Đắn đo mãi ông Nguyên cũng bảo đứa cháu trai gọi ông bằng bác lấy ô tô đưa ông về Đức Lập. Xe rời thành phố lúc rạng đông, chạy dọc tỉnh lộ 9. Khác xưa, dọc con đường heo hút đầy cỏ dại nay hai bên đường phố xá, nhà cửa mọc lên sầm uất quá. Đến cây cầu bắc qua dòng kênh mang tên một người anh hùng, ông Nguyên bảo lái xe dừng lại. Mở cửa bước ra ngoài, người ông như có liều thuốc bổ. Gió từ mặt sông thổi mát rượi. Những kỷ niệm xưa ùa về. Ông Nguyên nhớ lại, sau ngày thành phố giải phóng, ông Bí thư Thành ủy họ Võ đã phát động thanh niên đào dòng kênh này. “Con kênh ta đào chưa có nước chảy qua/ Chỉ có mùa hè nóng bỏng”. Ông khẽ đọc những câu thơ của một người anh, đồng đội cùng đơn vị sáng tác. Cùng với bài hát “Gửi nắng cho em”, bài thơ này được nhạc sĩ tên tuổi phổ nhạc đã trở thành “bài ca đi cùng năm tháng”. Hít thở một lúc, hai bác cháu tiếp tục hành trình. Hình như anh lái xe trẻ hiểu được tâm trạng của bác, chăm chú lái xe, không làm gián đoạn dòng suy tưởng của người cựu chiến binh già. Xe vượt qua cánh đồng ngập phèn trước đây nay là khu công nghiệp sầm uất đến thị trấn. Ông bảo xe dừng lại vào quán tạp hóa ven đường. Đã thành thói quen, mỗi lần về thăm Bông - người yêu đầu đời của ông, ông đều mua cái gì đó. Khách thăm nhà không thể “đi tay không”. Các cụ xưa từng dạy “Miếng trầu mở đầu câu chuyện”. Phố thị đã khác xưa, ông Nguyên không thể nào nhận ra tòa nhà to nhất nhì phố huyện xưa, nơi có quầy bán báo trước cửa. Một chàng trai trẻ mau mắn:- Ông hỏi nhà bà Bông hả? Cách nhà con hai căn. Nhưng bà ấy đi rồi ông ạ.- Bà ấy đi đâu? - Giọng ông Nguyên dồn dập.- Dạ, bà ấy mất được hơn một tháng rồi ông…Ông Nguyên như thấy đất dưới chân sụp lún. Ông loạng choạng vịn vào cửa xe. Anh tài xế thấy vậy, mở cửa xe dìu ông ngồi vào ghế:- Bác có sao không? - Đoạn anh lấy chai nước - Bác uống nước. Con lấy thuốc cho bác nhé?Dường như đã lấy lại bình tĩnh, ông xua tay:- Không sao, không sao đâu con. Đưa bác đến nhà bà ấy. Sau tiếng gõ cửa, một cô gái trẻ xuất hiện: - Dạ, con chào ông. Ông cần gặp ai ạ?Ông Nguyên không tin ở mắt mình. Cô bé giống bà Bông thời trẻ đến thế. Cả giọng nói như tiếng chim ấy nữa.- Cho ông hỏi nhà bà Bông.- Dạ, nhà bà cháu đây ạ. Mời ông vào.Tay cầm gói kẹo vừa mua, ông Nguyên bước vào nhà. Đã nửa thế kỷ, căn nhà đổi khác quá. Chờ ông Nguyên ngồi xuống ghế, cô bé mời ông ly nước trắng, giọng run run:- Con nhớ ra rồi. Ông là ông Nguyên. Sinh thời bà con vẫn nhắc đến ông . Bà còn cho chúng con xem hình và các bài viết của ông nữa.Ông Nguyên thấy mình có lỗi:- Vậy bà của con mất hồi nào? Sao không báo cho ông biết? Để ông thắp nhang cho bà.Cô gái không trả lời câu hỏi của ông Nguyên. Đoạn cô đến dìu ông đến trước bàn thờ. Trên bàn thờ, qua di ảnh, bà Bông cười chào đón ông. Tóc hoa râm, đuôi mắt chằng chịt dấu chân chim. Nhưng ánh mắt, nụ cười của bà Bông vẫn thế. Cô gái trẻ gọi bà Bông bằng bà họ (chị của bà ngoại cháu), lôi từ trong tủ các bức thư, hình ảnh, cả những cuốn sách, tờ báo có in bài của ông. Nhìn cách xếp đặt, gói buộc, ông nhận ra bà Bông nâng niu quý trọng như kỷ vật của đời mình.Cô gái giữ ông ở lại dùng cơm trưa. Ông Nguyên từ chối. Thật, ông không có tâm trạng nào để ngồi ăn. Ông cố gắng kìm cảm xúc. Chia tay cô gái, ông Nguyên nói lái xe chạy dọc con lộ nhỏ cán bê tông ra phía cánh đồng. Đến nơi có cây cầu nhỏ bắc qua dòng kênh, ông nói dừng xe lại. Mở cửa bước ra ngoài, ông Nguyên thấy chung chiêng như người mộng du. Ông bảo cháu trai vào xe đợi ông. Một mình ông đi về phía cây phượng “độc mộc” cách cây cầu vài chục mét. Nửa thế kỷ trước, khi còn là chàng lính trẻ từ trong rừng ra, ông và bà Bông đã ngồi dưới gốc cây này. Ngày ấy ông Nguyên vừa qua tuổi đôi mươi, còn bà Bông tròn 17 tuổi. Anh lính trẻ và cô nữ sinh trường huyện gặp nhau trong đêm giao lưu văn nghệ giữa đơn vị bộ đội và chi đoàn địa phương. Ngày đó, vừa trải qua bom đạn lại căn bệnh sốt rét từ Trường Sơn đeo bám, người ông cLINH KHÍ QUỐC GIA 51
Nguyên gầy như cây sậy. Hố mắt sâu thẳm, môi thâm tím. Chỉ có nụ cười và hàm răng tỏa nắng. Như định duyên từ kiếp trước, sau buổi gặp đầu tiên ấy, ngày nào khi hết giờ làm việc, Nguyên cũng đạp xe ra phố huyện nhận thư báo cho đơn vị. Nguyên không ngờ quầy báo thư ấy là của nhà Bông. Mẹ của Bông - một phụ nữ có dáng “bà chủ” trực tiếp quản lý. Dần dà, như trái cây đến ngày chín, đôi trai gái bén duyên. Họ trao cho nhau những lá thư tình yêu học trò. Cho đến khi Bông “cả gan” trốn mẹ ra ngồi với Nguyên dưới gốc cây phượng giữa cánh đồng, thì như duyên trời định. Họ không thể thiếu nhau. Nguyên nói với Bông anh sẽ cưới nàng làm vợ, sẽ sinh con đẻ cái như bao cặp trai gái, lứa đôi khác. Nhưng cuộc đời không phải cái gì cũng chiều lòng người. Sau thời gian suy nghĩ, đôi trẻ tiến tới công khai mối quan hệ thì chuyện động trời xảy ra. Đơn vị cử người “điều tra lý lịch” vợ sắp cưới của Nguyên thì tá hỏa tam tinh: gia đình Bông là gia đình tư sản. Anh trai cả của Bông là sĩ quan chế độ cũ, nghe nói có nợ máu với cách mạng. Nguyên là đảng viên, thuộc diện “cán bộ nguồn” nên cấp trên không đồng ý cho Nguyên xây dựng gia đình với Bông. Vậy là, hoặc Nguyên từ bỏ tất cả để cưới Bông và ngược lại. Nghe tin ấy, Nguyên đưa Bông ra gốc cây phượng “độc mộc” giữa cánh đồng. Anh gục vào ngực Bông nức nở: - Em là mối tình đầu của anh. Cuộc đời anh không thể thiếu em. Anh sẽ bỏ tất cả để sống với em đến cuối cuộc đời. Lòng Bông như có dao cắt. Cô gục vào vai Nguyên, nói trong nước mắt: - Em biết anh yêu em thực sự. Nhưng sự nghiệp của anh còn dài. Anh phải tiếp tục công tác và thăng tiến cho xứng với sự phấn đấu, hy sinh của anh trong chiến tranh. Nói rồi, Bông bỏ Nguyên vùng chạy về nhà. Đó là đêm cuối tháng 10 năm 1976. Từ đêm ấy, Bông trốn biệt, không gặp mặt Nguyên nữa. Cho đến khi đơn vị Nguyên được lệnh hành quân lên biên giới, Bông mới nhờ nhỏ bạn trao thư cho Nguyên. Trong thư ấy, Bông khuyên Nguyên quên cô đi. Cô sẽ đi lấy chồng…Thời gian như thước đo lòng người. Tạm biệt Bông, đơn vị của Nguyên hành quân lên biên giới. Kẻ thù mới xuất hiện không phải ai xa lạ, chính là đồng đội cùng chung chiến hào. Nghe theo xúi giục của kẻ xấu, họ tàn bạo trở mặt, xua quân xâm lấn và giết hại hàng ngàn dân lành dọc biên giới Tây Nam. Nguyên cùng đơn vị vào cuộc chiến mới. Anh không có thời gian biên thư cho Bông. Nhưng qua bạn bè, anh biết Bông chưa đi lấy chồng như đã nói với anh. Cô học sư phạm và về thị trấn quê hương dạy ở một trường tiểu học…Đang chiến đấu ở biên giới Tây Nam, đơn vị của Nguyên được lệnh hành quân cấp tốc ra biên giới phía Bắc. Kẻ thù mới cũng chẳng phải ai xa lạ. Người anh em, đồng chí “núi liền núi, sông liền sông” một thời. Nguyên cùng đơn vị chiến đấu dài ngày trên đỉnh Mèo Vạc. Hàng trăm đồng đội của anh ngã xuống. Nguyên bị thương nặng gãy xương đùi bên phải, chuyển về tuyến sau. Sau thời gian dài điều trị ở quân y viện, anh được xuất ngũ về địa phương và xây dựng gia đình như bao người lính rời trận mạc khác. Cách đây gần chục năm, nhân dịp cùng đồng đội về thăm lại chiến trường xưa, Nguyên trở lại thị trấn nhỏ miền biên giới. Nghe tin Bông vẫn chưa xây dựng gia đình, đã nghỉ dạy học, Nguyên không đủ can đảm đến gặp Bông. Qua người quen cũ, Nguyên biết cô vẫn đợi anh. Và điều phũ phàng nữa, anh hiểu rõ vấn đề “lý lịch” - cái cớ để duyên anh và Bông không thành. Do đặc điểm tình hình, ngày ấy hầu hết các gia đình Nam bộ có người thân tham gia hai chiến tuyến. Gia đình Bông cũng thế. Người ta chỉ biết Bông có anh trai bị bắt lính rồi trở thành “kẻ nợ máu” với cách mạng. Họ không biết, cô có người bác ruột (anh trai của cha) là cán bộ tập kết trở về. Trước khi nghỉ hưu, ông là một cán bộ cấp cao của thành phố và đất nước…Xe chạy về thành phố khi hoàng hôn tím như màu hoa sim cuối dòng Vàm Cỏ Đông. Lòng ông Nguyên nặng trĩu. Chuyến trở lại chiến trường xưa nhân kỷ niệm nửa thế kỷ ngày thống nhất đất nước không làm ông vui mà nặng trĩu nỗi niềm. Ông Nguyên nhận ra bộ mặt thật của chiến tranh. Chiến tranh không chỉ cướp đi sinh mạng hàng triệu người mà còn là nỗi ám ảnh khôn nguôi trong lòng mỗi người như bà Bông và cả ông nữa. rc52 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
PHAN HOÀNGThơ và gió và…1.Cứ mãi đi tìm thơ ta chẳng biết thơ đến từ đâucứ mãi đi tìm gió ta chẳng biết gió từ đâu đếnđi tìm ta đi tìm.Gió như thơ và thơ như gióđi tìm ta đi tìmgió không như thơ vàthơ không như gióđi tìm ta đi tìm.2.Cánh chim thi ca trong ta càng bay càng xa những đám mây số phận,ngọn gió thi ca trong ta càng bay càng xa những chân trời khát vọng,chưa chạm cõi hư khôngquay quắt nhớ tiếng người.Có lúc trong gió ta nghe trái đất tinh khôi nụ cười thơ trẻ.có khi trong thơ ta nghe trái đất quằn quại giọt nước mắt cạn kiệt rơirơirơi…3.Cứ mãi đi tìm thơ ta chẳng biết thơ đến từ đâucứ mãi đi tìm gió ta chẳng biết gió từ đâu đếnđi tìm ta đi tìm.Gió như thơ và thơ như gióở trong hơi thở của taở trong mạch máu của taở trong sâu thẳm tâm linh của taở trong cội nguồn cảm hứng sáng tạo của tacội nguồn lẫm liệt dựng nên hình hài non nước bi tráng Tiên Rồng!54 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
TRẦN KIM HOAHà Nội tôi mơHà Nội tôi mơmẹ tiễn anh qua lối hoa đào nởga Hàng Cỏ đoàn tàu lăn bánhngày Bắc đêm Nam phấp phỏng phố phườngtôi nhớ anh lên đường rất vộibalô mới tinh cất kín thư tìnhmôi cười run run rất khẽbím tóc người yêu xanh biếc giảng đườngtôi nhớ người con gái cất bước về nhà chồngbịn rịn thềm rêu giọt nắngHà Nội đầu thập kỷ bảy mươi không ai ra đường áo trắngmũ rơm sơ tán ngoại ôHà Nội trong nhiều giấc mơ trai tráng trở về sạm đen khói súngphố đỏ cờ hoa, mẹ mừng rơi lệHồ Gươm chan chứa gió reo...Hà Nội tôi mơcá lội bến trong, phù sa bến đụcphố, làng kề vai bách thảo trút vàng ngày cũ... mẹ tựa sông Hồng ôm lũ đợi sáng em tựa sông Hồng mang bình minh đến hẹnanh tựa sông Hồngchói chang nắng cát...Nhĩ Hà chở ngàn năm trên ngọn sóng hoa vănCổ Ngư dệt chiều thu thảo...MAI THỊ THU CÚCNgủ tiếp đi anh!(Kính tặng hương hồn liệt sĩ Phan Tỉnh. Sinh năm 1954Nhập ngũ: 1971. Hy sinh: 1972. Quê: xã Giao Nhân, huyện Giao Thủy, Nam Định)Năm mươi năm nằm lại chiến trường.Nay quê hương đón anh về trong vòng tay làng xóm.Mẹ cha mong anh mỏi mòn ngày tháng,Chẳng thể đợi chờ vì sức yếu, tuổi cao.Dằng dặc bao mùa ngóng đợi tin con.Nước mắt mẹ không còn, nụ cười cha héo úa.Nhắm mắt xuôi tay, lòng như dao cứa,\"Con ở nơi nào\" câu hỏi mẹ mang theo.Mười bẩy tuổi xanh xa mái tranh nghèo,Cánh chim non xa rời vòng tay mẹ.Nhập ngũ lên đường sục sôi sức trẻ,Chẳng quản ngày đêm vượt núi băng đèo.Núi thẳm, rừng sâu, vách đá cheo leo,Không ngăn được bước chân chiến sĩ.Sức trẻ dẻo dai, kiên trinh bền bỉ,Trái tim yêu chưa loạn nhịp tình đầu.Một chiều hành quân \"thần tốc\" lẹ, mau,Anh ngã xuống đỉnh Một Không Bốn Chín.Mười tám tuổi đời, tròn năm tuổi línhRừng Sa Thầy ôm anh giấc ngàn thu!Gió rừng thay mẹ hát lời ruÀ ơi, ngủ yên con nhé!Bom đạn thù giết một người lính trẻ!Máu thịt anh tưới xanh mãi đất này.Rồi, hôm nay đón anh trở về đây,Nội ngoại hai bên, bà con làng xã,Em, cháu nghẹn ngào pha một chút mừng thôi,Nửa thế kỷ anh đã trở về rồi.Đất mẹ ôm anh vỗ về, mừng tủi,Ngủ tiếp đi anh, hãy ngủ thật ngon!Cha mẹ ngậm cười chín suối nhìn con,Đứa con yêu mãi tròn Mười tám tuổi.LINH KHÍ QUỐC GIA 55
Xin mượn đầu đề bài báo của Trung tướng Lưu Phước Lượng, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu 9; nguyên Phó trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ để viết bài tùy bút này.CUỘC HỘI NGỘ CỦA CÁC NHÂN CHỨNG LỊCH SỬCó thể nói chưa bao giờ căn phòng nhỏ trong khuôn viên Bảo tàng LLVT Miền Đông Nam bộ lại có sự trùng phùng của tướng lĩnh, AHLLVT nhiều đến thế. Đây không phải là một buổi lễ trọng mà đúng tên gọi đó là cuộc họp mặt nhân kỷ niệm 50 năm ngày toàn thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước do Hội HTGĐLS TP.HCM tổ chức.Đại tá - nhà báo Phan Tùng Sơn dẫn chuyện thật khéo: Sinh thời Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Anh Cả của LLVTND VN đã từng nói trong các cuộc họp mặt của CCB: “Còn được gặp nhau là quý lắm rồi”.