TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN 12A1 TỔ 4 LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG DI TÍCH CHIẾN THẮNG LA NIIGÀ
TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN DI TÍCH CHIẾN THẮNG LA NGÀ NĂM XUẤT BẢN: THÁNG 12/2023 TÁC GIẢ : ĐỖ QUỲNH NHƯ NGUYỄN TUẤN NGHĨA NGUYỄN THIỆN NHÂN NGUYỄN THỊ THANH NHÃ ĐỒNG QUANG THÁI NGUYỄN MINH TÚ NGUYỄN LÊ ĐỨC HUY
Mục lục PHẦN 1: DI TÍCH CHIẾN THẮNG LA NGÀ.............. 1. Địa điểm............................................................................ 2. Quá trình xây dựng và phát triển................... 3. Ý nghĩa............................................................................. PHẦN 2: CHIẾN THẮNG LA NGÀ............................... 1. Hoàn cảnh....................................................................... 2. Diễn biến......................................................................... 3. Kết quả............................................................................. 4. Ý nghĩa............................................................................. 5. Đánh giá.......................................................................... PHẦN 3: LIÊN HỆ BẢN THÂN.....................................
1. ĐỊA ĐIỂM Di tích chiến thắng La Ngà dài khoảng 9 km trên quốc lộ 20 từ km số 104 đến km số 113 qua các xã Phú Ngọc, Ngọc Định và Phú Hiệp, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. 2. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN Tượng đài được xây dựng tại cao điểm 100 , cao khoảng 115m đặt trên chiếc bục cao 2,5 m trong một khuôn viên rộng 5 héc ta. Trong cuộc chiến xưa, trên ngọn đồi Gió ấy bên dòng sông lịch sử La Ngà, chiếc tượng đài Chiến thắng La Ngà đã được xây dựng nên như một biểu tượng tình cảm thiêng liêng của người dân Việt Nam dành cho Tổ quốc thân yêu. Ngoài ra, nơi đây còn là biểu hiện của hậu thế luôn khắc ghi công lao đánh giặc vô cùng to lớn của ông cha ta ngày xưa, là một chiến tích vô cùng chói lọi cho lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam ta. Năm 1986, địa điểm tượng đài chiến thắng La Ngà (thuộc địa phận xã Phú Ngọc) được đưa vào danh mục di tích lịch sử cấp quốc gia. Hàng năm, chính quyền địa phương tổ chức lễ kỷ niệm về sự kiện lịch sử này, nơi đây trở thành điểm sinh hoạt về nguồn lý thú của giới trẻ, tham quan của người dân. PHẦN 1 DI TÍCH CHIẾN THẮNG LA NGÀ
3. Ý NGHĨA Đây là nơi ghi dấu chiến công oanh liệt của quân và dân miền Đông Nam Bộ trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp: phá hủy 59 xe quân sự, tiêu diệt hơn 150 binh lính, 25 sĩ quan Pháp, trong đó có 2 đại tá, 1 thiếu tá và 1 đại úy. Chiến thắng La Ngà không chỉ tạo tiếng vang lớn ở Sài Gòn mà còn gây chấn động cả nước Pháp lúc bấy giờ. Sau hơn 75 năm, dư vang của trận đánh hào hùng vẫn còn đó, chiến thắng là mốc son chói lọi của nhân dân Định Quán nói riêng, quân dân Đồng Nai nói chung. Chính vì vậy, về giá trị tinh thần, đây là niềm tự hào, niềm hân hoan vô đối đối với mỗi con người Việt Nam khi được chứng kiến một di tích lịch sử hùng tráng của đất nước. Tượng đài là biểu tượng thiêng liêng, nơi ghi dấu những chiến công anh dũng của biết bao chiến sĩ đã quên mình vì lợi ích chung của Tổ quốc. Chính vì vậy, bên cạnh việc xây dựng nhằm tưởng nhớ, ghi danh những hi sinh anh dũng của các Anh hùng Liệt sĩ, di tích chiến thắng La Ngà còn trở thành địa điểm về nguồn ý nghĩa và sâu lắng với mục đích truyền đạt những bài học lịch sử cách mạng cho những thế hệ trẻ mai sau.
