từ thời Lê sơ, nhà Mạc vẫn dùng Nho giáo làm tư
tưởng chính thống trong việc thể chế hoá các chính sách cai trị và xây dựng
bộ máy triều đình.
Quốc Tử Giám và nhà Thái học vẫn là trung tâm giáo dục lớn nhất cả
nước. Qua các cuộc chiến xung đột cuối thời Lê, nhiều công trình kiến trúc ở
Văn Miếu bị hư hại. Năm 1536, Mạc Thái Tông sai Mạc Đình Khoa tu sửa
lại trường Quốc Tử Giám.
Năm 1537, thượng hoàng Mạc Thái Tổ đích thân đến nhà Thái học làm
lễ tế Khổng Tử.
Tại các lộ trong nước tiếp tục duy trì các trường học như thời Lê sơ và
các trường tư.
b. Chế độ khoa cử:
Nhà Mạc rất chú trọng phát triển nhân tài trong nước và tổ chức đều
đặn các kỳ thi 3 năm 1 lần, từ khi mới thành lập đến năm tồn tại cuối cùng.
Năm 1592, dù quân Nam triều tiến ra đánh chiếm, chiến sự đã áp sát kinh
thành Thăng Long, Mạc Mậu Hợp vẫn tổ chức thi cử đúng định kỳ ở bên kia
sông Hồng. Việc chọn sĩ tử tới ra đề, quan coi thi, tổ chức thi, lệ ban thưởng
bia đá... đều theo nếp cũ của nhà Lê Sơ.
Tương tự như thời Lê sơ, có 3 kỳ thi chính và quan trọng nhất là thi
Hương, thi Hội và thi Đình.
4. Văn học nghệ thuật:
Văn học nhà Mạc chia làm 3 thể loại chính:
Hiến chương: tiêu biểu là Giáp Hải (tác phẩm Ứng đáp bang giao)
Thơ ca: tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hà Nhậm Đại, Nguyễn Giản
Thanh, Phạm Thiện, Hoàng Sĩ Khải, Nguyễn Hàng. Thể loại thơ vịnh thời
Mạc khá phát triển với những chủ đề mới, thay cho thể loại ca tụng triều
đình phổ biến dưới triều Lê Thánh Tông là mảng thơ phú điền viên, ẩn dật
với thiên nhiên.
Truyện ký: tiêu biểu là Dương Văn An (tác phẩm Ô châu cận lục) và
Nguyễn Dữ (tác phẩm Truyền kỳ mạn lục).
Nghệ thuật thời Mạc chủ yếu là trong lĩnh vực kiến trúc và trang trí, thể
hiện ở những công trình xây dựng trong cung đình, chùa chiền và tại các
làng xã.
Công trình cung đình quan trọng thời Mạc chủ yếu ở Dương Kinh ([di
tích hiện tại ở Cổ Trai, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng) – quê hương
nhà Mạc như điện Phúc Huy, điện Hưng Quốc, điện Sùng Đức. Công trình
xây và tu bổ chùa thời Mạc tại các địa phương gồm có: Hải Phòng 27 chùa;
Hải Dương và Hưng Yên 36 chùa; Hà Tây cũ 28 chùa.
Từ thời Mạc, đình làng được dùng làm nơi sinh hoạt cộng đồng làng xã.
Hai ngôi đình nổi tiếng nhất thời kỳ này là đình Đông Lỗ và đình Tây Đằng.
Nghệ thuật kiến trúc và trang trí thời Mạc được đánh giá là đã tạo một bước
ngoặt lớn trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam.
Chân đèn trang trí họa tiết rồng thời Mạc
5. Tín ngưỡng, tôn giáo:
Nhà Mạc vẫn theo pháp độ cũ của nhà Lê từ hệ tư tưởng đến mô hình
thiết chế nhà nước, lấy Tống nho làm tư tưởng cai trị chính, tuy nhiên không
hạn chế các tôn giáo khác như đạo Phật, đạo Giáo như nhà Lê Sơ. Các quan
lại và người trong hoàng tộc nhà Mạc đã cúng tiến nhiều đất cho nhà chùa và
xây cất, tu bổ nhiều chùa.
Việc truyền đạo Thiên chúa vào Đại Việt bắt đầu được xúc tiến từ năm
1533 thời Mạc Hiến Tông nhưng chưa thu được kết quả. Năm 1581 thời Mạc
Mậu Hợp, các nhà truyền giáo lại đến, nhưng vì ngôn ngữ bất đồng nên cuối
cùng giáo đoàn phải trở về Ma Cao.
III. Ý NGHĨA, QUAN ĐIỂM
Tóm lại, nhà Mạc là một sản phẩm của tình hình xã hội Đại Việt đầu
thế kỷ XVI, khi mà phương thức sản xuất phong kiến đi vào thế ổn định, cơ
sở kinh tế xã hội của chế độ trung ương tập quyền đã bị phá vỡ. Nhà Mạc là
nhà nước đầu tiên của giai đoạn mới này của chế độ phong kiến Việt Nam
chứ không phải là triều đại gây nên sự suy tàn của xã hội phong kiến, gây
nên sự sụp đổ của chính quyền quân chủ tập trung, tình trạng chiến tranh và
chia cắt đất nước sau này.