Đúng như vậy, sau nửa thế kỷ kể từ 11:30 ngày 30/4/1975, xe tăng mang số hiệu 390 của Lữ đoàn Đường dẫn đến Tùy bút TRẦN NGUYÊN TRANGxe tăng 203 (Quân đoàn 2) húc tung cổng dinh Độc Lập và lá cờ Quyết chiến Quyết thắng của quân đội ta tung bay trên nóc tòa nhà biểu trưng quyền lực của chế độ cũ, đã có bao nhiêu nhân chứng lịch sử ra đi cùng tổ tiên. Và, thời khắc “gặp nhau là quý rồi” trở nên thiêng liêng, quý giá vô cùng với những tướng lĩnh, CCB dạn dày trận mạc đang có mặt tại đây. Cả hội trường lặng đi khi nghe vị tướng trận gần 100 tuổi chia sẻ. Do công việc nghề nghiệp tôi có dịp gặp gỡ và làm việc với Trung tướng Nguyễn Văn Thái, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn TCCT, nguyên Phó Giám đốc về chính trị Học viện Lục quân từ gần nửa thế kỷ nay. Nói đúng, cả cuộc đời của người lính Cụ Hồ quê hương Thái Bình này hiến dâng cho đất nước. Tham gia chống Pháp, ông Nguyễn Văn Thái có mặt rất sớm tại chiến trường Miền Đông Nam bộ. Những chiến dịch lớn trên đất miền Nam Thành đồng Tổ quốc, tướng Thái hầu như đều có mặt. Đó là khi ông làm cán bộ Trung đoàn của Sư đoàn 9; cán bộ Sư đoàn của Sư đoàn 7. NGÀY TOÀN THẮNGCác tướng lĩnh, CCB tại buổi gặp mặt mừng 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước do Hội HTGĐLS TP.HCM tổ chức56 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Giao lưu với sinh viên TP.HCM nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày toàn thắng, vị tướng trận chia sẻ: “Cả thời thanh xuân của tôi gắn với các chiến dịch lớn: Đó là chiến dịch Chốt chặn trên đường 13 Tàu Ô Xóm Ruộng - Bình Long với 150 ngày đêm bão đạn, chứng kiến sự hy sinh của hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ; ấn tượng nhất, cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, Sư đoàn 7 nơi tôi làm Phó Chính ủy Sư đoàn, được giao đánh trận đầu: giải phóng Phước Long, tấn công giải phóng Lâm Đồng và phá toang cánh cửa thép Xuân Lộc”. Trong buổi họp mặt, dù sắp bách niên, tướng Thái vẫn kể rành rọt từng vị chỉ huy 5 cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn cuối tháng 4/1975. Đó là các vị tướng trận lừng danh: Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu An, Hoàng Thế Thiện, Đặng Vũ Hiệp, Vũ Lăng, Nguyễn Minh Châu, Lê Nam Phong… Các vị tướng trận ấy đã về với tổ tiên, không có mặt trong đại lễ kỷ niệm 50 năm ngày toàn thắng của dân tộc. Cùng với Trung tướng Nguyễn Văn Thái, các nhân chứng lịch sử có mặt trong khán phòng đều là những nhân vật huyền thoại. Đó là Thượng tướng AHLLVT Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn Triệu Hải ở mặt trận Tây Bắc Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh 4/1975 với “tấm bản đồ má trao”. Đó là Trung tướng Lưu Phước Lượng với những ngày đêm bám trụ trong nhà “má Hai Cây Thị”. Tập hồi ức “Dấu ấn cuộc đời” của ông kể với mọi người về những tháng năm gian khổ “đường dẫn đến ngày toàn thắng” ấy. Còn nhiều, nhiều lắm những vị tướng trận mà mỗi câu chuyện của họ là “huyền thoại” có sức truyền lửa cho lớp trẻ. Đó là Trung tướng - PGS. TS. Nguyễn Đức Xê, nguyên Giám đốc Học viện Lục quân với những trận đánh khốc liệt và những ngày đêm lạc đơn vị, sống một mình giữa rừng miền Đông đại ngàn. Đó là Thiếu tướng Nguyễn Hữu Mão khi chỉ huy Trung đoàn đánh địch tháo chạy từ Buôn Ma Thuột dọc đường 7 xuống duyên hải miền Trung tháng 3/1975. Đó là kỷ niệm chiến trận của Trung tướng Nguyễn Năng Nguyễn, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 4; Trung tướng Nguyễn Đức Hải, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 3; Thượng tướng Trần Đơn, nguyên Tư lệnh Quân khu 7; Trung tướng Nguyễn Trung Thu, AHLLVT, nguyên Tư lệnh Quân khu 5: Trung tướng Nguyễn Công Thìn; Thượng tướng Nguyễn Hoàng Hương, Trung tướng Nguyễn Song Phi, nguyên Phó TMT; Trung tướng AHLLVT Lê Thái Bê, nguyên Chính ủy Quân đoàn 4; Đại tá AHLLVT Nguyễn Minh Quang, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 302… Tất cả, tất cả góp phần dệt nên bức tranh “ngày toàn thắng 30/4/1975” giải phóng miền Nam, thu giang sơn về một mối. TRUYỀN LỬA CHO THẾ HỆ NỐI TIẾPNgoài các vị tướng - CCB - nhân chứng lịch sử của thời hoa lửa, trong cuộc họp mặt ấm áp này có đại diện thế hệ nối tiếp. Vẫn là lời của Đại tá - nhà báo Phan Tùng Sơn, người dẫn chuyện: “Thưa các bác, các cô chú, thủ trưởng. Chúng con ngưỡng mộ với các tượng đài sống đang có mặt hôm nay. Cả cuộc đời của các cô chú, các thủ trưởng đã dâng hiến cho đất nước. Đó là những tấm gương sáng để chúng con noi theo. Chắc chắn chúng con sẽ phấn đấu, học tập và rèn luyện để tiếp bước con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn”. Cùng suy nghĩ của Đại tá trẻ Phan Tùng Sơn, nhiều người trẻ có mặt đều bày tỏ tình cảm và ước nguyện theo cách của mình. Doanh nhân CCB Mai Xuân Thọ, Tổng giám đốc Công ty Dương Phong; doanh nhân Vũ Hường - Giám đốc doanh nghiệp “Cây Sứ”; doanh nhân Lê Thị Kim Oanh - Tổng giám đốc Công ty Vinaart… là những người đồng hành với Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP.HCM nhiều năm nay. Bằng cách riêng của mình, họ góp phần cùng Hội xây dựng nhiều công trình tình nghĩa dân sinh như xây đền thờ liệt sĩ, tặng nhà tình nghĩa, hỗ trợ xác định hàng chục ngàn danh tính liệt sĩ và đưa hàng ngàn phần mộ liệt sĩ về quê…Điểm nhấn, bên cạnh màu áo xanh với quân hàm lấp lánh của các vị tướng trận - CCB là sự xuất hiện rực rỡ của các nữ doanh nhân tài sắc. Đó là hoa hậu Phương Triều, Tuyết Mai, Thu Hà… họ không chỉ là “người đẹp” mà còn là những doanh nhân tài năng, nhân hậu. Không thể nói khác họ là những “hội viên danh dự” của Hội góp phần chăm lo các gia đình liệt sĩ, thương binh.Đúng như thế, đó là biểu hiện sinh động của “Đường dẫn đến Mùa Xuân - dẫn đến ngày toàn thắng”! r19/4/2025LINH KHÍ QUỐC GIA 57
TỜ LỊCH NGÀY 30/4/1975CÓ BÚT TÍCH CỦAĐẠI TƯỚNG VĂN TIẾN DŨNGĐại tá MẠC PHƯƠNG MINH(Nguyên Giám đốc Khách sạn Tân Sơn Nhất - Quân khu 7)Danh thiếp của Đại tướng Văn Tiến DũngCác tờ lịch có bút tích của Đại tướng Văn Tiến Dũng, trong đó có tờ ngày 30/4/1975 với dòng chữ “Giải phóng Sài Gòn 11.30”58 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Đại tướng Văn Tiến Dũng và tác giảNgày nay có lẽ không nhiều người nhớ hoặc biết rằng khách sạn Tân Sơn Nhất, địa chỉ 198-202, đường Hoàng Văn Thụ - Phú Nhuận, trước ngày 30/4/1975 thuộc căn cứ của Bộ Tổng Tham mưu, cơ quan đầu não của quân đội Việt Nam Cộng hòa, và tòa nhà 2 tầng - khách sạn TSN 3 sao hiện nay chính là nhà nghỉ của Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu - Thủ tướng và Tổng thống của chính quyền Sài Gòn.Thời đó, khu vực này nằm bên trong 2 lớp tường rào, 1 bằng đan bê tông, 1 bằng kẽm gai cao quá đầu người. Hàng cây xoài cổ thụ cành lá um tùm bên trong che chắn hết tầm nhìn từ ngoài, cùng với những chiếc lô cốt nặng nề bên tường rào tạo cảm giác bí hiểm và đe dọa…Sáng 30/4/1975, những trận chiến khốc liệt, đẫm máu đã diễn ra ở khu vực này. Nhiều chiến sĩ ta đã ngã xuống ngay trước giờ phút lá cờ chiến thắng được cắm trên nóc tầng thượng tòa nhà Sở chỉ huy Bộ Tổng Tham mưu ngụy - 11 giờ 30 phút, cùng lúc với lá cờ chiến thắng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập.Năm 1988, tòa nhà trên được Bộ Tư lệnh QK7 cho cải tạo làm Nhà khách Đối ngoại của Quân khu với tên gọi Nhà khách TSN; có chức năng đón tiếp phục vụ các đoàn quân sự nước ngoài khi đến thăm, làm việc với QK7 và TP. Hồ Chí Minh. Ngày nay địa chỉ trên là một quần thể Khách sạn Tân Sơn Nhất thuộc Quân khu 7.Năm 1989, khi tôi về nhận nhiệm vụ tại đây thì căn phòng nghỉ, phòng làm việc của ông Trần Thiện Khiêm (1/2 tòa nhà phía bên trái; 1/2 bên phải là của gia đình ông Nguyễn Văn Thiệu) gần như còn nguyên trạng. Tôi không hiểu vì sao sau mười mấy năm kể từ ngày 30/4/1975 đến 1989, căn nhà dù đã qua sự quản lý của nhiều đơn vị từ cấp Bộ tới cấp Quân khu, rồi cải tạo thành Nhà khách Đối ngoại mà căn phòng làm việc này vẫn được giữ nguyên? Lớp bụi dày, mạng nhện bủa giăng trong căn phòng nhỏ nhưng ngăn nắp với đầy sách báo, hình ảnh, vật lưu niệm, đặc biệt có 1 bức tượng phụ nữ bán thân, trọc đầu màu nâu đen, đặt trang trọng trên chiếc bệ. Khi nói đến bức tượng, mọi người thường thì thầm cho đó là “thiêng linh cái”, làm cho căn phòng thêm vẻ huyền bí, ma mị… Năm 1990, khi giải tỏa căn phòng để cải tạo, tôi bất ngờ phát hiện có 1 quyển lịch bàn nhỏ đã ố vàng, phủ đầy bụi, trong đó có một số tờ có ghi chữ, cùng vài tấm danh thiếp “Đại tướng Văn Tiến Dũng - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Tôi giữ kỹ danh thiếp và những tờ lịch có bút tích đó. Sau này, nhiều lần được đón tiếp, phục vụ Đại tướng và gia đình tại Nhà khách Tân Sơn Nhất, bác Nguyễn Thị Kỳ - phu nhân của Đại tướng và con gái ông đã xác nhận bút tích ấy chính là của Đại tướng. Căn cứ theo bút tích trên từng tờ lịch thì:- Ngày 26/4/1975: “Chiến dịch Hồ Chí Minh mở đầu cánh quân Đông - 17 giờ, 26/4”.- Ngày 30/4/1975: “Giải phóng Sài Gòn - 11 giờ 30”.- Ngày 1/5/1975: “Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh chuẩn bị tiến về thành phố”.- Ngày 2/5/1975: “Bộ chỉ huy chiến dịch tới nhà này”.- Ngày 3/5/1975: “Họp các Quân đoàn ở David rồi chuyển về họp ở đây sau giải phóng Sài Gòn”.- Ngày 4/5/1975: “Giải thể Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh”.Cố Thiếu tướng Hoàng Dũng - nguyên trợ lý của Đại tướng Văn Tiến Dũng, lúc sinh thời đã kể lại nhiều chuyện trong thời gian đơn vị ông theo Đại tướng tới tiếp quản và làm việc tại tòa nhà này, trong đó có việc các ông đã trồng nên vườn dừa gần 20 cây ngay đầu hồi khu nhà. Vườn dừa xanh rợp mát một thời từng là điểm nhấn của Khách sạn Tân Sơn Nhất.Sau lần thứ hai cải tạo tòa nhà vào năm 1997, tôi có ý định tập hợp tất cả tư liệu, hiện vật còn lại, tổ chức thành một căn phòng trưng bày để giới thiệu về giá trị của tòa nhà như một chứng tích của lịch sử. Nhưng rất tiếc ý định của tôi không thành… rLINH KHÍ QUỐC GIA 59
PHÁT HUY PHẨM CHẤT“BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG LỚN“CỦNG CỐ TỔ CHỨC BỘ MÁYCỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ”Diễu binh, diễu hành ngày 30/4/2025 tại TP.HCM dịp Kỷ niệm 50 năm Thống nhất Đất nước - Ảnh congly.cnTrung tướng LƯU PHƯỚC LƯỢNG(Nguyên Phó ban chỉ đạo Tây Nam bộ)60 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Bác Hồ đã khen ngợi: Quân đội ta Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Lời khen ấy đã khái quát bản chất truyền thống vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng toát lên những điều cốt lõi tốt đẹp nhất về phẩm chất của “bộ đội Cụ Hồ”. Đây là động lực tinh thần to lớn thôi thúc toàn quân ta phấn đấu cùng toàn dân hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc thống nhất đất nước và đang ra sức xây dựng bảo vệ Tổ quốc trong Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.Trong thời điểm lịch sử này một chủ trương lớn, một quyết sách lớn mang tính cách mạng sâu sắc “củng cố tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Chúng ta đều hiểu rằng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị Việt Nam tuy đã được củng cố qua nhiều nhiệm kỳ của Đảng, song về cơ bản vẫn theo mô hình được thiết kế từ hàng chục năm trước gắn với thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung.Với sự phát triển của đất nước sau 40 năm đổi mới, cùng tiến trình xây dựng một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập sâu rộng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiều vấn đề không còn phù hợp với nhiều bất cập: Bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chưa thật rõ ràng còn chồng chéo, trùng lấp... phân định, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ hợp lý, có nơi còn bao biện làm thay…Với quyết sách mang tính đột phá, quyết liệt, một trọng tâm công tác cực kỳ quan trọng của đất nước trong giai đoạn hiện nay và sắp tới để đất nước phát triển thịnh vượng và bền vững. Đến năm 2030 tiến đến kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng Việt Nam trở thành nước phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm ngày thành lập nước trở thành nước xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao. Yêu cầu nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược đó, đặt ra cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta một nhiệm vụ hết sức nặng nề với nhiều thuận lợi, nhưng cũng đầy thách thức phải vượt qua. Trong bối cảnh lịch sử này “bộ đội Cụ Hồ” dù đang công tác hay đã nghỉ hưu hoặc chuyển ngành sang lĩnh vực hoạt động khác trong cả nước nói chung và Quân đội nhân dân nói riêng cần có nhận thức đúng, đầy đủ sâu sắc với quyết tâm cao và hành động quyết liệt, gắng sức cùng cả nước tạo sự đồng thuận xã hội thực hiện chủ trương lớn, quyết sách lớn thành công. Quán triệt sâu sắc để có nhận thức đúng, đòi hỏi mỗi chúng ta phải nghiên cứu tìm hiểu đầy đủ hơn những Nghị quyết, Kết luận của Trung ương - Bộ Chính trị trong lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội vừa qua, và giải đáp vì sao đến nay Trung ương phải triển khai quyết liệt với khí thế khẩn trương “vừa chạy vừa xếp hàng”. Đồng thời phải nghiêm túc nghiên cứu kỹ hệ thống các giải pháp để thực hiện chủ trương, từ việc xây dựng quyết tâm chính trị; sự phối hợp chặt chẽ đồng bộ những giải pháp lớn (cải cách thể chế, phát triển nguồn nhân lực; cơ sở hạ tầng tiên tiến, công nghệ số…) đến công tác tư tưởng và chính sách. Qua đó góp phần động viên tuyên truyền, làm rõ chủ trương, tạo sự thống nhất cao, đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt các đối tượng liên quan trực tiếp đến chủ trương mang tính đột phá này. Có thể nói đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của quá trình cải cách “củng cố tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị” đáp ứng yêu cầu khách quan và xu thế phát triển tất yếu của thời đại. Quán triệt quyết sách lớn của Đảng đòi hỏi mỗi chúng ta - “Bộ đội Cụ Hồ” phải ra sức rèn luyện, luôn tự vấn với bản thân mình: một mặt đề đạt nguyện vọng chính đáng của riêng mình, cũng như cán bộ, công chức, viên chức mà bản thân đã ghi nhận được. Đồng thời phải gương mẫu chấp hành những yêu cầu nhiệm vụ, những quyết định được tổ chức giao phó với thái độ tự giác, chân thành vì lợi ích chung. Tuyệt đối không “phản biện”, phát ngôn với ý thức chủ quan, cảm tính, thiếu sự suy xét cẩn trọng... dễ tạo điều kiện cho những người mang nặng chủ nghĩa cá nhân làm phức tạp và gây thêm khó khăn chung. Mặt khác, cLINH KHÍ QUỐC GIA 61
phải chủ động đấu tranh không khoan nhượng đặc biệt trên không gian mạng những luận điểm mang tư tưởng thù địch, tung tin thất thiệt gây nhiễu loạn thông tin, gây rối nội bộ hòng phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc làm lung lạc lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Tình hình này thực sự có ý nghĩa đối với bản lĩnh, phẩm chất của “bộ đội Cụ Hồ”. Chủ trương tổ chức - chính quyền địa phương 2 cấp (nhập tỉnh, không tổ chức cấp huyện, mở rộng quy mô cấp xã phường). Đây là sự biến động lớn liên quan đến việc tổ chức lại khối quân sự địa phương (bao gồm cả bộ đội biên phòng) với chức năng, nhiệm vụ, quy mô tổ chức lực lượng rộng lớn hơn, quyền hạn và trách nhiệm rộng hơn. Đặc biệt là phân cấp phân quyền… sẽ rành mạch và rõ ràng. Cùng những hình thức, phương thức thực hiện nhiệm vụ phù hợp với thực tiễn “tinh gọn bộ máy” nhằm đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ và sẵn sàng chiến đấu ở mức cao nhất. Tình hình nêu trên sẽ tác động đến từng con người cụ thể. “Bộ đội Cụ Hồ” với phẩm chất tốt đẹp nhất định sẽ nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn thử thách này. Chúng ta không thể tiếp tục làm việc với thái độ, phương pháp và hiệu quả công việc “như ngày hôm qua” mà phải nỗ lực vươn lên mạnh mẽ để đạt được hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả ở mức cao nhất có thể, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới. Một trong những giải pháp lớn cần xác định để đạt yêu cầu này, đồng thời cũng thể hiện phẩm chất “bộ đội Cụ Hồ” là phải ra sức học tập và rèn luyện. Trong đó đặc biệt chủ động nâng cao trình độ, năng lực và kiến thức về mọi mặt; nắm vững những nội dung cốt lõi về đường lối, quan điểm chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.Tùy thuộc vào chức năng yêu cầu, nhiệm vụ ở từng cấp, từng ngành với nỗ lực cao nhất, thiết thực góp phần vào việc triển khai các giải pháp xây dựng Quân đội nhân dân “Tinh, gọn, mạnh” theo đúng lộ trình kế hoạch cũng như những phát sinh mới do thực tế yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Tiếp thu và vận dụng sáng tạo những vấn đề liên quan đến công nghệ số, chuyển đổi số, công nghệ thông tin… Một yếu tố cực kỳ quan trọng để đạt hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả công việc trong quá trình cải cách mang tính cách mạng sâu sắc này. Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Những phẩm chất cao quý của “bộ đội cụ Hồ” là động lực tinh thần vô giá để chúng ta chung sức, đồng lòng cùng nhân dân cả nước nói chung và Quân đội nhân dân nói riêng thực hiện thành công chủ trương lớn “củng cố tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị” nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và năm 2045 của Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. rThành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 5 năm 2025cDiễu binh, diễu hành ngày 30/4/2025 tại TP.HCM dịp Kỷ niệm 50 năm Thống nhất Đất nước - Ảnh st62 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
