Buổi 4 - Chương 3 (hết)
GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Mục tiêu:
Chương 3 sẽ trang bị hệ thống tri thức lý luận về sản xuất giá trị thặng dư của
C.Mác trong điều kiện kinh tế thị trường tự do cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, hình thái
đầu tiên của kinh tế thị trường trong lịch sử phát triển kinh tế của nhân loại, các quan
hệ lợi ích cơ bản nhất thông qua phân phối giá trị mới do lao động tạo ra giữa các chủ
thể cơ bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, vận dụng để
phân tích và bổ sung làm rõ hơn lý luận về các quan hệ lợi ích trong nền kinh tế thị
trường. Từ đó giúp sinh viên xác định được lợi ích của mình, hình thành kỹ năng biệt
tự bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, biết cách giải quyết có căn cứ khoa học quan
hệ lợi ích của mình trong quan hệ với lợi ích của người lao động, với lợi ích của xã
hội khi khởi nghiệp hoặc tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội trong bối cảnh xã hội
hiện đại.
Nội Dung
3.3. CÁC HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA GTTD TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
3.3.1. Lợi nhuận
* Chi phí sản xuất
Khái niệm chi phí sản xuất: Chi phí sản xuất TBCN là phần giá tị của hàng hóa
bù lại giá cả của những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng và giá cả của sức lao động đã
được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa ấy, kí hiệu là k. k = c+v
Đó là chi phí mà nhà tư bản phải bỏ ra để sản xuất ra hàng hóa
Khi xuất hiện phạm trù chi phí sản xuất thì giá trị hàng hóa G = c+v+m sẽ biểu
hiện thành: G = k+m
Chi phí sản xuất có vai trò quan trọng: bù đắp tư bản về giá trị hiện vật, đảm
bảo điều kiện cho tái sản xuất trong kinh tế thị trường; tạo cơ sở cho cạnh tranh, là căn
cứ quan trọng cho cạnh tranh về giá cả bán hàng giữa các nhà tư bản.
* Bản chất lợi nhuận
- Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất TBCN luôn luôn có khoảng chênh
lệch, cho nên sau khi bán hàng hoá, nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã
1
ứng ra, mà còn thu về được một số tiền lời ngang bằng với m. Số tiền này gọi là lợi
nhuận ký hiệu: p
=> Lợi nhuận là giá trị thặng dư khi được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng
ra, là kết quả hoạt động của toàn bộ tư bản đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
- Công thức tính lợi nhuận: p = G – k
Công thức G = c + v + m = k + m → W = G + p
Lợi nhuận chẳng qua chỉ là hình thái biểu hiện của GTTD trên bề mặt kinh tế
thị trường.
- p và m thường không bằng nhau
+ Khi cung = cầu → giá cả = giá trị → p = m
+ Khi cung < cầu → giá cả > giá trị → p > m
+ Khi cung > cầu → giá cả < giá trị → p < m
* Tỷ suất lợi nhuận
- Khái niệm: tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số giá trị thặng du và
toàn bộ tư bản ứng trước, ký hiệu là p’.
- Công thức:
m x 100%
p’ =
c+v
- Giữa m’ và p’ có sự khác nhau:
+ Về mặt chất: m’ phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân
làm thuê, còn p’ không thể phản ánh được điều đó, mà chỉ nói lên mức doanh lợi của
việc đầu tư tư bản. Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào
đâu thì có lợi hơn. Do đó, việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận là động lực
thúc đẩy các nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản.
+ Về mặt lượng: p’ luôn nhỏ hơn m’
* Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận
+ Tỷ suất giá trị thặng dư
+ Cấu tạo hữu cơ của tư bản
+ Tốc độ chu chuyển của tư bản..
+ Tiết kiệm tư bản bất biến
2
* Lợi nhuận bình quân
Lợi nhuận bình quân được hình thành do cạnh tranh giữa các ngành
Kết quả của cạnh tranh là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, và giá trị
hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất.