PHẦN 2 CHIẾN THẮNG LA NGÀ 1. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ Cuối năm 1947 đầu 1948, tình hình chiến trường miền Đông Nam Bộ diễn biến hết sức phức tạp, có nhiều bất lợi cho ta. Quân Pháp đẩy mạnh thực hiện âm mưu bình định vùng đồng bằng Nam Bộ theo kế hoạch do tướng Đờ La Tua - Tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ, thiết lập hệ thống đồn bốt, tháp canh dày đặc, chú trọng bảo vệ các tuyến giao thông và vùng kinh tế quan trọng, đồng thời tăng cường hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, lôi kéo các lực lượng giáo phái phản động, kết hợp mở các cuộc hành quân càn quét, trước hết tập trung vào căn cứ Đồng Tháp Mười nhằm triệt phá cơ sở cách mạng, tiêu diệt chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến.
Đối phó với âm mưu của địch, cuối năm 1947, Hội nghị Đại biểu Xứ ủy Nam Bộ (16-20.12.1947) đã xác định phải có chủ lực mạnh để đánh những trận lớn, phát triển giao thông chiến, đánh trúng vào “những con đường sinh tử” của địch, Nhận được nguồn tin, thượng tuần tháng 3-1948 sẽ có một đoàn xe chở sĩ quan Pháp từ Sài Gòn lên Đà Lạt dự hội nghị quân chính, Tỉnh ủy Biên Hòa và Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hòa quyết định sẽ chặn đánh đoàn xe nhằm tạo thanh thế, cổ vũ tinh thần bộ đội và phủ đầu ý chí đối phương. Tuy nhiên, đối tượng địch mạnh và đông, lại cơ động nhanh nên rất khó tiêu diệt. Hơn nữa, ta chưa có kinh nghiệm trong “tao ngộ chiến’’, thắng bại trận này ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý chiến sỹ, đồng bào. Cân nhắc kỹ lưỡng, cuối cùng kế hoạch cũng được thông qua. Công tác chuẩn bị tiến hành khẩn trương, chặt chẽ. Sau thời gian nghiên cứu, tìm hiểu địa hình và quy luật hoạt động của quân Pháp, Ban chỉ huy Chi đội 10 quyết định triển khai trận địa phục kích trên đoạn đường từ cầu La Ngà - nam thị trấn Định Quán (dài 9 km). Khi dự kiến được chấp thuận, các lực lượng đồng loạt, triển khai đội hình chờ đợi…
2. DIỄN BIẾN *Chuẩn bị: Chia đoạn đường phục kích thành 3 khu vực A,B,C. Tiểu đoàn Xuân Lộc (thiếu đại đội 5) bố trí ở khu vực A (từ km 111 đến km 113): chặn đầu diệt xe thiết và lực lượng hộ tống. Liên quân 17 bố trí ở khu vực B ( từ km 108 đến km 111): diệt đoàn xe vận tải. Tiểu đoàn Tân Uyên bố trí ở khu vực C ( từ km 105 đến km 108): diệt lực lượng đi phía sau đồng thời sẵn sàng chặn đánh địch từ phía sau lên ứng cứu. Đại đội 5: phối hợp với du kích các địa phương quấy r ối địch từ xa, làm chậm tốc độ hành quân của chúng, nhưng không được đánh đến mức địch lo ngại và dừng cuộc hành quân của chúng. *Diễn biến: 15h ngày 01/03: Đoàn xe hơn 60 chiếc của địch tiến vào khu vực phục kích của quân ta, lần lượt vượt qua khu vực C,B. 15h10’ : Bộ phận chặn đầu (khu vực A) nổ mìn diệt chiếc xe thiết giáp đi đầu. Ngay sau đó, ở khu vực A và B, bộ đội ta bắn mãnh liệt vào đội hình xe địch. Bị đánh bất ngờ, đội hình địch rối loạn. Quân địch nhảy ra khỏi xe, phần lớn bị bộ đội ta tiêu diệt, số còn lại tháo chạy vào rừng. Ở khu C, ngay sau khi nghe thấy tiếng nổ địa lôi của bộ phận đi đầu, Tiểu đoàn trưởng lập tức cho nổ mìn diệt ba xe chở quân của địch. Một số xe phía sau của địch thấy phía trước bị đánh liền dừng lại ở phía đông cầu La Ngà để tổ chức lực lượng ứng cứu. Tiểu đoàn Tân Uyên dùng hoả lực ngăn chặn, đánh vào hai bên sườn địch, bẻ gãy hai đợt phản kích của chúng, bảo đảm cho chi đoàn rút về Thành Sơn an toàn.