BÙ BÔNGTRÌNH TỰ KHAVề lạiNHẬT KÝ CHIẾN TRƯỜNG- 15 tháng 12 năm 1973Sau 3 đêm hành quân bằng xe ô tô từ ngã ba Đồng Pan qua Lộc Ninh, Bù Gia Mập, hôm nay chúng tôi đã đến vị trí tập kết, thuộc vùng cao nguyên trung phần thuộc tỉnh Quảng Đức. Cách đây không lâu ta đã đánh chiếm Bù Bông và chi khu Kiến Đức, nhưng địch phản kích chiếm lại Kiến Đức và rắp tâm đánh chiếm cao điểm Bù Bông, hòng chặn con đường chiến lược Đông Trường Sơn của ta nối dài từ Tây Nguyên vào chiến trường Đông Nam bộ. Vì vậy Trung đoàn 174 cùng các đơn vị khác của Sư đoàn 5 và Miền được gấp rút điều lên Mặt trận Kiến Đức chặn đánh địch, để mở thông đường hành lang chiến lược Đông Trường Sơn - con đường Hồ Chí Minh huyền thoại.Cao nguyên, đúng như tên gọi của nó, toàn là đồi núi và các cánh rừng nối tiếp nhau. Xe đổ quân xuống chân đồi Bù Bông, gió đâu ra mà lắm thế, thổi ào ào như bão. Lính ta được phát mỗi người 1 áo sợi dài tay mặc vào vẫn thấy lạnh run cầm cập. Vượt qua con suối cạn có tảng đá to bằng phẳng như mặt bàn nên lính trinh sát đặt luôn tên là suối Đá Bàn. Đi tiếp qua một cánh rừng già thì đến khu vực trú quân.- 24 tháng 12 năm 1973Sau mấy ngày ổn định cứ đóng quân với hầm kèo chữ A và bếp Hoàng Cầm, khẩu đội 1 DKZ 75 ly của tôi được lệnh xuất kích phối thuộc cùng Tiểu đoàn 5 đánh phục kích đoàn xe địch trên lộ 88. Thế là pháo, đạn, đà giát lên vai cùng chúng tôi đi vào trận đánh. Đường rừng quanh co, cứ theo lối “bẻ cò” của trinh sát trung đoàn mà đi, cánh bộ binh đi trước đã dọn thành lối mòn. Tôi và Nguyễn Tiến Tiềm cùng khiêng nòng pháo DK75 hơn 70 kg. Tiềm nhỏ con hơn nên đi trước, tôi đi sau chịu sức nặng của bầu nòng, gặp mấy con dốc đứng phải hạ nòng pháo xuống mà nhích dần từng bước… cCao điểm Bù Bông trong dãy Trường Sơn
Vừa tắt nắng thì đến Sở chỉ huy tiền phương, Đại đội trưởng K17 Lê Minh Huệ và Trung đoàn phó Vũ Viết Cam chờ sẵn đưa bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa. Khiêng pháo vận động lên đỉnh đồi mệt muốn đứt hơi, pháo địch bắn cầm canh vào các cánh rừng, phía dưới chân đồi con lộ 88 hiện ra lờ mờ dưới làn pháo sáng của chi khu Kiến Đức bắn lên. Có lệnh đào hầm pháo và công sự chiến đấu, tôi và Tạ Văn Mạnh đào 1 hầm, bên kia Tiến Tiềm và Đinh Văn Lâu đào 1 hầm, đất đồi đầy sỏi đá, gần sáng mới xong mấy căn hầm chiến đấu. Đại đội trưởng Huệ đi kiểm tra một lượt, nhắc nhở mọi người ngụy trang trận địa và ăn lương khô mang theo trong lúc chờ đến giờ nổ súng…Trời sáng rõ, mặt trời lên cao đã xua tan lớp sương mù trên tán lá cây rừng, có tiếng xe địch gầm rú mỗi lúc một gần, những phút chờ đợi căng thẳng… Tốp địch đi đầu nhảy xuống xe sục vào bìa rừng, tiếng súng bộ binh nổ ran, từng loạt AR15 rồi AK47 đan xen vào nhau. Vậy là tiểu đoàn 5 đã đụng địch rồi. Tiếng súng nổ càng lúc càng rát, pháo địch bắn dữ dội vào các cánh rừng hai bên con lộ. Bộ binh địch đã tràn lên các quả đồi, Trung đội trưởng Đinh Công Kịnh, người dân tộc Mường, hô lớn: “Chuẩn bị AK, lựu đạn đánh địch”. Các pháo thủ đã thành lính bộ binh, phía hầm C bộ cậu Bá, liên lạc đại đội, đã nhô lên quạt mấy loạt AK vào tốp địch vào gần. Rừng cây lúp xúp rậm rạp không nhìn rõ nhau, tôi nhô đầu lên quan sát thấy Bá đã bắn gục 1 tên lính biệt động chỉ cách hầm khoảng 20m. Thoáng mấy bóng áo rằn ri đang lom khom tiến đến, tôi rút chốt 2 trái lựu đạn ném về phía địch. Cùng lúc với tiếng nổ của lựu đạn, một trái M79 rơi xuống nổ “oành” ngay trên cành cây trước cửa hầm…Có cảm giác như vật gì vừa giáng vào đầu, tôi thụp xuống lột mũ tai bèo ra đã thấy máu tràn khắp mặt, tôi gọi: “Mạnh, anh bị thương rồi”. Mạnh chồm lên bờ công sự lia hết một băng đạn đẩy tốp địch lùi ra rồi nhoài tới băng bó cho tôi. Quấn xong cuộn băng máu vẫn còn chảy, Mạnh lấy một nhúm thuốc lá đắp lên vết thương rồi băng tiếp cuộn băng thứ hai mới cầm được máu. Phía trên hầm tiếng súng vẫn nổ loạn xạ, tiểu đội bộ binh của đại đội 7 có nhiệm vụ bảo vệ trận địa pháo đã vận động đánh tạt sườn, hất tốp lính biệt động xuống đường. Từ phía rừng xa vọng lại từng loạt pháo 105 ly của Đoàn pháo 75 đang bắn chế áp trận địa pháo địch, đoàn xe địch bị chặn đánh đã quay đầu rút chạy. Bộ đội được lệnh rút khỏi trận địa… Tôi đi cùng đoàn cáng thương của đại đội vận tải (K22) về phẫu tiền phương. Bác sĩ Phương, Trưởng trạm phẫu tiền phương, xem qua vết thương của tôi rồi chích thuốc tê mổ lấy ra mấy mảnh đạn M79. Trời lạnh, thuốc tê hết tác dụng, đau buốt lên tận óc. Y tá trạm phẫu đưa tôi một ly sữa nóng uống lấy sức rồi đi tiếp về Quân y viện của đoàn 770. Qua suối Đá Bàn gặp anh em của K22 đang mai táng những liệt sĩ vừa hy sinh trên một khu đất bằng phẳng ven chân đồi Bù Bông. Không có quan tài, chỉ bọc liệt sĩ trong tấm võng, bên ngoài quấn thêm tấm tăng… Như thế thôi các anh đi vào lòng đất, không có nén nhang tiễn biệt, chỉ có mấy nhánh hoa sim rừng đặt lên mộ các anh… Tôi bước đi mà lòng nặng trĩu “mai này ai sẽ đưa các anh về quê?”. - Buprăng, 27 tháng 12 năm 1973 Ngày thứ 2 trong Quân y viện YV20 (đoàn 770). Gọi là Quân y viện cho oai chứ thực chất đây chỉ là bệnh viện dã chiến của Mặt trận. Thương binh mắc võng nằm trong những căn hầm nửa chìm nửa nổi, mái che bằng những tấm tăng dày. Gió ì ầm suốt ngày, cái lạnh ở đây chẳng khác gì ngoài trận địa, thương binh phải tự lên đồi vơ cỏ khô về lót dưới đáy võng cho ấm lưng. Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Tuy Đức (Đắk Nông)c64 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Tối không đốt một đống lửa sưởi thì không tài nào ngủ được. Hộ lý thiếu, chỉ tập trung lo cho thương binh nặng, còn đủ tay chân như tôi thì tự lực cánh sinh là chính. Mãi đến hôm nay tôi mới đủ sức ra suối tắm và giặt bộ quân phục đẫm máu từ hôm bị thương. Bệnh viện nằm gần con đường Đông Trường Sơn đi vào Lộc Ninh, Tây Ninh. Từ đây có thể nghe tiếng những đoàn xe vào Nam ra Bắc, đường Hồ Chí Minh vẫn thông suốt, sự hy sinh của chúng tôi đã không uổng phí.VỀ THĂM LẠI CHIẾN TRƯỜNG XƯA- Tuy Đức (Đắk Nông), 13 tháng 4 năm 202552 năm trôi qua, dù rất muốn nhưng tôi vẫn chưa thu xếp được để có một lần trở về chiến trường xưa. Nhân chuyến công tác đi thăm bộ đội Biên phòng Bình Phước của Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP.HCM và Ban LLTT Sư đoàn 5, tôi hỏi bác sĩ Tuấn Thanh, vợ tôi: “Em có muốn đi cùng anh về thăm chiến trường xưa, nơi có con suối Đá Bàn mà anh vẫn kể?”. Không chần chừ vợ tôi đồng ý ngay… Nhờ anh em biên phòng Đồn Đắk Nô (Bình Phước) giới thiệu, vợ chồng tôi may mắn được Điểu Thuận, Phó chủ tịch xã Bù Gia Mập đi cùng. Điểu Thuận vốn là người dân tộc Mơ Nông, từng có thời gian sống ở Tuy Đức (Đắk Nông) nên rất thông thạo vùng đất này. Trên đường đi, hai bên đường là những cánh rừng rất đẹp của Vườn quốc gia Bù Gia Mập, sang đất Đắk Nông con đường chạy sát cột mốc 55/6 của biên giới Việt Nam - Campuchia.Điểu Thuận hướng dẫn tôi chạy xe lên đỉnh đồi Bù Bông, nay là Ban chỉ huy Quân sự huyện Tuy Đức. Nhà dân san sát dưới chân đồi, Thuận chỉ con đường nhựa chạy cạnh đồi Bù Bông nói với tôi: “Con đường nhựa đó ngày xưa là lộ 88”. Không còn dấu vết gì của đồi Bù Bông rừng cây rậm rạp, hoang vắng với con đường đất đỏ ngày nào. Tôi kể cho Điểu Thuận nghe về con suối Đá Bàn, nơi có Nghĩa trang Mặt trận chôn cất những liệt sĩ hy sinh trong những ngày cuối năm 1973 và đầu năm 1974. Thuận nói “có con suối đó nhưng bà con đã khai thác đá làm vật liệu xây dựng hết rồi”. Chúng tôi dừng xe, theo lối mòn để tìm dòng suối. Mùa khô ít nước, cỏ lau mọc đầy lòng suối, hai bên bờ là ruộng, vườn và trang trại của dân… Đành chịu vậy thôi, vật đổi sao dời, hơn 50 năm rồi còn gì. Tôi nhờ Điểu Thuận đưa đến Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Tuy Đức với hy vọng tìm được mộ đồng đội ở đó. Nghĩa trang Liệt sĩ thật trang nghiêm, thật đẹp, nhưng chỉ có mấy hàng mộ không có thông tin liệt sĩ, làm sao biết ai nằm dưới đó? Gần cổng nghĩa trang là mấy tấm Bia tưởng niệm ghi danh liệt sĩ của các trung đoàn 5, 205, 271, 429 và bộ đội địa phương. Không thấy tên liệt sĩ nào của Trung đoàn 174 (Đoàn Cao-Bắc-Lạng). Tôi thấy buồn và xót xa, vì sao lại có sự quên lãng đến vậy? Không tìm được hài cốt các anh thì ít ra cũng phải có Bia tưởng niệm khắc tên các anh trong nghĩa trang này chứ? Đồng đội ơi, chúng tôi có lỗi với các anh nhiều lắm…Trên đường về, Điểu Thuận chỉ cho chúng tôi Di tích còn lại của con đường Đông Trường Sơn, một Tấm bia xi măng bên cạnh một đoạn đường đất đỏ khắc ghi dòng chữ đã mờ vì năm tháng “Di tích lịch sử: Đường Hồ Chí Minh - Đông Trường Sơn đi Lộc Ninh, Chơn Thành (Tuy Đức)”. Đơn giản vậy thôi sao? Lẽ ra dòng chữ ấy phải được khắc lên bia đá hoa cương để lại cho muôn đời sau chứ? Tôi nhớ dưới chân tường Điện Kremlin (Liên bang Nga) có Đài tưởng niệm Liệt sĩ vô danh với ngọn lửa vĩnh cửu không bao giờ tắt và trên nền đá hoa cương có khắc ghi dòng chữ “KHÔNG AI BỊ QUÊN LÃNG, KHÔNG GÌ BỊ LÃNG QUÊN”. Những người cựu chiến binh chúng tôi mong lắm nơi đây cũng sẽ có một Tượng đài bằng đá hoa cương với dòng chữ Di tích lịch sử đường Đông Trường Sơn - tri ân như thế! rđường Hồ Chí Minh huyền thoại LINH KHÍ QUỐC GIA 65
Góa phụ ấy thực ra là má của tôi. Bà trở thành vợ liệt sĩ kể từ năm 1968, khi ba tôi (Đại tá Nguyễn Thế Truyện, Sư trưởng Sư đoàn 5), hi sinh trên chiến trường Sài Gòn - Gia Định dịp Tết Mậu Thân với cương vị Tư lệnh Phân khu I. Một điều lạ là cột mốc đáng nhớ nhất trong đời bà có lẽ không phải là ngày nhận được giấy báo tử của ba tôi, cũng không phải là ngày cưới trong chiến khu kháng chiến chống Pháp năm 1952, mà là một ngày mùa xuân năm 1962 - năm ba má tôi chia tay nhau để ông đi vào mặt trận phía Nam rồi không bao giờ về nữa. Năm ấy bắt đầu cho một cuộc chờ đợi mà âu lo, phập phồng luôn lấn át niềm hi vọng trong trái tim người thiếu phụ 29 tuổi với 3 đứa con, đứa lớn nhất mới 9 tuổi và đứa nhỏ nhất 10 tháng tuổi. Chiến tranh, như ai đó đã nói, đâu phải trò đùa.MỘT GÓA PHỤCHIẾN TRANHNGUYỄN THẾ THANHCuộc chờ đợi ấy ngỡ như đãdừng lại 6 năm sau đó khi tờ giấy báo tử đến cùng với một nghi thức lặng lẽ tại nhà tôi ở Khu tập thể Quân đội 3B Ông Ích Khiêm, Hà Nội. Không một sẻ chia nào loang ra trong mấy ngày đêm tang tóc đó. Chiến tranh chưa kết thúc. Nỗi âu lo cần phải được chìm xuống vìtrong mỗi căn nhà hàng xóm của bà đều có một người đàn ông làchồng, là cha đang còn ở ngoài mặt trận và hậu phương của họ không nên bị khuấy động thêm vào thời khắc này. Cả 3 đứa con đều sơ tán tận Quế Lâm xa xôi. Nước mắt bà một mình chảy xuống trong căn nhà vỏn vẹn 28 mét vuông ở Hà Nội, thương mình thì ít, thương con thì nhiều.Nhưng bà đã không bỏ buổi học nào và đợt thi nào ở giảng đường Đại học Y Dược. Tấm bằng Dược sĩ bà nhận cùng với lời biểu dương nhỏ nhẹ của giáo sư Huỳnh Quang Đại: “Chịrất dũng cảm” không biết đã chứa trong đó bao nhiêu nỗi đau mất chồng và nỗi nhớ thương con trong những ngày tháng khó khăn ấy. Không ai có thể thấy bao nhiêu nước mắt đã rơi xuống trong những lần bà đạp xe từ nơi làm việc là bệnh viện E sơ tán ở Thạch Thất - Hà Tây tới thăm các con ở Trại trẻ Quân đội tận Lập Thạch - Vĩnh Phúc. Không ai có thể biết nếu một trận bom rải xuống trên đường đi thì liệu bà còn có thể gặp các con không… Nhưng bà thì biết rõ, khi chồng bà Ba má của tác giả, ảnh chụp tại Hà Nội năm 1960, trước ngày ông đi vào chiến trường miền NamChuyệnBốn mẹ con của tác giả, ảnh chụp năm 2020 tại Sài Gòn66 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