- VD:
- Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ số tỉnh theo % giữa tổng giá trị thặng dư và
tổng số tư bản xã hội đã đầu tư vào các ngành của nền sản xuất TBCN. Ký hiệu:( p’)
∑m
p’= x 100%
∑( c + v )
Trong đó:
∑ m là tổng giá trị thặng của xã hội
∑( c + v ) là tổng của tư bản xã hội
Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, có thể tính được lợi nhuận bình
quân từng ngành theo công thức:
p = k x p’
Trong đó k là tư bản ứng trước của từng ngành
=> Vậy, lợi nhuận bình quân là số lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau đầu tư
vào các ngành sản xuất khác nhau. Nó chính là lợi nhuận mà các nhà tư bản thu được
căn cứ vào tổng tư bản đầu tư, nhân với tỷ suất lợi nhuận bình quân, không kể cấu
thành hữu cơ của nó như thế nào.
* Lợi nhuận thương nghiệp
Tư bản thương nghiệp nếu chỉ giới hạn trong việc mua và bán hàng hoá (không
kể đến việc chuyên chở, bảo quản, đóng gói thì không tạo ra giá trị thặng dư). Nhưng
3
là tư bản, nó chỉ có thể hoạt động với mục đích thu lợi nhuận. Vậy lợi nhuận thương
nghiệp là gì? Do đâu mà có?
→ Vậy lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong
quá trình sản xuất mà tư bản công nghiệp nhường cho tư bản thương nghiệp, để tư bản
thương nghiệp bán hàng hoá cho mình.
Lợi nhuận thương nghiệp là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư, nguồn
gốc của nó cũng là một bộ phận lao động không được trả công của công nhân.
3.3.2. Lợi tức
+ Khái niệm: tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ của nó
cho nhà tư bản khác sử dụng trong thời gian nhất định để nhận được số tiền lời nào đó
(gọi là lợi tức). Ký hiệu: (z)
+ Công thức vận động của tư bản cho vay: T – T’, trong đó T’ = T + z
+ Đặc điểm:
* Quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng tư bản.
* Tư bản cho vay là một hàng hoá đặc biệt, vì khi cho vay người bán không
mất quyền sở hữu, còn người mua chỉ được mua quyền sử dụng trong thời gian nhất
định.
* Tư bản cho vay là tư bản được sùng bái nhất.
- Lợi tức và tỷ suất lợi tức
+ Lợi tức
* Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay trả cho tư bản
cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian
nhất định. KH: z
* Nguồn gốc của lợi tức cũng chính là từ giá trị thặng dư do công nhân làm
thuê sáng tạo ra từ trong lĩnh vực sản xuất. Vì là một phần của lợi nhuận bình quận
nên giới hạn của lợi tức: 0 < z < p
4
+ Tỷ suất lợi tức:
* Tỷ suất lợi tức là tỷ lệ tính theo phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản
tiền tệ cho vay. Ký hiệu là z’
* Công thức:
z x 100%
z’ =
Tổng tư bản cho vay
Trong đó: 0 < z’ < p’
* Tỷ suất lợi nhuận phụ thuộc vào các nhân tố sau:
Một là, tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Hai là, tỷ lệ phân chia lợi nhuận bình quân thành lợi tức và lợi nhuận của nhà
tư bản hoạt động.
Ba là, quan hệ cung cầu về tư bản cho vay.
3.3.3. Địa tô tư bản chủ nghĩa
- Sự hình thành quan hệ sản xuất TBCN trong nông nghiệp
+ Trong nông nghiệp, QHSX TBCN được hình thành chủ yếu theo hai con
đường:
* Một là: thông qua cải cách, dần dần chuyển kinh tế địa chủ phong kiến sang
kinh doanh theo phương thức TBCN như ( ở Đức, Italia, Nga, Nhật Bản…).
* Hai là, thông qua cách mạng DCTS, xoá bỏ kinh tế địa chủ phong kiến, phát
triển kinh tế TBCN (ở Anh, Mỹ, Pháp…).
+ Đặc điểm nổi bật của QHSX TBCN trong nông nghiệp là chế độ độc quyền
sở hữu ruộng đất và độc quyền kinh doanh ruộng đất. Cùng với nó là sự tồn tại của 3
5
giai cấp chủ yếu: địa chủ, tư bản kinh doanh nông nghiệp và giai cấp công nhân nông
nghiệp.
- Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa
+ Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình
quân của tư bản đầu tư trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư
bản kinh doanh nông nghiệp phải nộp cho địa chủ với tư cách là kẻ sở hữu ruộng đất.