KẾT QUẢ Kết quả, ta đốt cháy và phá hủy 59 xe, diệt và làm bị thương 150 quân (có 25 sĩ quan, trong đó có Đại tá Đờ Xêrinhê chi huy Bán lữ đoàn Lê dương 13 và Đại tá Patơruyt, Tổng Tham mưu phó thứ nhất quân Viễn chinh Pháp ở Đông Dương), thu nhiều vũ khí, trang bị; ta thương vong 4 người (hi sinh 2, bị thương 2). Chiến thắng La Ngà đã tạo tiếng vang ở Sài Gòn và Pháp, buộc Quốc hội Pháp phải tổ chức điều trần về thất bại này. Ý NGHĨA Chiến thắng la ngà là thắng lợi lớn diệt gọn đoàn xe quân sự của địch, bắt sống nhiều tù binh, là chiến thắng giao thông lớn nhất ở miền Đông lúc bấy giờ. Trận đánh đồng thời thể hiện được sự chính nghĩa và chủ nghĩa yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, có tiếng vang lớn trong nước và thế giới. ĐÁNH GIÁ Chiến thắng La Ngà đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang miền Đông cả về chiến lược và chiến thuật, đã đập tan tham vọng của đối phương, phá luận điệu xuyên tạc của thực dân Pháp và cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.
PHẦN 3: LIÊN HỆ BẢN THÂN Mọi công dân đều cần có ý thức giữ gìn, bảo vệ di sản văn hoá dân tộc thể hiện sự trân trọng, quý trọng công lao của các lớp người đi trước, lòng tự hào dân tộc, có ý thức bảo vệ, giữ gìn nền văn hoá của nước nhà. Giữ gìn, bảo vệ di sản văn hóa dân tộc góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa của nhân loại. Là học sinh, chúng ta có thể đóng góp vào công cuộc bảo vệ, phát huy các bản sắc văn hóa dân tộc bằng những cách sau: +Tìm hiểu về di tích lịch sử: nghiên cứu và tìm hiểu về các di tích lịch sử trong khu vực và nhiều vùng khác. . Hiểu rõ về tầm quan trọng và câu chuyện đằng sau chúng. +Tham gia vào các hoạt động bảo tồn: Tích cực tham gia vào các hoạt động bảo tồn di tích lịch sử, như làm vệ sinh, trồng cây xanh, hoặc tham gia vào các dự án tái tạo di tích. +Tham gia vào các cuộc thi và sự kiện liên quan đến di sản văn hóa: Tích cực tham gia vào các cuộc thi viết văn, triển lãm hoặc sự kiện liên quan đến di tích lịch sử. Điều này sẽ giúp chúng ta tăng cường kiến thức và tạo ra những ý tưởng mới để đóng góp bảo vệ và phát huy di tích. +Hỗ trợ các tổ chức bảo tồn di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh: Tìm hiểu về các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn di tích lịch sử và tham gia vào các hoạt động của họ. Chúng ta có thể tình nguyện hoặc đóng góp tài chính, bất cứ thứ gì có thể giúp ích được cho các hoạt động bảo tồn.
Lan tỏa kiến thức: Chia sẻ kiến thức, hiểu biết về các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh với bạn bè và gia đình. Khi mọi người hiểu về giá trị của di tích lịch sử, chúng ta sẽ tôn trọng, biết ơn và từ đó chung tay góp phần bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa. Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể tự hào chia sẻ nét đẹp lịch sử của dân tộc đến với cộng đồng quốc tế, nâng cao sự nhận biết của tất cả mọi người trên thế giới về một đất nước Việt Nam tươi đẹp. Nâng cao, thể hiện ý thức khi đến các di tích lịch sử,..: Không phá hoại thiên nhiên, gây ra bất cứ tổn hại nào khi tham quan các di tích lịch sử. Bày tỏ sự biết ơn, trân trọng khi bước vào các không gian thiêng liêng, thờ kính các vị anh hùng dân tộc. Di sản văn hóa là tinh hoa của văn hóa dân tộc. Đây là những tài sản vô giá và không thể thay thế được. Nó là sự kết tinh của lao động, của tình cảm, tinh thần và những truyền thống văn hóa được tích lũy, kế thừa từ thời đại này sang thời đại khác và trường tồn cho đến ngày nay. Biết giữ gìn và bảo vệ di sản văn hoá dân tộc là thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với lớp cha ông đã dày công gây dựng và để lại cho chúng ta. Những di sản văn hóa, những danh lam thắng cảnh, những dấu tích lịch sử thể hiện công lao của tiền nhân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đồng thời, nó cũng đại diện cho nền văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
TỔ 4