không còn nữa thì bà chính là điểm tựa duy nhất cho các con, và vì thế bà phải phấn đấu vượt qua tất cả mệt nhọc, hiểm nguy để hoàn thành công tác và để các con an lòng khi vài tháng lại được nhìn thấy mẹ, được sà vào lòng mẹ…Với một góa phụ chiến tranh người miền Nam như má tôi, trong lòng nặng những nỗi niềm 20 năm xa quê hương, 7 năm góa chồng, thì ngày 30 tháng 4 năm 1975 không đơn giản là một ngày chiến thắng, thậm chí “ngày toàn thắng”. Bà sang chia vui với những nhà hàng xóm có người trởvề với quân phục vương mùi chiến trận. Bà đãrơi nước mắt đau đớn cùng những người phụ nữđồng cảnh ngộ với bà 7 năm trước. Bà hình dung ra cuộc trùng phùng trĩu nặng yêu thương với gia đình ở quê hương Nam bộ nơi bà có những đứa em cô cậu ruột mang quân phục khác chiến tuyến với chồng bà. Và, bà mong ngóng ngày đóbiết bao dù đã có lúc bà từng tự hỏi “Không biết các em có thương, có chấp nhận chị Ba Việt cộng này không?”.Nhưng rồi chẳng có gì lớn hơn tình gia đình vàmột cuộc sống từ nay không còn bom đạn. Phức tạp mấy, nan giải mấy cũng còn có hòa bình đó đểmà tháo gỡ. Lâu hay mau, đau nhiều hay ít cũng là do những người còn sống qua chiến tranh tính với nhau, ở bên này hay bên kia đại dương, màthôi. Chứ những người đã chết trên những chiến hào khác nhau trong chiến tranh, mạng sống của họ là một phần đặt cược cho hòa bình rồi. Má tôi đã gặp lại cậu ruột và các em của mình. Chỉ một chút xíu bỡ ngỡ vì chị em mấy chục năm mới gặp lại, thậm chí mới gặp lần đầu vì khi má tôi chia tay gia đình có những cậu dì chưa được sanh ra. Rồi từ đó tình thân gia đình cứ vậy mà nối lại vàbồi đắp suốt mấy chục năm sau hòa bình. Gia đình bên ngoại tôi ai cũng thực tình bày tỏ sự quý trọng ba tôi - người cháu rể, anh rể Việt cộng của họ. Tình cảm ấy có lẽ xuất phát từ tình thương của người trong cùng một gia đình. Điều đó đã giúp cho má tôi và cả chúng tôi nữa được trọn vẹn yêu thương hơn trong cuộc trùng phùng họ tộc. Ai cũng hiểu, tận đáy lòng ai cũng chôn giữ bao nhiêu là nỗi niềm khó nói hết. Kết thúc một cuộc chiến tranh lâu dài đến thế, ác liệt đến thế bằng những tổn thất đến thế thì sao lại không thể vui mừng, thậm chí tự hào. Nhưng, vì cuộc chiến tranh ấy không chỉ kết thúc trong thắng lợi mà còn trong cả sự nghiệt ngã, khi làn ranh chiến tuyến nằm ngay trong từng gia đinh, thế nên mới cần phải thận trọng tìm kiếm cách biểu thị niềm vui, niềm tự hào ấy sao cho phù hợp nhất về lòng người còn ngổn ngang “bên này, bên nọ”. Má tôi cũng không ngoại lệ trong suy nghĩ đó, có lẽ từ rất lâu rồi. Từ ngày còn nhỏ đến lúc trưởng thành, chị em tôi chưa bao giờ được bàdạy về lòng thù hận và về sự trả thù. Bà chỉ luôn nhắc chúng tôi niềm tự hào về sự đóng góp cho đất nước khi cần như ba tôi và nhiều người khác và nhất là, phải sống xứng đáng với người đã ngã xuống cho sự yên bình của đất nước.Điều cho đến nay khiến tôi lạ nhất về má tôi không chỉ là sức chịu đựng có thể nói là phi thường ở bà. Một mình nuôi 3 đứa con từ năm 29 tuổi. Một mình chiến tranh, một mình hòa bình. Một mình trẻ trung, một mình già uá. Một mình ngọt ngào, một mình cay đắng. Với người bình thường như tôi thì thế là phi thường rồi. Điều lạ nhất nữa mà tôi ngấm ngầm phát hiện bấy lâu ở má tôi là bà chưa bao giờ ngừng chờ đợi ba tôi. Thỉnh thoảng bà kể cho tôi nghe, với giọng vui vẻ, về những cuộc gặp gỡ ba tôi trong giấc mơ, khi dài khi ngắn. Những cuộc gặp gỡ như thật, cóđùa cợt, hờn dỗi vợ chồng, có cả dặn dò nghiêm túc kiểu “đồng chí, đồng đội”. Bà chỉ kể về những giấc mơ nhưng tôi biết là bà vẫn chưa thôi chờ đợi ông - người mà bà đoan chắc kiếp sau vẫn muốn chọn làm chồng và luôn khéo léo cho các ông con rể thấy đó là một “hình mẫu”! Có lần tôi cả gan thăm dò bà xem cái điều tôi đoán định đúng tới đâu: “Má, hòa bình mấy chục năm rồi, ai ở ngóc ngách nào thì cũng đã tìm được đường về nhà, ai không về nghĩa là không thể vềnữa, hén!”. Và bà đã trả lời tôi tỉnh queo, như chỉchờ được hỏi: “Vậy chớ sao. Nhưng mà, những ai không thể về thì cũng đâu có nghĩa là không thểgặp. Nhưng để gặp lại, ở đâu cũng vậy, thì phải biết chờ. Nhờ có hòa bình mà nhiều người còn sống để chờ thay vì phập phồng trong bom đạn”. Ôi, má tôi, góa phụ chiến tranh của tôi! Thì ra bà đã nghĩ thấu đáo đến thế về sự chờ đợi của một người dành cho người mình yêu ngay cả khi người ấy không còn trên đời nữa. Có chờ thì cógặp. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao cả một bài thơ “Đợi anh về” của Ximônốp bà chỉ thích và chỉ nhớ đểnhắc đi nhắc lại cho riêng mình mấy câu này:Mưa có rơi dầm dề/ Ngày có dài lê thê/ Thì em, em cứ đợi. rLINH KHÍ QUỐC GIA 67
“Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâuCó nỗi thương đau có niềm hy vọng...”Câu thơ của nhà thơ Hoài Vũ cứ như đang thầm lặng theo hành trình gần 200km từ TP. Hồ Chí Minh đến Long Khốt của chúng tôi, những nhà báo, nhà văn, và cựu chiến binh từng chiến đấu ở chiến trường này hơn 50 năm trước.Mới bắt đầu chớm mùa mưa phương Nam, nên trong nắng mật đậm đặc vẫn thoảng hơi gió thênh thang, hào phóng mang hơi mát thơm của hương sen Đồng Tháp Mười đang trổ bông ào ập vào người, cùng màu xanh mê mải của những vạt rừng tràm um tùm lá, để rồi cứ rưng rưng những NHỮNG LINH HỒN TRẤN BIÊNHOÀI HƯƠNGĐÃ THÀNH THÔNG LỆ MƯỜI MẤY NĂM NAY, TỚI KỶ NIỆM NGÀY SINH NHẬT CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH 19/5, NGƯỜI DÂN Ở MIỀN BIÊN THÙY LONG KHỐT (VĨNH HƯNG, LONG AN) CÙNG NHỮNG NGƯỜI CỰU CHIẾN BINH TỪNG CHIẾN ĐẤU NĂM XƯA Ở CHIẾN TRƯỜNG NÀY, LÀM LỄ THẢ HOA ĐĂNG TƯỞNG NIỆM VÀ TRI ÂN NHỮNG LIỆT SĨ ĐÃ HY SINH VÌ TỔ QUỐC TRÊN DÒNG SÔNG LONG KHỐT. VÀ NĂM NAY 2025, DẤU ẤN 50 NĂM KỶ NIỆM HÒA BÌNH THỐNG NHẤT NON SÔNG, THÊM MỘT LẦN DÒNG LONG KHỐT CHỨNG KIẾN ĐỒNG ĐỘI Ở KHẮP MỌI MIỀN ĐẤT NƯỚC TỤ HỌP VỀ ĐÂY…Long KhốtĐền thờ Liệt sĩ Long Khốt (Long An)68 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
cảm xúc đầy lên khi chạm vào vùng biên cương mang linh khí quốc gia với đầy chiến tích lịch sử kiên cường giữ đất, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cócái tên cổ xưa huyền bí: Long Khốt.Có một nơi mà bất kỳ lúc nào chạm vào cũng thấy nhiều cảm xúc - là biên giới - là phên giậu biên thùy - là cột mốc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Một nét bút cha ông vẽ hình đất nước. Một mảnh cương giới địa đồ. Một linh thiêng đất đai Tổ quốc, bao đời tổ tiên, ông cha nhiều thế hệ đã giữ gìn. Một chủ quyền lãnh thổ Việt Nam bất di bất dịch muôn đời. Và càng cảm xúc hơn khi nơi đó, được biết, có rất nhiều linh hồn bất tử - linh hồn những người Việt Nam đã quyết tử chống quân xâm lược, để bảo vệ, để giữ gìn chủ quyền toàn vẹn mảnh đất Việt của ông cha.NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ TRÊN DÒNG LONG KHỐTĐây là khu đất có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, từ năm 1958-1975, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng một chi khu quân sự kiên cố, trang bị nhiều vũ khí tối tân, có lực lượng tinh nhuệ trấn giữ cửa ngõ biên giới Tây Nam cùng con đường huyết mạch từ miền Tây Nam bộ về Sài Gòn. Sau năm 1975, đây cũng là một chốt biên phòng trọng yếu chiến lược của ta, trấn giữ vành đai bảo vệ TP. Hồ Chí Minh từ xa, với chiều dài 45,62km (chiếm 31,1% tổng chiều dài biên giới của tỉnh Long An). Riêng Đồn Biên phòng Long Khốt hiện được giao quản lý 17,3km đường biên giới với 12 cột mốc.Trung đoàn 174 Anh hùng, thuộc Sư đoàn 5, Quân giải phóng miền Đông Nam bộ, đơn vị đã hai lần được giao nhiệm vụ “nhổ” chi khu quân sự Long Khốt của quân đội Sài Gòn trong hai chiến dịch: Tháng 6/1972, sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Lộc Ninh - Tây Ninh trong chiến dịch Nguyễn Huệ, được điều về giải phóng chi khu Long Khốt, nhằm phá vỡ tuyến ngăn chặn của quân đội Sài Gòn ở trung tâm Đồng Tháp Mười. Trận chiến năm 1972 diễn ra vô cùng ác liệt. Đại tá Trần Thế Tuyển, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 174 xúc động kể lại: “Năm ấy, cấp trên giao nhiệm vụ cho chúng tôi “nhổ bót, giành dân” ở khu vực “da báo”, chuẩn bị cho việc ký Hiệp định Paris buộc Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Tôi nhớ có đêm, tự tay tôi cùng anh em chôn cất hàng chục liệt sĩ đồng đội…”.Lần thứ hai, trong chiến dịch mùa khô 1973-1974, bằng sự quyết tâm phải “nhổ” cho bằng được chi khu quân sự Long Khốt. Theo lời kể của cựu chiến binh Trình Tự Kha, chiến sĩ Đại đội 17 pháo DKZ: “Chi khu Long Khốt do Tiểu đoàn 502 và lực lượng biệt động quân Quân đội Sài Gòn chốt giữ, có hệ thống công sự kiên cố, hỏa lực máy bay, pháo binh chi viện mạnh, nhưng ta đã tổ chức công tác trinh sát tỉ mỉ chi tiết, xây dựng phương án tác chiến kết hợp giữa lối đánh đặc công “mở cửa” và hiệp đồng binh chủng hợp thành.Đêm 28/4/1974, lực lượng đặc công bí mật luồn sâu mở 10 lớp hàng rào, dùng bộc phá liên kết đánh bung hai cửa mở ở hướng bắc chi khu và 2 lô cốt đầu cầu, đồng thời hỏa lực của sư đoàn bắn phá các mục tiêu trong Chi khu. Tiểu đoàn 502 Biệt động quân Sài Gòn yêu cầu không quân cùng pháo binh từ gò Măng Đa và Tiểu khu Mộc Hóachi viện. Sau 1 ngày chiến đấu giành nhau từng tấc đất, 18 giờ ngày 29/4/1974, ta đã chiếm hoàn toàn chi khu Long Khốt, mở cửa cho chủ lực Quân giải phóng tiến về đồng bằng sông Cửu Long”.Để có được chiến công ấy, riêng tại khu vực Long Khốt, Thái Trị, Măng Đa... hơn 1.110 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 5 hy sinh, riêng Trung đoàn 174 có gần 800 chiến sĩ hy sinh tại Long Khốt. Đặc biệt, đơn vị trinh sát H5 thuộc Trung đoàn 174, đã hy sinh hàng trăm đồng đội nằm dưới lòng sông Long Khốt, có người lấy được xác, có nhiều người mãi mãi nằm dưới sông sâu cả hơnnửa thế kỷ nay. Sau ngày đất nước thống nhất, tại đây thành lập Đồn biên phòng phiên hiệu 773 - Đồn Long Khốt, nhằm bảo vệ khu vực biên giới trọng yếu này. Cuộc chiến giữ đất, giữ chủ quyền lãnh thổ thêm một lần thử thách sự kiên cường dũng cảm của quân và dân Long Khốt. Năm 1978, Long Khốt ghi dấu chiến công 43 ngày đêm, từ ngày 14/1 - 27/2/1978, của lực lượng Công an nhân dân vũ trang tỉnh Long An và quân dân địa phương. Một lần nữa, hàng chục cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Long Khốt đã anh dũng hy sinh để bảo vệ được khu vực phía tây bắc tiền đồn Mộc Hóa, làm thất bại hoàn toàn âm mưu của Pol Pot muốn đánh chiếm bằng được Mộc Hóa và Đức Huệ để làm bàn đạp tấn công các khu vực khác, nhằm tạo áp lực mạnh trên toàn tuyến biên giới Tây Nam của ta và tiến thẳng Sài Gòn. cLINH KHÍ QUỐC GIA 69
Với những thành tích vẻ vang, ngày 20/12/1979, Đồn Biên phòng Long Khốt vinh dự được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.LONG KHỐT - NƠI NHỮNG LINH HỒN TRẤN BIÊNĐã thành thông lệ, từ năm 2008, cứ tới kỷ niệm ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5, người dân ở miền biên thùy Long Khốt (Vĩnh Hưng, Long An) cùng những người cựu chiến binh từng chiến đấu năm xưa ở chiến trường này, làm lễ thả hoa đăng tưởng niệm và tri ân những liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc trên dòng sông Long Khốt. Long Khốt còn có Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Liệt sĩ hy sinh ở Long Khốt. Đúng dịp kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lễ giỗ liệt sĩ, 19/5/2019, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã ra quyết định công nhận khu vực Đồn Long Khốt là Di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia.Năm nay, dấu mốc 50 năm kỷ niệm ngày thống nhất đất nước, đêm hoa đăng tri ân các liệt sĩ càng thêm ý nghĩa. Một niềm xúc động trào lên đến nghẹn vài nhịp thở khi chúng tôi vào viếng Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Liệt sĩ hy sinh ở Long Khốt, Đền nằm ngay khu vực Đồn Biên phòng. Ngoài trang thờ có tượng Bác trang trọng, thì điều làm mọi người phải lạc một nhịp thở, rưng rưng, nghẹn ngào, bỗng dưng bước nhẹ, thở nhẹ, khi chứng kiến kín các bức tường là những phiến đá granit đen khắc danh sách hơn 8.000 liệt sĩ hy sinh tại chiến trường Long Khốt, mà vẫn còn chưa hết. Mỗi dòng tên, ẩn sau đó là một chiến công, là một linh hồn chiến sĩ quyết tử “vị quốc vong thân”.Tôi đã rơi những giọt nước mắt dù cố gắng kìm nén, khi chứng kiến người cựu chiến binh là ông Nguyễn Mạnh Bình, cùng một nữ cựu chiến binh đồng đội lần dò tìm từng tên liệt sĩ ở bức tường đá granit ghi danh sách các liệt sĩ thuộc Quân khu 8 năm xưa của ông. Họ cũng vừa dò tìm, vừa chậm nước mắt, vừa thầm thì gọi tên đồng đội. Tôi cũng chứng kiến một nhóm cựu chiến binh từ Hà Nội vào cùng một số thân nhân gia đình liệt sĩ, họ vừa đi tìm đồng đội, vừa muốn được cảm nhận thực địa chiến trường xưa mà đồng đội - ông - cha - chồng - anh em trai họ đã chiến đấu và hy sinh.Đêm hoa đăng là một đêm đầy cảm xúc linh thiêng. Ngay từ buổi chiều, bầu trời vần vũ chuyền mây, trĩu nặng hơi nước, đã có lây rây những hạt mưa, đã có nhiều luồng gió mang hơi nước như muốn lật tung mái che khoảng sân trước Đền. Đại tá Trần Thế Tuyển ngước nhìn bầu trời, nói trong niềm xúc động: “Không mưa đâu, đây là các anh về xem hoa đăng, bắn pháo hoa mừng 50 năm hòa bình thống nhất đất nước”. Mà linh nghiệm thật, đêm đó dù gió rất nhiều, nhưng trời trong veo, những chiếc hoa đăng thả xuống dòng sông có lúc gió thổi chụm vào nhau hình như một con rồng, và khi pháo hoa bắn lên trời sắc màu rực rỡ, có một lúc cảm giác như hòa trong tiếng pháo hoa là giai điệu những hành khúc “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”, “Bài ca người lính”, “Hát mãi khúc quân hành”, “Vì nhân dân quên mình”, “Tiến bước dưới quân kỳ”…Thêm một lần thấm đẫm hai câu đối được viết trên hai cột chính, khắc trên chuông đồng trong Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Liệt sĩ hy sinh ở Long Khốt, nguyên gốc là hai câu thơ trong bài thơ của Đại tá Trần Thế Tuyển: “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hóa linh khí quốc gia”. Long Khốt, như một ngôi Đền thiêng tụ linh khí quốc gia từ những linh hồn liệt sĩ, như những thần nhân trấn biên bất tử. rcThả hoa đăng tưởng nhớ các liệt sĩ trên dòng sông Long Khốt70 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Ông ngoại từ Hà Tĩnh vào bộ đội rồi hy sinh ở chiến trường Bình Trị Thiên năm 1949, khi mẹ và dì tôi còn quá nhỏ. Bà ngoại cả đời chưa bước khỏi lũy tre làng, một nách hai con nên chỉ biết giấy báo tử ghi vậy chứ không biết làm sao đi tìm mộ ông. Bà ở vậy rau cháo nuôi hai người con gái. Năm 1968, bố cưới mẹ rồi về ở rể vì dì lấy chồng xa, cảnh nhà bà ngoại neo đơn.Chiến tranh bom đạn nên sống đã khó, huống là đi tìm mộ. Hòa bình rồi bố tôi mới đi tìm. Khi cả nhà đã chuyển vào Ninh Thuận, cứ mùa hè bố dành tiền về thăm quê và tìm hỏi mộ ông. Nhưng vô vọng, chưa có thông tin thì đã hết phép. Cho tận ngày bố tôi sắp hưu.Coi như là bó tay. Bố tôi về làng, thắp hương nhà thờ họ ngoại rồi ra quốc lộ đón xe vào Ninh Thuận. Tự an ủi ông đã nằm lại với vùng quê mới, dù lòng day dứt.Chưa đón được xe thì có ông già 80 tuổi, hình như thượng tá đại tá gì đó, hưu trí ở Hà Nội lâu lâu mới về làng, từ trên xe bước xuống. Nhận ra bố tôi, ông hỏi. Bố tôi kể về quê và hỏi thông tin đi tìm mộ bố vợ nhưng không tìm được. Đã bao lần, giờ coi như vô vọng. Chiến trường Bình Trị Thiên mênh mông qua 50 năm biết đâu tìm. Ông nói: “Trời ơi tau tưởng tìm được lâu rồi. Tau ở Hà Nội mỗi năm về có mấy ngày nên không biết. Mi đến Nghĩa trang Tráng Thiệp, Quảng Bình mà tìm”.Ông kể hôm đó, một ngày năm 1949, hành quân ngược chiều nhau tình cờ gặp ông ngoại tôi. Anh em cùng làng gặp giữa chiến trường nên hỏi han nhau rồi lại hành quân. Sáng hôm sau từ một địa phương gần đấy, ông hay tin ngoại tôi hy sinh trong trận đánh đồn Tráng Thiệp.Bố tôi không bắt xe vào Nam nữa. Anh rể con dì đưa xe chở cả nhà dì dượng và bố tôi vào Quảng Bình. Không ai biết Tráng Thiệp là xã nào. Mãi sau có người nói xã ấy giờ đã đổi tên thành xã Duy Ninh.Mộ ông nằm đó, được chôn cất sau trận đánh cùng những người du kích Quảng Bình rồi quy tập về nghĩa trang liệt sĩ của xã. 50 năm chưa khi nào ngớt hương khói... Nghĩa trang đẹp, nằm bên bờ sông Kiến Giang. Dòng nước trong veo từ Lệ Thủy xuôi về Đồng Hới rồi ra biển.Chiều nay tôi đến thăm ông, như bao lần trước. Nắng chiều nay rất đẹp! rNGUYỄN ĐỨC HIỂNCỦA TÔIÔng ngoạiTác giả (giữa) viếng mộ ông ngoại tại Nghĩa trang Liệt sĩ ở Quảng BìnhLINH KHÍ QUỐC GIA 71