+ Phân biệt địa tô TBCN với địa tô phong kiến:
* Giống nhau: đều là sự thực hiện về mặt kinh tế của quyền sở hữu về ruộng
đất. Cả hai loại địa tô đều là kết quả của sự bóc lột đối với người lao động nông
nghiệp.
* Khác nhau:
Về mặt chất: Địa tô phong kiến chỉ phản ánh quan hệ sản xuất giữa hai giai
cấp địa chủ và nông dân. Địa tô TBCN phản ánh QHSX giữa 3 giai cấp: địa chủ, nhà
tư bản kinh doanh nông nghiệp và công nhân nông nghiệp làm thuê.
Địa tô phong kiến bao gồm toàn bộ phần sản phẩm thặng dư do
nông dân tạo ra, có khi còn lấn sang cả phần sản phẩm cần thiết. Còn địa tô TBCN chỉ
là một phần của sản phẩm thặng dư, đó là phần sản phẩm tương ứng với phần giá trị
thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp.
- Các hình thức địa tô TBCN
+ Địa tô chênh lệch:
Là phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng
đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất
chung được quyết định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản
xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.
Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch. Nguồn gốc của nó là
một phần giá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp làm thuê tạo ra.
6
Có hai loại địa tô chênh lệch, là địa tô chênh lệch (I) và địa tô chênh lệch (II).
* Địa tô chênh lệch I: là địa tô thu được trên những ruộng đất có độ màu mỡ tự
nhiên thuộc loại trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường hoặc gần đường giao thông.
* Địa tô chênh lệch II: là địa tô chênh lệch thu được do thâm canh mà có, là kết
quả của tư bản đầu tư thêm trên cùng một đơn vị diện tích.
+ Địa tô tuyệt đối:
Địa tô tuyệt đối là loại địa tô mà tất cả các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp
đều phải nộp cho địa chủ, cho dù ruộng đất tốt hay xấu. Đây là loại địa tô thu trên mọi
thứ đất.
Về thực chất, địa tô tuyệt đối là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận
bình quân, hình thành nên bởi chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất
chung của nông phẩm.
+ Sự giống và khác nhau giữa địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch.
* Giống nhau: về thực chất, địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch đều là lợi
nhuận siêu ngạch, đều có nguồn gốc từ giá trị thặng dư, đều là kết quả của sự chiếm
đoạt lao động thặng dư của công nhân nông nghiệp làm thuê.
* Khác nhau: độc quyền kinh doanh ruộng đất theo kiểu TBCN là nguyên nhân
sinh ra địa tô chênh lệch, còn độc quyền tư hữu về ruộng đất là nguyên nhân sinh ra
địa tô tuyệt đối.
+ Ngoài hai loại địa tô chủ yếu là địa tô chênh lệch và địa tô chênh lệch và địa
tô tuyệt đối, thực tế còn tồn tại một số loại địa tô khác nữa, như: địa tô đất xây dựng,
địa tô hầm mỏ, địa tô độc quyền..
- Giá cả ruộng đất
Giá cả ruộng đất là hình thức địa tô tư bản hoá.
Vì ruộng đất đem lại địa tô, tức là đem lại một phần thu nhập ổn định bằng tiền
nên nó được xem như một loại tư bản đặc biệt. Còn địa tô chính là lợi tức của tư bản
7
đó. Do vậy giá cả ruộng đất chỉ là giá mua địa tô do ruộng đất mang lại theo tỷ suất lợi
tức hiện hành. Nó tỷ lệ thuận với địa tô và tỷ lệ nghịch với tỷ suất lợi tức tư bản gửi
vào ngân hàng.
Kết luận:
Lý luận địa tô TBCN của Mác không chỉ vạch rõ bản chất QHSX TBCN trong
nông nghiệp mà còn là cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách thuế đối với nông
nghiệp và các ngành khác có liên quan đến đất đai có hiệu quả hơn…. Tất cả nhằm kết
hợp hài hòa các lợi ích, khuyến khích thâm canh, sử dụng đất đai tiết kiệm, phát triển
1 nền nông nghiệp hàng hóa sinh thái bền vững.
8