Ngày 19/4/2025, UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức lễ khánh thành công trình Dự án tu bổ, tôn tạo một số hạng mục thuộc Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Đây là một trong 77 công trình, dự án trọng điểm cùng cả nước khởi công, khánh thành để chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025).Tiếng gọiBÙI PHAN THẢO (Bài, ảnh)TIẾNG GỌI GIỮA TRỜI THĂM THẲM, NHẮN NHỦ CHÚNG TÔI VỀ NHỮNG ĐIỀU THIÊNG LIÊNG, VỀ SỰ VĨNH HẰNG, VỀ LÒNG TIN, SỰ BIẾT ƠN VÀ NIỀM TỰ HÀO VỀ NHỮNG CON NGƯỜI CỦA MỘT THỜI…CĂN CỨ ĐẦU NÃO LÃNH ĐẠOCÁCH MẠNG MIỀN NAMTháng 3/1951, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất khóa II đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam. Bí thư Trung ương Cục miền Nam đầu tiên là đồng chí Lê Duẩn. Sau khi đồng chí Lê Duẩn ra miền Bắc, đồng chí Lê Đức Thọ được cử làm Bí thư; đồng chí Phạm Hùng làm Phó Bí thư. Tháng 10/1954, Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, lập lại Xứ ủy Nam bộ và các Khu ủy. Đến ngày 23/1/1961, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) quyết định tái thành lập Trung ương Cục miền Nam, chỉ định nhân sự của Trung ương Cục miền Nam gồm: Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm Bí thư; Võ Chí Công (Võ Toàn) và Phan Văn Đáng (Hai Văn) làm Các nhà văn TP.HCM tham quan giếng nước tại Khu di tích căn cứ Trung ương Cục miền NamGIỮA CAO XANH72 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Phó Bí thư; cùng các Ủy viên Phạm Văn Xô (Hai Xô), Phạm Thái Bường (Ba Bường), Võ Văn Kiệt, Trần Nam Trung (Trần Lương), Nguyễn Đôn.Tháng 10/1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanhvào Nam, làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam; đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Phó Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Tháng 7/1967, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất, đồng chí Phạm Hùng được cử giữ chức vụ Bí thư Trung ương Cục miền Nam; các đồng chí Nguyễn Văn Linh và Phan Văn Đáng, Hoàng Văn Thái làm Phó Bí thư...Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các cơ quan của Trung ương Cục phải di chuyển nhiều lần trong cánh rừng Tây Ninh, đóng thành từng cụm tại các điểm như: Lò Gò, Tà Nốt, Đồng Pan, Xa Mát, Cà Tum, Bổ Túc, Rùm Đuôn, Chàng Riệc... Từ tháng 2/1962, toàn bộ cơ quan Trung ương Cục quy tụ về khu căn cứ Bắc Tây Ninh. Cuối năm 1972, đầu năm 1973, Trung ương Cục miền Nam quay trở lại vị trí tại Chàng Riệc, Rùm Đuôn, nơi trở thành căn cứ cuối cùng cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam. NHỚ MÃI CHUYẾN VỀ NGUỒNChúng tôi cũng không bao giờ quên chuyến thực tế - về nguồn của Hội Nhà văn TP.HCM trải trong 4 ngày, từ ngày 14 đến 17/4/2021.Đến ngã ba cửa khẩu quốc tế Xa Mát, xe rẽ phải vào vùng căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Con đường ngày xưa đất đỏ nay đã được tráng nhựa, hai bên là rừng cây xanh thẫm, nhiều đoạn cây giao nhau ở phía trên, tỏa bóng xuống con đường. Nắng rọi qua cành lá, tiếng ve râm ran chào đón, 28 cây số đường rừng xe bon nhanh trong sự háo hức của cả đoàn. Hai bên là những khu di tích, nhà bia tưởng niệm. Kìa, Khu căn cứ An ninh Cục miền Nam, còn bên này là Khu di tích Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, và đây rồi, Khu căn cứ chính Trung ương Cục miền Nam.Khoảng sân nơi căn cứ Trung ương Cục cho thấy cơn mưa vừa đi qua chưa lâu. Nắng vẫn nắng chói trên đầu ở khu quảng trường, nhà tưởng niệm. Bốn phía là rừng xanh. Sau bữa cơm trưa, nghỉ lấy sức không lâu, cả đoàn tranh thủ đi tham quan Khu di tích căn cứ Trung ương Cục miền Nam, nay được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Rời nhà trưng bày, theo con đường nhỏ quanh co uốn lượn, chúng tôi tới thăm khu nhà lá đơn sơ ẩn mình trong những rừng cây rậm rạp, bao gồm: nhà hội họp tập thể, nhà ở của các cán bộ cao cấp, nhà ở của chiến sĩ và các ban, ngành. Tất cả căn nhà này đều được dựng bằng tre, gỗ, mái lợp lá trung quân (lá cây này rất dai, bền, khó bị mục bởi mưa nắng, đặc biệt rất khó cháy). Bên cạnh mỗi căn nhà là một hầm chữ A. Các hầm này được nối với nhau bởi hệ thống giao thông hào dài hàng chục cây số, bảo đảm an toàn cho các cán bộ của ta khi địch tấn công.Tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam, trong kháng chiến chống Mỹ, yêu cầu bảo mật là cao nhất. Với khẩu hiệu “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”, căn cứ luôn giữ được tính bí mật tuyệt đối. Không tiếng gà gáy, không tiếng khóc trẻ em, không lọt ánh sáng đèn ban đêm... là những hiệu lệnh nghiêm ngặt của căn cứ. Tại đây, các thế hệ sau vô cùng thán phục trí tuệ của những người đi trước. Thời đó, hàng rào bảo vệ căn cứ được tạo thành hai lớp xen kẽ. Lớp thứ nhất, gồm những thân cây vạt nhọn (thân cây có đường kính từ 20 cm trở lên, dài khoảng 4m) cắm chi chít ở những trảng trống, bưng, bàu… để chống máy bay địch chở quân đổ bộ). Lớp thứ hai, gồm nhiều tầng lớp bịt bùng những thân cây còn nguyên cành lá bị cưa đổ vào thân cây khá sâu, đổ xuống song chưa đứt hẳn, cây vẫn tiếp tục sống. Các hàng rào này che chắn rất tốt cho căn cứ, từ máy bay nhìn xuống, toàn bộ cánh rừng vẫn xanh tươi.NHỮNG ĐIỀU THIÊNG LIÊNG VÀ SỰ VĨNH HẰNGTrong nắng dội, trong gió xào xạc, chúng tôi nghe như giữa cao xanh có tiếng vọng về, đâu đây thấp thoáng bóng dáng và bước chân người. Ngỡ tiếng gọi khẽ khàng đâu đó dội lại, giữa trời thăm thẳm, nhắn nhủ chúng tôi về những điều thiêng liêng, còn và mất, về sự vĩnh hằng của những giá trị tinh thần chuyển hóa thành sức mạnh vật chất, về lòng tin, sự biết ơn và niềm tự hào về những con người bình thường mà rất đỗi phi thường…Câu chuyện của Cao Hoài Phương, cán bộ Ban quản lý Khu di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam với các nhà văn TP.HCM bên con cLINH KHÍ QUỐC GIA 73
suối Chò, trong buổi chiều nhập nhoạng, gây ấn tượng mạnh với các nhà văn. Nơi đây là căn cứ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhiều năm sau ngày đất nước thống nhất, cây rừng phủ kín, việc tìm lại để phục dựng khu căn cứ đến năm 2003 mới hoàn tất. Muốn tìm lại được dấu tích xưa phải tìm cho được giếng nước, bởi từ đây tỏa đi các giao thông hào, các căn lán của các vị lãnh đạo làm việc, các phòng họp, phòng chức năng của căn cứ. Trong trí nhớ của các cán bộ thì giếng nước nằm không xa con suối Chò. Họ vạch rừng, ngược ngọn nguồn con suối để tìm lại và đã tìm ra. Chiều xuống, bên con suối đó, chúng tôi lắng nghe trong gió tiếng cười trong veo của các cô các chị ngày xưa, trở về sau một ngày gùi gạo hay học nghị quyết, ra suối tắm mát. Một góc rừng sáng bừng tiếng nói, giọng cười của những người con gái tràn đầy sức sống thanh xuân. Và trong đó, đã có người mãi mãi nằm lại với những cánh rừng. Ở đó, có tuổi thanh xuân của cô nữ sinh Sài Gòn Huỳnh Lan Khanh, con gái của Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam - kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Từ giã phồn hoa, cô nữ sinh vào rừng tham gia kháng chiến, chịu đựng gian khó như bao người khác, không chút nề hà, ỷ lại về xuất thân, gia cảnh. Bị biệt kích Mỹ bắt trong một trận càn, đưa lên máy bay trực thăng, cô đã chọn cách hy sinh anh dũng bằng cú nhảy từ máy bay xuống. Rừng Tây Ninh đón thi thể cô, đất Tây Ninh đón cô nằm lại. Năm tháng đi qua, rừng xanh thẳm kể mãi câu chuyện về người con gái anh hùng bằng tiếng thầm thì của suối, tiếng rì rào lá cây trong những chiều hôm. Máu đổ xuống cho đất này xanh cây trái, cho hòa bình mãi mãi trên nước Việt. Đêm tháng Tư. Lửa bập bùng. Chúng tôi đón ông Bùi Công Hoàng, nguyên chiến sĩ bảo vệ lãnh đạo căn cứ Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1966, nay đang sống ở Cà Tum, cũng trong địa bàn huyện Tân Biên, về căn cứ xưa. Câu chuyện của ông Hoàng về hai đồng đội hy sinh trong một trận càn, ông phải bằng mọi cách đưa thi thể về căn cứ. Tiếng cú kêu ám hiệu để nhận ra nhau và câu trả lời của ông với đại đội trưởng “Hy sinh hết rồi anh ơi, chỉ còn em”, nghe đau nhói. Những trận chiến, pháo kích của Mỹ từ sân bay Thiện Ngôn (nay là văn phòng Ban Quản lý Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát) dội về, cùng những mất mát đau thương vì rừng thiêng nước độc, bệnh tật trong lúc thiếu thốn thuốc men… Tất cả vẫn bền lòng vững chí để đi đến thắng lợi cuối cùng. rCác nhà văn TP.HCM tham quan nhà trưng bày tại Khu di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Namc74 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Chúng con DUY HIẾNVỀ VỚI MẸ YÊU THƯƠNGTháng 3, sáng sớm gió se lạnh, nhưng trong căn nhà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Ngừng (100 tuổi) ở khu phố 10, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước vẫn tràn đầy không khí ấm áp khi những đứa con mặc áo lính một thời bám đất giữ làng trên mặt trận Bình Long về thăm mẹ.Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Ngừng ở với người con trai thứ 11 là Võ Văn Út. Mẹ có 12 người con, 9 trai, 3 gái. Con trai đầu của mẹ tên Võ Văn Thơ, sinh năm 1945, trước đây làm tổ trưởng tổ công trường xã và hy sinh năm 1971. Người con trai thứ của mẹ là Võ Văn Mộng, sinh năm 1947, hy sinh năm 1969. Trước đây anh Mộng là chiến sĩ bảo vệ cơ quan căn cứ Củ Chi. Liệt sĩ Võ Văn Thơ được cấp trên tặng 2 giấy khen về thành tích bảo vệ căn cứ và làm công tác tổ trưởng công trường. Liệt sĩ Võ Văn Mộng được Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tặng 2 bằng khen vì có thành tích xuất sắc bảo vệ cơ quan cách mạng Củ Chi. Chồng của mẹ Ngừng là ông Võ Văn Sắn đã được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. “Vừa 21 tuổi là má đã sanh thằng Thơ. Hai thằng con trai má giống nhau, tính khí như cha nó thích đi đánh giặc. Mới 15 tuổi là đã trốn nhà đi theo cách mạng. Lúc đầu má không biết chúng đi đâu, làm gì? Mãi tới năm 1969, má mới hay tin thằng Võ Văn Mộng hy sinh. Chưa cầm được nước mắt thì đến năm 1971 tiếp tục thằng anh nó. Nhìn trời đất ngày nào má cũng thấy đầy đặc máy bay trực thăng và xe thiết giáp của chúng. Hai đứa con trai má sợ có mệnh hệ gì. Đêm đến má không chợp mắt được, vì nhớ và lo cho chúng nó. Đến năm 1969 thì thằng Ba, nó hy sinh trước. Nó làm giao liên. Nó bị thương mảnh mìn găm vào bả vai trái, sau bị nhiễm trùng… Nó hy sinh khi đó mới 22 tuổi. Đến năm 1971, thằng anh Hai nó lại hy sinh tiếp…”. Má Ngừng bồi hồi nhớ lại.Chúng tôi không hỏi mẹ nhiều thêm nữa chỉ sợ xoáy vào nỗi đau của mẹ. Hai người em ruột của mẹ Ngừng một trai một gái cũng hy sinh trên mặt trận Củ Chi. Chúng tôi thấu hiểu nỗi đau sâu thẳm của mẹ. Cựu chiến binh Lê Thị Trọng, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh khu phố 3 và cựu chiến binh Nguyễn Đăng Lới, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh khu phố 10, phường Hưng Long đưa mẹ Ngừng vào giường nghỉ. Mẹ không vào nghỉ mà vẫn ngồi “tiếp chuyện” với chúng tôi. Mẹ nói: “Các con về thăm má là má thấy vui và khỏe trong người hơn nhiều”. Chị Trần Thị Hoa Cúc, Trưởng khu phố 10, phường Hưng Long cho biết, hằng năm, mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Ngừng nhận được sự quan tâm đặc biệt của lãnh đạo tỉnh, trung ương và địa phương. Cũng như các cơ quan đơn vị, trong đó có lực lượng vũ trang, công an, các cá nhân, doanh nghiệp trong tỉnh đến thăm mẹ, nhất là vào dịp lễ, Tết, riêng trong tháng 3 này đã có mấy đoàn đến thăm mẹ. Chúng tôi dù bận công việc cỡ nào cũng sắp xếp đến với mẹ cho mẹ khỏe, mẹ vui mỗi ngày… Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, ở tỉnh Bình Phước và cả nước nói chung còn nhiều bà mẹ có chồng, con hy sinh vì Tổ quốc. Thế hệ con cháu hôm nay và mai sau luôn tạc nhớ ghi ơn những bà mẹ đã âm thầm chịu đựng hy sinh khi người thân mình vĩnh viễn nằm xuống trong cuộc chiến tranh giữ nước. Mẹ Việt Nam anh hùng bình dị, chiến thắng và bất tử mãi mãi trong lòng chúng con. rCác cựu chiến binh về thăm mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Ngừng ở khu phố 10, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình PhướcLINH KHÍ QUỐC GIA 75
Chú Lê Hiệp (Lưu Phước Cương) là em út của ba tôi. Từ rất sớm, ba tôi đã rời gia đình cố nông nghèo khó của mình, rời quê hương Điện Bàn, Quảng Nam đi tìm kế sinh nhai. Năm 1944, ba tôi gia nhập phong trào Việt Minh do ông Lê Đức Anh tổ chức trong lực lượng công nhân ở sở cao su Quản Lợi. Rồi ông trở thành cán bộ Quân đội và công tác liên tục trong quân ngũ cho đến tuổi hưu. Chú Út khi lớn lên, đã tìm theo anh mình để được tham gia kháng chiến. Năm 1964, ở tuổi 20, chú nhập ngũ vào Tỉnh đội Phước Thành. Không bằng lòng với vị trí ở phía sau, chú cương quyết xin ra đơn vị chiến đấu. Chú được bổ sung vào C303 của Tỉnh đội, rồi sau đó được chuyển đến Đại đội 1 - Tiểu đoàn 800 thuộc Trung đoàn Đồng Nai. Một lần, trên đường hành quân, chị Kim Hà gặp được chú của mình. Khi đó, đứa cháu gái bằng tuổi chú đang được cáng về bệnh viện tuyến trên để điều trị bệnh, còn người chú thì cùng đơn vị hành quân đi đánh trận. Chú cháu mừng nhau, tranh thủ hàn huyên trong ít phút dừng chân ngắn ngủi. Thấy cháu quá ốm yếu, chú còn chạy vội đi đâu đó rồi mang về cho cháu chục trứng để đem theo bồi dưỡng. Đó là lần cuối cùng chú cháu được gặp nhau! Ngày 21/7/1967, đơn vị chú phục kích chặn đánh tiểu đoàn lính Úc trên đường 20, thuộc địa phận xã Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Sau trận đánh, tổ 3 người của chú có nhiệm vụ ở lại, đánh lạc hướng quân địch cho đơn vị rút lui an toàn. Nhưng rồi tổ bị bao vây, cuộc chiến không cân sức đã diễn ra…Trận chiến kết thúc, đơn vị quay lại tìm thì được người dân kể lại rằng có một chú bộ đội bị CỦA CHÚNG TÔIChú HiệpPHƯƠNG MINHthương gãy cả 2 chân mà luôn miệng chửi bọn giặc bằng giọng nói rất khó nghe (giọng Quảng Nam). Chúng buộc 2 chân chú bộ đội vào chiếc xe Zep rồi kéo lê trên đường cho đến chết! Người bộ đội đó chính là chú Hiệp của chúng tôi. Thi hài chú sau đó được người dân nơi đây chôn cất.Từ khi nghe tin em mình hy sinh, ba tôi không ngừng tìm kiếm thông tin về mộ phần của chú nhưng đều không có kết quả! Cho đến năm 2008, tình cờ có nhà ngoại cảm (NNC) Hồ Văn Dủ, bạn của anh chị tôi đến chơi. Ba tôi kể chuyện muốn tìm hài cốt thất lạc của chú Hiệp. Tức thì, ngay trước bàn thờ của gia đình, sau khi xem qua hồ sơ lý lịch của chú Hiệp, NNC vẽ ngay ra sơ đồ ngôi mộ ở Nghĩa trang Phương Lâm với những chú thích cụ thể về vị trí và 3 đặc điểm nhận dạng như: ngôi mộ có 2 vết nứt đối xứng nhau ở 2 bên mộ bia; phía sau bên trái mộ có 1 vết lõm; dưới nền đất gần vết lõm có bụi bông nhỏ màu tím, và cuối cùng là có sự xuất hiện của con bướm. Di ảnh liệt sĩ Lưu Phước CươngNgười thân bên mộ liệt sĩ Lưu Phước Cương76 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Dù đã nghe nhiều về chuyện đi tìm mộ theo chỉ dẫn của các NNC, nhưng chúng tôi luôn bán tin bán nghi. Nay đến việc của nhà mình, chúng tôi vẫn giữ tâm trạng chừng mực, nửa hoài nghi, nửa hy vọng. Rồi anh chị em chúng tôi lên đường. Tuy nhiên, tại khu vực này không có Nghĩa trang Phương Lâm, mà là Nghĩa trang Định Quán (sai sót này làm tăng sự hoài nghi trong chúng tôi). Nhưng rồi theo sơ đồ chỉ dẫn, chúng tôi không quá khó để tìm ra ngôi mộ giữa rất nhiều ngôi mộ chưa có tên, với những đặc điểm hoàn toàn trùng khớp. Và việc cuối cùng để xác nhận sự chính xác đó là đặt quả trứng lên chiếc đũa tre cắm đứng trên phần mộ. (Đây là việc gia đình nào đi tìm mộ theo chỉ dẫn của NNC đều thực hiện. Nếu quả trứng nằm yên trên đầu chiếc đũa, có nghĩa là đã tìm đúng ngôi mộ). Anh em chúng tôi lần lượt đặt quả trứng lên chiếc đũa, nhưng đều không được. Chị Kim Hà sau lần thứ hai đặt quả trứng với lời khấn: “Nếu đúng đây là mộ của chú, xin chú hãy vịn cho quả trứng được nằm yên trên chiếc đũa, để cho bọn cháu biết”. Sau lời khấn, chị cảm giác quả trứng như bị hút dính trên chiếc đũa (cho đến khi chúng tôi ra về vẫn còn như thế). Chúng tôi vỡ oà niềm vui, rồi không ngăn được nước mắt. Cảm xúc vui mừng như được đoàn tụ và nỗi tiếc thương người chú thân yêu của mình hy sinh khi còn quá trẻ cứ trào dâng! Sau đó, ba tôi đã làm các thủ tục cần thiết xin xác nhận tên cho liệt sĩ. May mắn là việc này đã được các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Hôm nay vợ chồng tôi đến thăm mộ chú. Thật bất ngờ với những đổi thay ở đây. Nghĩa trang không lớn nhưng rất khang trang. Những hàng cây kiểng xanh tươi. Tất cả những ngôi mộ xi măng đều đã được ốp đá cẩm thạch màu đen xám. Một chiếc đèn năng lượng, một bình bông sen tươi màu được đặt trước mỗi ngôi mộ, làm cho cảnh quan bớt vẻ thâm trầm. Vẫn còn nhiều ngôi mộ chưa có thông tin ở đây, cũng như ở các nghĩa trang trên khắp cả nước. Đã 50 năm đất nước hòa bình, những người cha, người mẹ Liệt sĩ chờ con mòn mỏi không thấy về, có lẽ hầu hết đã chọn cách đoàn tụ với con mình nơi chín suối. Còn lại vợ, con, người thân và đồng đội của họ thì vẫn miệt mài, đau đáu đi tìm… rBao nhiêu năm đã trôi quaMà con vẫn ở nơi xa không vềMẹ già mòn mỏi chốn quêNhớ con, tựa cửa não nề đợi conMẹ ơi, xin mẹ đừng buồnQuanh con, đồng đội vẫn luôn quây quần...Ngày con đi, tuổi thanh xuânYêu đương, hò hẹn một lần cũng chưaVẫn chờ tấm bánh mẹ muaVẫn ngồi ngóng mẹ sớm trưa đi về...Từ khi cất bước xa quêĐường ra mặt trận đâu nề hiểm nguyĐèo cao, vực thẳm sá chiTrường Sơn vạn dặm, chân đi đá mòn.Chiến trường bão đạn, mưa bomNgày về với mẹ đâu còn, mẹ ơi…Chúng con từ khắp mọi nơiVề đây, gắn bó đời đời bên nhau...Con bây giờ chẳng buồn đâuAnh em, đồng đội cùng nhau sum vầy...Con giờ là gió, là mâyLà cây, là lá, hương bay giữa trờiDẫu cho đi khắp muôn nơiVẫn luôn nhớ mẹ cả đời chờ mongDẫu cho cách trở núi sôngBóng hình của mẹ vẫn không phai mờMãi con vẫn đứa trẻ thơĐược mẹ ôm ấp, vỗ về sớm hômMẹ ơi, xin mẹ đừng buồnNhớ con, mẹ cứ gọi luôn, con về...Xin mẹ đừng buồnĐỖ QUÝ DOÃN
ĐỌC BẢO TRÂN“ Một thời để nhớ”CỦA XUÂN HÒANgay dưới chân núi Thiên Thai là đền thờ Lưỡng quốc trạng nguyên Lê Văn Thịnh và vườn vải “Lệ chi viên” với bao nỗi oan trái đầm nước mắt. Sinh ra và lớn lên từ vùng quê cổ tích trong một gia đình gia giáo giàu truyền thống yêu nước, Xuân Hòa đã sớm bộc lộ “cá tính” thẳng thắn, trung thực, không thế lực nào có thể làm ông khuất phục. Ấy là chuyện nhập ngũ vào chiến trường của ông và em trai khi nước nhà đang trong cơn nguy biến; bên cạnh “quân tử” trượng phu là những “tiểu nhân” thấp hèn. Chàng thanh niên vùng quê cổ tích ấy nghĩ: “Thân trai da ngựa bọc thây thì có xá gì! Có bao người viết đơn tình nguyện vào Nam chiến đấu”. Nghĩ thế và làm thế, đang làm cán bộ chuyên trách của huyện, Xuân Hòa tình nguyện nhập ngũ. Và chính thế, ông có mặt “Bên bờ sông La” và “Vượt cổng trời” cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào chiến trường Nam bộ. Tác giả Xuân Hòa dụng công nhớ lại và suy ngẫm về chiến trường Tập hồi ký chưa đầy 200 trang (khổ 14x20,5cm) của nhà báo - nhà thơ Xuân Hòa mang tên “Một thời để nhớ”(*) ra mắt bạn đọc đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày Miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước. Đúng như tên tập sách, đó là “một thời để nhớ” không chỉ đối với tác giả mà còn đối với những ai đã có mặt trong những thời khắc lịch sử của cuộc kháng chiến thần thánh đánh thù trong, giặc ngoài giải phóng miền Nam, thu giang sơn về một dải. Gọi là hồi ký nhưng tác giả tập sách - nhà báo Xuân Hòa không chỉ kể về mình mà ông dành phần lớn nói về đồng đội và những tháng năm cam go, khốc liệt đã theo sát ông trong quãng đời lính chiến. Tập sách chia thành 5 chương, ông dành 3 chương với dung lượng khiêm tốn để nói về mình. Ấy là “Làng quê” bên tả ngạn sông Đuống - vùng đất sử thi và huyền thoại: có lăng mộ Kinh Dương Vương - thủy tổ nước Việt. Cách đó không xa là Đền Đô, nơi thờ 9 vị vua triều Lý. Các đơn vị bộ binh và tăng thiết giáp của QĐNDVN tiến vào cửa ngõ Sài Gòn ngày 30/4/1975Ảnh minh họa - Nguồn: thuviennguyenvanhuong.vn78 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
mà ông đã trải qua. Đó là những câu chuyện về “Vùng đất lịch sử” với những đất và người: sông Hàm Luông, Mỏ Cày Bắc, căn cứ I4... Và những đồng đội: Người nữ giao liên miền Nam; Sống mãi tên anh; Tư lệnh Trần Hải Phụng; Thu Bà Điểm…Mỗi vùng đất, con người trong “Một thời để nhớ” đều có kỷ niệm sâu sắc, thấm đẫm tình đồng đội, quân dân cá nước. Con người là sản phẩm xã hội. Xuân Hòa dành nhiều tâm huyết, nhiều trang để nói về “Vào trận mới”. Trận mới đối với ông là giai đoạn sau ngày 30/4/1975 khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Dưới ngòi bút của Xuân Hòa, cuộc chiến đấu mới, kẻ thù mới thôi thúc ông và đồng đội “dấn thân” thêm một lần nữa. Lần này ông không trực tiếp chiến đấu với đồng đội I4 (Khu Sài Gòn - Gia Định) mà làm phóng viên chiến trường. Là phóng viên báo Quân khu 7, Xuân Hòa là một trong những phóng viên đầu tiên có mặt tại chiến trường khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Ông dành nhiều trang với tư liệu ngồn ngột kể về những tháng ngày theo dấu chân bộ đội tình nguyện Việt Nam trên đất nước Chùa Tháp. Những vùng đất: Xa Mát, Thiện Ngôn, Sanun, Kroche, Ko Kong… với những người lính của Trung đoàn 174, của Sư đoàn 310 như: Chính trị viên tiểu đoàn Kim Văn Bút, xạ thủ Nguyễn Đức Hùng, chiến sĩ Lê Văn Hải… mỗi người một nét giúp ông dệt nên bức tranh về người lính tình nguyện Việt Nam - đội quân nhà Phật ở Campuchia. Sự trải nghiệm ấy là nguồn cảm hứng để ông viết các tác phẩm lan tỏa một thời trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình như: Phía Tây sông Chi Kha (Ký); Nơi em gửi lại khoảng trời (thơ)...Làm phóng viên chiến trường nhiều năm, Xuân Hòa có ấn tượng sâu sắc với những người đồng nghiệp. Đó là thế hệ nhà báo đàn anh như: Vũ Linh, Phạm Đình Trọng, Trần Ngọc Thị... (báo QĐND); Mai Bá Thiện, Minh Khoa, Đỗ Kết… (báo Quân khu 7)... Câu chuyện bữa ăn sáng Phở Hòa tiễn 2 phóng viên lên mặt trận của anh Mai Bá Thiện (phụ trách báo Quân khu 7) được tác giả kể lại thấm đẫm tình anh em, đồng đội. Xuân Hòa dành nhiều tình cảm cho các đồng đội, đồng nghiệp sát cánh với mình. Đó là Trần Thế Tuyển, Vũ Xiêm, Lê Hanh, Phạm Văn Mấy, Mai Xuân Thọ, Phạm Sĩ Sáu, Nguyễn Trường.... Mỗi câu chuyện là lát cắt vui buồn cuộc sống của tác giả một thời làm phóng viên chiến trường - nhà báo quân đội. Ký ức và hiện tại đan xen là nguồn cảm hứng vô tận để nhà thơ Xuân Hòa sáng tác. Ở tuổi bát tuần, chàng trai vùng đất cổ tích xưa vẫn tràn dâng nhiệt huyết. Ông vừa tổ chức kỷ niệm 25 năm làm Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ và Hát quan họ Kinh Bắc tại TP.HCM. Ông vẫn theo sát hoạt động của Ban Liên lạc Truyền thống báo Quân Giải phóng - Quân khu 7. Và đặc biệt, các tác phẩm thơ văn của ông vẫn xuất hiện đều đặn tại các nhà xuất bản, báo chí và truyền hình.Như con tằm nhả tơ, Xuân Hòa vẫn miệt mài từng đêm trên trang viết.Chúc mừng tác phẩm mới của người anh, người đồng đội, đồng nghiệp - nhà thơ nhà báo Xuân Hòa. rTP. Hồ Chí Minh, tháng 5/2025(*) NXB Hội Nhà văn - 2025. LINH KHÍ QUỐC GIA 79
YẾN LINHSức sống kỳ diệu của những đứa con tinh thần của NVH không chỉ ở tiêu chí các ca khúc “đi cùng năm tháng” mà còn ở sự lan tỏa về “một thời để nhớ” trong ký ức của nhiều thế hệ. Sách giảng dạy chuyên ngành âm nhạc và cả sách giáo khoa đã chọn các tác phẩm của NVH để giáo dục kiến thức nền tảng.Không chỉ thế, NVH còn sáng tác tình khúc. Những ca khúc về tình yêu lứa đôi của NVH không chiếm đa số trong gia tài âm nhạc của anh nhưng đều có nét biểu cảm riêng gây ấn tượng sâu sắc. Đó là album 11 ca khúc “Chiều nhớ em”; “Heo may hò hẹn”…Nhạc sĩ NVH có bàn chân ngàn dặm không biết mỏi, có trái tim trào dâng cảm xúc không cạn và có bộ óc tỉnh táo, nhạy cảm không ngừng sáng tạo.HAIĐối với đề tài Bảo vệ Tổ quốc nói chung và tri ân những người có công với đất nước nói riêng, NS NVH luôn dành vị trí trang trọng trong tình cảm và sáng tác của anh. Những chuyến đi về nơi chiến trường xưa, biên giới hải đảo hay đơn vị bộ đội, TNXP đều tạo nguồn cảm hứng sáng tạo vô bờ của nhạc sĩ. Năm 2012, NVH ra thăm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 9 ngày lênh đênh trên đại dương, trải qua biết bao sóng gió, “mục sở thị” cuộc sống của người lính biển, mạch nguồn cảm xúc như “dòng sông cuộn chảy” trong tâm hồn người nhạc sĩ tài hoa. KỲ DIỆUSức sốngNhạc sĩ Nguyễn Văn HiênCùng sinh hoạt tại Nhà Văn hóa Thanh niên TP. Hồ Chí Minh (số 4 Duy Tân, nay là Phạm Ngọc Thạch) khi thành phố Sài Gòn vừa giải phóng (30/4/1975), đối với tôi nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên là một người lao động nghệ thuật phi thường và các đứa con tinh thần của anh có sức sống kỳ diệu.MỘTSức lao động nghệ thuật phi thường không chỉ bởi gia tài tác phẩm âm nhạc đồ sộ của anh (hơn 2.000 ca khúc) mà còn ở chỗ, dù có thăng trầm bao nhiêu kể cả “nhân tình thế thái” và sức khỏe, không cản nổi bước anh đi. Dường như thời gian, không gian chẳng là gì cả với Nguyễn Văn Hiên. Khi thành phố mới giải phóng, Nguyễn Văn Hiên truyền lửa cho thế hệ trẻ theo cách của anh. Nguyễn Văn Hiên vào trường học, cả lớp mẫu giáo “lắng nghe, thấu hiểu đối tượng để cho ra đời “Em đi học nhạc”, “Hổng dám đâu”…Trước làn sóng nhạc ngoại, để giữ bản sắc văn hóa dân tộc, Nguyễn Văn Hiên (NVH) tham gia nhóm nhạc “Những người bạn” tập hợp những nhạc sĩ tên tuổi như: Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, Tôn Thất Lập, Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thiện, Từ Huy, kịp thời cho ra đời những ca khúc mang âm hưởng vừa hiện đại vừa truyền thống. Ca khúc “Xa vắng” của NVH được giới trẻ yêu thích không chỉ do nhạc điệu mà còn ở ca từ gần gũi với người Việt. 80 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Kết thúc chuyến đi, NVH cho ra đời hơn 20 ca khúc, ca khúc nào cũng có nét riêng. Đó không chỉ là bức tranh toàn cảnh về cuộc sống và tình cảm của người lính đảo mà còn là sự tri ân, ngưỡng mộ và sự sẻ chia của nhân dân đối với những người con ưu tú đang trụ bám nơi “đầu sóng ngọn gió” canh giữ, bảo vệ sự bình yên và trọn vẹn biển trời thiêng liêng của Tổ quốc.Đồng hành cùng Hội HTGĐLS TP.HCM gần 5 năm nay, mỗi chuyến đi NS NVH đều có ca khúc với nét riêng không lẫn vào đâu được. Cùng các chiến sĩ thiện nguyện trở về Chiến khu D (Đồng Nai) NVH có ca khúc “Bài ca thiện nguyện”, “Có một thời như thế” (phổ thơ TTT). Trong đó ca khúc “Bài ca thiện nguyện” được nhiều tổ chức hội (Hội HTGĐLS) chọn làm ca khúc “hội ca”. Thăm Sư đoàn 5 đóng quân trên đất Tây Ninh, chứng kiến những chiến sĩ áo xanh tại TP.HCM “chống dịch cứu dân” trong đại dịch Covid-19, NVH có chùm ca khúc “Hành khúc Sư đoàn 5” “Thân thương lính Cụ Hồ”… Đặc biệt, nhiều lần trở lại Long Khốt, chiến trường xưa của Sư đoàn 5, trước bia đá ghi danh hơn 7.000 liệt sĩ, NS NVH đã sáng tác nhiều ca khúc “chạm tới trái tim”. Anh xuất bản riêng một tập về Long Khốt, trong đó có ca khúc được nhiều ca sĩ và đoàn văn công, nghệ thuật sử dụng như: Linh thiêng Long Khốt, Long Khốt nồng nàn men say (phổ thơ TTT)…Tây Nguyên là mảnh đất giàu cảm hứng sáng tạo với NS NVH. Anh có nhiều tác phẩm đi vào lòng người như: Tháng Tư Tây Nguyên (phổ thơ TTT); Tây Nguyên ơi (phổ thơ ĐH)…Sự kết hợp hài hòa ấy đã tạo nên một nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên tài hoa, kỳ diệu, cháy hết mình với người, với đời. rTP.HCM, 4/2025 Nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên (trái) và nhà thơ Trần Thế TuyểnLINH KHÍ QUỐC GIA 81
ĐƯỢC XÁC LẬPKỶ LỤC VIỆT NAMKIM SÁNGĐÔI CÂU ĐỐI VỀ LIỆT SĨCỦA NHÀ BÁO - NHÀ THƠ TRẦN THẾ TUYỂNĐại tá Trần Thế Tuyển (giữa) nhận bằng xác nhận Kỷ lục Việt Nam82 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Trong không khí chào mừng kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2025), Viện Kỷ lục Việt Nam đã tổ chức trao bằng xác lập kỷ lục Việt Nam đối với đôi câu đối của Đại tá, nhà báo - nhà thơ Trần Thế Tuyển.Theo đó, qua quá trình thẩm định hồ sơ độc lập, khách quan, Văn phòng Viện Kỷ lục Việt Nam xét thấy đủ cơ sở để thông qua đề cử Tôn vinh giá trị nội dung Kỷ lục Việt Nam đến Đại tá, nhà báo - nhà thơ Trần Thế Tuyển, người sáng tác đôi câu đối “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc - Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia”, trích từ tác phẩm “Phía sau mặt trời” được khắc ghi tại các Đền thờ Anh hùng liệt sĩ, Bảo tàng và các điểm văn hóa tâm linh trên cả nước nhiều nhất, với gần 100 điểm, từ năm 2008 - 2025. Căn cứ các giá trị nội dung và những ý nghĩa lan tỏa đặc biệt của Kỷ lục này, Hội đồng Tổ chức Kỷ lục Việt Nam - Viện Kỷ lục Việt Nam quyết định miễn phí chi phí xác lập và truyền thông trên hệ thống Kỷ lục Việt Nam.Bằng tôn vinh giá trị nội dung Kỷ lục Việt Nam được trao tặng cho tác giả Trần Thế Tuyển tại Đại hội đại biểu Hội Kỷ lục gia Việt Nam - nhiệm kỳ III diễn ra ngày 21/6/2025 tại TP.HCM. Đây cũng là món quà ý nghĩa dành tặng Đại tá, nhà báo Trần Thế Tuyển nhân 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.Được biết Hội đồng xét tôn vinh gồm những người nổi tiếng trên mọi mặt đời sống xã hội như: TS Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Bộ TTTT; TS Thang Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ; TS Trần Chiến Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTT; ông Hồng Sơn, nguyên Phó ban TGTW, GS-VS Hoàng Quang Thuận, Đại sứ Ngô Văn Xuân...Năm 2009, bốn câu thơ: “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia/ Ngàn năm mãi mãi ngân nga/ Tiếng chuông Long Khốt gấm hoa dâng đời” được khắc lần đầu trên quả chuông đặt tại Đền thờ liệt sĩ Long Khốt (Long An). Như một cơ duyên, hai câu thơ đầu “Thân ngã xuống thành đất đai Tổ quốc/ Hồn bay lên hóa linh khí Quốc gia” đã trở thành đôi câu đối được nhiều đơn vị, địa phương trong cả nước chọn khắc trên hoành phi, chuông đồng tại nhiều đền thờ, bia tưởng niệm liệt sĩ như: Đền thờ liệt sĩ tại chiến trường Điện Biên Phủ (Điện Biên), Bến Tắt (Quảng Trị), Long Đại (Quảng Bình), Ngọc Hồi (Kon Tum), Phú Quốc (Kiên Giang), Đền thờ liệt sĩ tỉnh Phú Yên, Đền thờ Bác Hồ và các anh hùng liệt sĩ Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3), Đền thờ anh hùng liệt sĩ Trung đoàn 1- U Minh (Cần Thơ), Bia tưởng niệm liệt sĩ Đà Lạt (Lâm Đồng)...Đại tá, nhà báo Trần Thế Tuyển hiện đang làm Chủ tịch Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP.HCM. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; là tác giả của 20 cuốn sách bao gồm: Truyện ngắn, bút ký, thơ, trường ca và thơ phổ nhạc... qLINH KHÍ QUỐC GIA 83
Nặng lòngVỚI ĐỒNG ĐỘI LIỆT SĨÔng Đinh Quang Hùng (sinh năm 1952, quê Hải Phòng, hiện ngụ tại Thủ Đức, TP.HCM) là cựu chiến binh thời đánhMỹ. Ở tuổi 73, một niềm canh cánh trong lòng ông suốt hơn 50 năm qua là tìm về quê hai đồng đội đã hy sinh năm 1974.Ông Hùng hồi tưởng lại. Chỉ ít ngày khai hỏa chiến dịch “Mùa hè đỏ lửa” tháng 4.1972 ở Bình Long, quân ta nhanh chóng chiếm được thị trấn Lộc Ninh, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn. Tuy nhiên khi tấn công đánh chiếm thị xã An Lộc - thủ phủ tỉnh Bình Long hồi ấy, chúng ta gặp quyết tâm “tử thủ” của địch. Để tránh thương vong, quân ta chuyển sang chiến thuật vây lấn, nhằm vô hiệu hóa lực lượng địch ở đây, không cho chúng nống ra tái chiếm vùng giải phóng Lộc Ninh và các vùng lân cận.Giữa năm 1974, đơn vị ông Hùng - đại đội 5, tiểu đoàn 2A, sư đoàn 7 được điều động về tham gia vây lấn ở mặt trận bắc An Lộc. Tuy không còn ác liệt nhưng tình trạng giằng co từng tấc đất vẫn hết sức căng thẳng trên các chốt. Để chủ độngbảo vệ chốt và giữ đất, đơn vị ông phải thường xuyên trinh sát xung quanh và bò qua chốt của địch để nắm tình hình, đề phòng quân chúng tấn công bất ngờ. Tiểu đội trinh sát của ông Hùng lúc ấy có 9 người, do ông làm tiểu đội trưởng, hầu hết là lính trẻ mới chân ướt chân ráo vào chiến trường. Ai cũng ham đánh địch để lập công. Những ngày tháng này đã để lại trong đời ôngmột kỉ niệm không bao giờ quên về 2 đồng đội: Trương Ngọc Bích, 22 tuổi và Lê Văn Quyết, 20 tuổi, cùng quê huyện Quảng Xương, Thanh Hóa. Các anh đã trúng mìn hy sinh trong lần đi trinh sát, để lại tuổi 20 ở mặt trận bắc An Lộc ngày 28.11.1974. Tự tay ông Hùng cùng đồng đội đãchôn cất các anh. MINH PHONGÔng Đinh Quang Hùng viếng mộ liệt sĩ Lê Văn Quyết tại nghĩa trang quê nhàViếng mộ liệt sĩ Trương Ngọc Bích tại Nghĩa trang liệt sĩ Bình Long, Bình Phước84 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
Dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vừa qua, mở lại trang nhật kí ghi ở chiến trường đã phai mờ nét chữ 51 năm trước, ông Hùng như sống lại giây phút bi thương, hào hùng ngày ấy.“Mặt trận bắc An Lộc, ngày 28 tháng 11 năm 1974Đêm nay trời trong, trăng tròn. Có người nhắc rằng đúng là đêm rằm tháng 10 âm lịch đây mà. Xung quanh đã chết cả rồi hay sao ấy, một sự im lặng, đau đớn choáng cả bầu trời. Mình cũng vừa thay xong bộ quần áo bê bết máu, máu của đồngđội. Chưa bao giờ mình cảm thấy máu nhiều đếnthế. Một trận đánh mà lại không phải là một trận đánh, một sự hy sinh hai chiến sĩ trinh sát yêu quý của chúng tôi không còn trở về nữa. Người ta mang ra hai cái xác bê bết máu: Bích và Quyết. Mình ôm chầm lấy Bích. Toàn thân Bích đỏ máu. Bích bị mảnh đạn cưa gãy ống chân trái, phá nát đùi bên phải, một tay đã bị dập nát, một mảnh đạn găm vào ngực bên trái. Máu người Bích ngấm sang người mình âm ấm đậm. Bích đangthở những hơi thở cuối cùng của tuổi 21. Trời ơi, bất lực hay sao. Bích ơi, Bích ơi, Bích có nhận raHùng không, Hùng đây mà Bích ơi, Bích sắp đi rồi à. Làm sao đau đớn thế này. Bích mấp máy môi, hơi đảo mắt. Nói đi, nói cho Hùng nghe đi Bích ơi. Kìa Bích không nói nổi à? Trời ơi, tuyệt vọng! Thế là hết. Còn một kỉ vật duy nhất Bích để lại là cuốn điều lệ Đảng ở túi ngực đỏ thẫm máu. Bích đangnghiên cứu điều lệ Đảng để chuẩn bị cho một bước tiến mà mình là người giúp đỡ trực tiếp. Mình sẽ giữ lại vật kỉ niệm này mãi mãi trong đời, để nhắc nhở cho thế hệ mai sau và những người bước vào đời một cách dễ dàng, may mắn hiểu được giá máu của chiến sĩ đổ xuống hôm nay.Nhớ lấy kỉ niệm này ở Bình Long đẫm máu.Ngày 29.11.1974Làm vòng hoa truy điệu Bích, Quyết. Kiếm mãi mới được 2 vòng hoa rừng. Các bạn hãy yên tâm an nghỉ nhé, máu của đất lại trả về cho đất, cả tình yêu và trái tim tuổi trẻ. Các bạn đã làm tròn bổn phận. Vĩnh biệt. Ngày 30.11.1974Mình bỏ ra một ngày làm 2 tấm bia, bằng cách dùng đinh đục lên hai tấm tôn những dòng chữ:- Liệt sĩ Trương Ngọc Bích, sinh 1952, Quảng Vinh, Quảng Xương, Thanh Hóa. Hy sinh 28.11.1974 tại Mặt trận bắc An Lộc.- Liệt sĩ Lê Văn Quyết, sinh 1954, Quảng Thọ, Quảng Xương, Thanh Hóa. Hy sinh 28.11.1974 tại Mặt trận bắc An Lộc.Hơn nửa thế kỷ qua, những trang nhật ký này ông Hùng đã nhiều lần đọc lại, lần nào cũng tự hứa sẽ tìm về quê hai đồng đội để xem các anh đã được quy tập về chưa. Nhưng rồi cuộc sống với bận rộn mưu sinh thời hậu chiến đã khiến dự định đó chưa thực hiện được, lòng ông luôn canh cánh món nợ với đồng đội. Đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông Hùngquyết định phải thực hiện bằng được dự địnhcủa mình. Từ thông tin về quê quán trong cuốn nhật ký, ông hy vọng sẽ lần tìm được gia đìnhcMột đoạn nhật ký năm 1974 của ông Đinh Quang HùngLINH KHÍ QUỐC GIA 85
Ông Hùng kể lại giây phút cuối của liệt sĩ Quyết cho gia đình của anhTrò chuyện với em trai của liệt sĩ Bích (bên phải)hai đồng đội. Tuy nhiên hơn nửa thế kỷ trôi qua, không biết các địa danh cũ có thay đổi không, gia đình hai anh còn đó hay đã đi nơi khác? May mắn thay, từ sự kết nối, giúp đỡ của các cựu chiến binh cùng thời quê Thanh Hóa, chuyến tìm về quê 2 liệt sĩ của ông Hùng rất thuận lợi. Sáng 7.6.2025, ông cùng một người bạn bay từ TP.HCM xuống sân bay Thanh Hóa và được anhBùi Xuân Miễn - một cựu chiến binh cùng thời quê huyện Nông Cống, gần huyện Quảng Xương của hai liệt sĩ, cùng người con rể tên là Hải lái xe ra đón. Anh Hải là trưởng ban dân vận một xã gần địa phương 2 liệt sĩ, nên đã nhiệt tình liên hệ trước với chính quyền để nắm thông tin cặn kẽ, rồi đưa đoàn đến tận nhà từng người. Trên xe, cầm tờ Giấy báo tử của liệt sĩ mà anh Hải nhờ photo được với thông tin đơn sơ, ghi rõ ngày mất đúng như trong cuốn nhật ký của mình, ông Hùng nghẹn ngào. Hình bóng hai người đồng đội tuổi đôi mươi ngày nào như hiện rõ trước mắt ông. Có lẽ nhờ thông tin được “khắc” trên tấm bia mộ bằng tôn ngày ấy, nên ngày mất và quê quán của liệt sĩ ghi trên Giấy báo tử rất chính xác.Thật xúc động khi ông Hùng bước chân vào từng ngôi nhà người thân của 2 liệt sĩ, thắp nén hương trên bàn thờ, ngắm nhìn tấm bằng Tổ quốc ghi công đã ố vàng theo năm tháng. Bố mẹ hai anh đã mất, người thân thờ phụng là gia đình hai người em trai. Không ngờ gia đình anh Quyết có 3 liệt sĩ, mẹ của anh là Mẹ Việt Nam anh hùng. Anh Quyết đã được gia đình và địa phương đónvề nghĩa trang liệt sĩ xã, nên ông Hùng có điềukiện đến viếng mộ đồng đội. Riêng anh Bích vẫn còn nằm ở Nghĩa trang Liệt sĩ Bình Long, tỉnhBình Phước.Tại nhà người thân của anh Quyết và Bích, cả gia đình gồm em trai, em dâu và các cháu chưa hề biết mặt liệt sĩ đã vây quanh khi nghe ông Hùng kể về những kỷ niệm và giây phút cuối của hai anh. Tất cả đều xúc động rơi nước mắt. Ông Hùng trích một tháng lương hưu gửi hai gia đình nhờ hương khói cho hai anh; đồng thời trao đổi với gia đìnhanh Bích kế hoạch sớm đưa anh về quê. Qua thông tin từ gia đình và người quen về phần mộ của anh Bích, sáng 17.6.2025, từ TP.HCM, ông Hùng tìm đến Nghĩa trang Liệt sĩ Bình Long, tỉnh Bình Phước. Giữa bạt ngàn những ngôi mộ liệt sĩ, ông may mắn tìm đượcmộ của anh Trương Ngọc Bích. Rất tiếc là bia mộ không ghi quê quán và ghi sai ngày hy sinh là ngày 29.11.1974; ngày đúng phải là 28.11.1974 như trong nhật ký của ông.Thắp nén hương cho liệt sĩ Bích, ông Hùngthầm hứa sẽ phối hợp cùng gia đình sớm đưaanh về lại quê nhà, sau 51 năm nơi đất khách quê người. Dẫu sao hai anh cũng còn chút may mắn, bởi biết bao đồng đội đã hy sinh trên các chiến trường nhưng không còn một thông tin nào, để lại nỗi buồn đau và tiếc nhớ khôn nguôi cho người thân. qc86 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
LÊ MINH QUỐCVẫn còn - không hề mất (Kính tặng Anh hùng, Liệt sĩ Đoàn Văn công Giải phóng R)Lẫn chìm trong tiếng gióBom đạn nổ bất ngờGiọt máu rơi xuống đấtHóa thân thành nhạc - thơĐoàn Văn công Giải phóngVội vã theo giao liênBăng qua tầm đạn pháoLội sâu chốn bưng biềnCung đàn không ngủ yênNgay trong tầm bom đạnVẫn vút lên niềm tinVề một ngày chiến thắngTừng thanh âm sâu lắngTừng âm điệu thong dongCùng đồng hành ra trậnHòa nhịp với núi sôngDõi theo ngọn cờ hồngCất nhịp nhàng tiếng hátNgười nghệ sĩ Văn côngVượt cao hơn cái chếtThanh xuân dẫu khép mắtVẫn còn sống trong đờiTiếng hát ngày kháng chiếnVẫn còn mới tinh khôiCung đàn reo không nguôiVọng lên từ lòng đấtGiai điệu thuở xa xưaVẫn còn - không hề mất.PHÙNG HIỆUThư gửi đảo xa(Viết tặng anh Phùng Văn...)Nhận thư anh vào một buổi sáng mùa thuEm nhớ lại những tháng ngày thơ ấuNhớ mãi cái hôm anh xuống tàu ra đảoBến sông Hàn - đêm cháy trắng cơn mơAnh lên tàu theo cánh sóng xa đưaEm trở lại nơi bờ Cầu ĐỏNắng tháng ba rát mái đầu ngọn cỏBuổi đến trường trốn học tập biên thưLời thư đầu em hỏi rất ngây thơĐi bộ đội đến bao giờ anh có súngNghe mẹ nói ngoài khơi tàu giặc cũng…Có súng trường, đại bác phải không anh?Anh đi rồi thôn xóm bỗng vắng tanhMấy đứa trẻ không thèm chơi bắn náChúng nó bảo: vắng anh - chàng thiện xạBắn súng trường như bắn ná không anh?Lá thư này em vẽ một bức tranhVẽ dáng mẹ đang khòm người gieo mạVẽ con trâu đang gặm từng đám rạVẽ quê mình sáng nắng buổi chiều mưa!Nhận thư này anh hãy nhớ đến thôn xưaCó thằng em đang ngày đêm ngóng về hải đảoEm sợ lắm mỗi lần nghe tin bãoAnh có yên bình nơi biên đảo xa xămNhận thư này anh hãy nhớ hồi âm!88 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
TRỊNH BÍCH NGÂNChiếc xuồng conchở khẳmTạm biệt mẹ, con lại ra điChuyến xe đầu năm đưa con đến hay vềLòng hỏi lòng mình có một quê hương Lòng hỏi lòng nơi nào thấy vấn vương?30 năm vẫn đất khách quê ngườiTiếng chim trước sân tiếng xe đầu ngõVẫn không sao át tiếng bìm bịp loang dàiĐầu sông cuối sông nước ròng nước lớn 30 năm thị thành gò lưng cõng chữThấp thoáng thân cò khuya sớm bãi sông30 năm dùng dằng chuyến đi chuyến ởBao ngóng trông mắt mẹ mờ thương nhớTạm biệt mẹ, lại sống trong cách trởTự dối lòng không khoảng cách trái timMẹ già yếu, chiếc xuồng con chở khẳmGió thổi liên hồi từ phía thời gianGió thổi liên hồi buốt giá tim conLòng dối lòng làm sao che đậy đượcĐừng biện minh xuôi ngược sinh tồnĐừng đổ lỗi cho quãng đường đo được Mẹ già yếu, chiếc xuồng con chở khẳmGió giật liên hồi đâu chỉ phía thời gian.(Trên chuyến xe trở lại Sài Gòn, 1.1.2024)
VỀ CHIẾN TRANHKý ứcTẠ DUY ANHKhi chiến tranh hai miền chấm dứt, tôi mới 16 tuổi. Trong một bài trả lời chị nhà báo người Mỹ gốc Việt, tôi nói rằng, nếu chiến tranh không chấm dứt năm 1975, mà chỉ cần kéo dài thêm hai năm nữa, chưa chắc tôi đã còn cơ hội nói chuyện với chị. Cái làng trại bé tẹo của tôi, lúc đó chỉ vài chục nóc nhà, mà cũng có tới 7 liệt sĩ.
Đó là những năm tháng nơm nớp khi nghe tiếng máy bay Mỹ trên bầu trời. Nỗi sợ này được phụ họa thêm bởi những lời cầu khấn của bà nội và mẹ. Dù là ban ngày hay ban đêm, hễ nghe tiếng máy bay rú rít, mẹ liền xách chúng tôi chạy thục mạng rồi gần như quẳng xuống hầm làm bằng những thân cây tre đóng chụm đầu vào nhau, bên trên phủ đất, gọi là hầm chữ A. Quê tôi nằm ở vành đai bảo vệ Hà Nội, nên bốn bề đều có các đơn vị phòng không, gồm tên lửa và pháo cao xạ. Máy bay Mỹ thường bay từ phía Nam ra, phía biển vào, hàng đàn, đủ loại. Chúng tôi có thể nhìn lên trời hoặc nghe âm thanh để biết đâu là Thần Sấm, Con Ma, đâu là Cổ Ngỗng, Vỉ Ruồi… và đặc tính tác chiến của từng loại. Ví dụ nếu là máy bay tiêm kích F4, hình giống cái vỉ ruồi, thì thế nào cũng có bắn tên lửa từ xa xuống các mục tiêu. Còn loại Cổ Ngỗng (AD6), bay chậm, thì mỗi khi cắt bom phải xuống rất thấp. Chính mắt tôi đã thấy bom rơi thẳng chỗ mình đứng khi một chiếc Cổ Ngỗng lật úp. Nhưng lúc bom nổ lộng óc thì hóa ra lại cách đó hàng kilômét. Sợ nhất là nghe tiếng Thần Sấm (máy bay F105) và Cánh cụp cánh xòe (F111). Hai loại máy bay này bay tầm thấp, tốc độ cao, hình thù quái quỷ. Vì thế khi nghe tiếng gầm rú xé màng nhĩ, sởn gai ốc thì nó đã ở rất xa rồi. Thỉnh thoảng là tiếng ù ù của tên lửa tầm thấp bắn lên từ bên kia sông Đáy, cách làng tôi chừng hơn 2 km. Chúng tôi vội cúi đầu xuống thấp, hai bàn tay ấp lên tai. Những đứa bé thì bà nội và mẹ sẽ làm việc đó. Bởi vì thể nào cũng sẽ có tiếng nổ đinh tai nhức óc ngay trên đầu. Một tiếng nổ như vậy đã từng làm tụt mái ngói nhà tôi và những nhà xung quanh. Ban ngày thì còn đỡ, vì có cảm giác nhìn thấy nhau. Ngoại trừ mùi đất ẩm ướt, gây gây và thỉnh thoảng có con rắn nào đó thò đuôi ra từ nóc hầm, còn lại nhiều khi đó là dịp để chúng tôi chơi bài rồi ngủ luôn. Nhưng ban đêm thì mỗi lần chạy máy bay là một cơn ác mộng thực sự. Phần lớn chúng tôi chỉ thức khi mình đã bị bà hay mẹ xốc dậy, kéo lê lệt xệt trên đất cho đến khi quẳng xuống hầm hoặc hố tăng-xê. Gặp hôm trời mưa, tăng-xê ngập nước, chúng tôi ướt như chuột nhưng không được nhúc nhích, kể cả khi có con rắn nước nào đó trườn qua người. Trên đầu lửa cháy sáng rực với hàng vạn quả đạn pháo hoặc những quả tên lửa. Bà và mẹ, trăm lần như một, vừa giúi đầu chúng tôi vào lòng để che chở, vừa lầm bầm khấn vái “Nam-mô-a-di-đà-Phật…”. Cũng có hôm, lời cầu xin trở thành những câu chửi chua ngoa: “Có cái đéo gì mà cứ vòng đi vòng lại soi mói mãi thế! Đây chả có cái đéo gì đâu, cút mẹ chúng mày đi!”. Trái với nỗi sợ chết khiếp của chúng tôi, bố tôi hầu như không bao giờ xuống hầm khi có máy bay, kể cả bom đạn đầy trời. Ông không thể hình dung nổi một người cộng sản như ông mà lại sợ cái lũ giặc khốn kiếp. Ban ngày, khi chưa về vườn, thì ông lên trận địa phòng không với anh em, đi lại hiên ngang, ra lệnh đanh thép để những khẩu súng trường tắc bọp mấy phát vuốt đuôi nhưng đầy tinh thần quyết tử, đuổi theo chiếc máy bay cao tít tắp nào đó đang lao đầu về phía Hà Nội. Chưa bao giờ ông đi lom khom. Chưa bao giờ ông ngụy trang. Có lần ông giương khẩu súng thể thao tầm bắn xa vài trăm mét, đạn bằng hạt lạc, rê theo một cái máy bay ở độ cao vài ngàn mét, bắn hú họa. Ông thách bọn Mỹ có giỏi thì quay lại phóng tên lửa về phía ông. Mỗi khi khói phụt ra từ đuôi máy bay, ông lại chửi: “Dào ồi, có khác gì cái rắm!”. Sau này khi không được chỉ huy, không còn súng thể thao thì ông cũng vẫn ra khỏi nhà, nhưng đứng dưới bụi tre, ngửa cổ quan sát xem bọn Mỹ đánh khu vực nào để thông báo cho những người đang run bần bật dưới hầm. Mỗi khi có tên lửa bắn lên, ông lại cổ vũ bằng cách chỉ hướng để tên lửa tìm mục tiêu. “Chúng nó đang bay về phía Hà Nội. Mấy cái quay lại rồi”. “Bắn đi, cLINH KHÍ QUỐC GIA 91
bắn bỏ mẹ chúng nó đi!”. “Mày có giỏi thì sà thấp xuống tí nữa. Tên lửa, cao xạ đâu hết rồi?”. Ban đêm, mặc cho máy bay gầm rú, nhiều hôm ông vẫn ngủ yên trên giường. Nếu ra ngoài, ông chỉ kiểm tra xem chúng tôi đã xuống hầm hết chưa, rồi ra đầu ngõ ngồi ngóng tin từ mấy dân quân xóm. Ông cảm thấy xấu hổ nếu phải chui lủi trước kẻ thù, dù chúng tít trên trời.Nhưng chiến tranh in vào ký ức tôi còn bởi hình ảnh từng đoàn quân cứ nườm nượp đến rồi lại đi khỏi làng tôi mà không bao giờ thấy ai quay lại. Buổi sáng nào đó khi chúng tôi tỉnh dậy đã thấy đường làng ngõ xóm ngập một mầu áo xanh bộ đội, súng ống, xe pháo, cùng vô số thứ quân trang, quân dụng. Họ dựng lán trại dã chiến, chia nhau vào ở nhờ trong nhà dân, mùi hành mỡ thơm lừng khắp làng trên xóm dưới. Ngoài luyện tập, ngày ngày họ chỉ học cách ngụy trang, học chính trị, quét sơn đen lên đèn ô tô… Rồi, sau từ một đến hai tháng, mặt mũi ai nấy béo tốt, họ lại ra đi. Vào dịp đó làng tôi luôn như có hội. Những người như bố tôi thì khỏi phải nói, họp hành suốt ngày. Những người như mẹ, chị tôi… tất bật lo toan, cười nói rộn ràng. Chúng tôi được ăn những thứ chỉ dành cho bộ đội. Chúng tôi được học phòng gian bảo mật, với khẩu hiệu 3 không: Không biết, không thấy, không nói. Cảnh giác cao độ với bất cứ kẻ lạ mặt nào, nhất là khi họ hỏi về bộ đội. Ngày đó cuộc sống nghèo nhưng đầy ắp tình nghĩa. Những người ra đi và những người ở lại luôn bịn rịn mỗi khi chia tay nhau. Toàn trai thanh gái lịch, kẻ đi người ở nhưng hầu như không xảy ra chuyện quan hệ thân xác. Suốt ngần ấy năm, có lẽ phải tới hàng vạn người lính đã ghé qua làng tôi trước khi ra trận, tôi chưa hề gặp lại bất cứ ai. Họ đi và mất hút. Nhiều người, như sau này tôi biết, chết ngay khi chưa vào đến chiến trường.Ký ức về chiến tranh còn là hình ảnh và cuộc đời cô út của tôi. Cô đang làm ở phòng lương thực huyện, thì bố tôi động viên cô vào bộ đội “để làm gương”, vì ông là bí thư xã! Khi là bộ đội, cô làm y tá, vào ra Trường Sơn ba lần, tham dự trận Khe Sanh, trận tổng tiến công năm 1968. Những lá thư cô gửi về, phải sau mấy tháng mới đến tay bố tôi và ông thường đọc bí mật. Có lẽ vì ông không bao giờ tin em gái mình lại còn có thể sống sót trở về. Tuy thế ông luôn giục chúng tôi viết thư cho cô. Một lần tôi đọc trộm thư của cô. Cô kể về trại quân y dã chiến. Xung quanh cô la liệt thương binh. Rừng trơ trụi lá vì thuốc hóa học. Trong đêm cô phải xuống suối cách đó khá xa để lấy nước và bị con lợn lòi đuổi theo, suýt nữa thì nó ngoạm được vào chân cô. Sau khi kể xong, cô bảo bố tôi: “Anh ạ, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng. Nhưng cứ tình cảnh này thì chắc là em sẽ vĩnh biệt mẹ, anh chị và các cháu mất”. Tôi đã khóc thầm nhiều đêm vì thương cô và cứ trăn trở mãi về những điều cô nói. Tôi chỉ biết thỉnh thoảng tự mình viết cho cô một lá thư, thay cho lời cầu mong cô bình an.Năm 1971, giữa lúc chúng tôi đang ở nơi sơ tán vì trận lụt kinh hoàng, thì cô và chú rể tôi sau này đột ngột xuất hiện. Tôi vẫn nhớ như in vẻ mặt thẫn thờ của bà nội khi nhìn thấy cô. Bà không tin là thật. Tin làm sao được. Bà tưởng mình nằm mơ. Mãi sau bà mới lao vào ôm cô, khóc to đến nỗi mọi người xung quanh tưởng có chuyện gì. Tôi thì nép vào khe cửa lau nước mắt. Nhưng đó cũng là chuyến vượt Trường Sơn cuối cùng của cô, và may thay lại là chuyến trở về. Sau này có lần tôi nài cô kể chuyện chiến tranh, thì cô chỉ bảo: “Cô cũng không muốn nhớ lại nữa, kinh khủng lắm!”. Sau khi về hưu, cô bỏ hết, không đảng đoàn, không chức tước, tận dụng chuyên môn làm nghề y cứu người và quay sang thờ Phật, thuộc rất nhiều kinh, ngày nào cũng tụng niệm và không bao giờ tranh giành với bất cứ ai. rc92 HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCM
ĐOÀN PHONGMỘT ĐỀ NGHỊ NHÂN NGÀY 27/7:LÀM MỚI LẠI CÁC BẰNG TỔ QUỐC GHI CÔNGTrong một chuyến tham gia đoàn công tác thiện nguyện nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 tại tỉnh Long An, chúng tôi đến thăm và tặng quà một gia đình Mẹ Việt Nam anh hùng. Trên bàn thờ của gia đình có hai bằng Tổ quốc ghi công của hai liệt sĩ thời đánh Mỹ, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1978. Thời gian gần 50 năm đã khiến hai tấm bằng trở nên ố vàng, mờ nhạt cả hình và chữ. Có lẽ cũng một phần do thời đó giấy và chất lượng in ấn không tốt, càng khiến tấm bằng xuống cấp nghiêm trọng. Đó là chưa kể khung bằng làm cùng thời cũng thô mộc, cũ kỹ. Tất cả khiến cho hình thức của hai tấm bằng liệt sĩ giờ đây không còn tương xứng với sự trang trọng, thiêng liêng vốn có.Qua quan sát thực tế nhiều nơi và từ chính trong gia đình, tôi nhận thấy có một thực trạng hiện nay là hầu hết các văn bằng quan trọng do các đời Chủ tịch nước, Thủ tướng trước đây ký như Bằng Tổ quốc ghi công, bằng chứng nhận huân - huy chương, danh hiệu cao quý v.v... trải qua thời gian ba - bốn chục năm nay phần lớnđã cũ kỹ, ố vàng, chữ mờ, thậm chí bị rách... như tình trạng hai tấm bằng liệt sĩ kể trên. Tất cả đều không tương xứng với ý nghĩa, nội dung các văn bằng mà Chủ tịch nước, Thủ tướng ký phong tặng. Nhất là với hình thức xuống cấp trầm trọng như đã nêu trên, nhưng các tấm bằng đó vẫn thường được treo ở phòng khách hoặc trên bàn thờ, khiến ai nhìn vào cũng không khỏi băn khoăn, ngậm ngùi, nhất là với thân nhân liệt sĩ…Vì vậy nhân dịp kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7 năm nay, chúng tôi đề xuất với Đảng và Nhà nước cần có một chương trình, kế hoạch thay mới tất cả các bằng, khung ảnh mà các đời Chủ tịch nước, Thủ tướng mấy chục năm trước đây đã ký trao tặng, nay đã xuống cấp nghiêm trọng về hình thức; đặc biệt là với các Bằng Tổ quốc ghi công. Nên thiết kế lại trang trọng hơn, đẹp hơn, bằng giấy tốt, in ấn hiện đại, khung ảnh tốt, nhưng vẫn giữ nguyên (phục chế) con dấu và họ tên các Chủ tịch nước, Thủ tướng cùng ngày tháng đã ký. Khởi đầu, có thể từng phường xã thống kê các loại văn bằng cũ hiện còn lưu giữ trong nhà dân để có kế hoạch làm mới lại. Trước mắt, cần làm mới các Bằng Tổ quốc ghi công. Rất mong kiến nghị này được các cấp lãnh đạo quan tâm! rHình chụp một bằng Tổ quốc ghi công trên bàn thờ một gia đình liệt sĩ ở Long An, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký năm 1978LINH KHÍ QUỐC GIA 93
RA KHỎI CỬA RỪNG TRỜI SẦM SẬP ĐỔ MƯA. MƯA THEO ĐOÀN CÔNG TÁC VỀ TỚI TẬN SÀI GÒN KHI PHỐ ĐÃ LÊN ĐÈN. TÔI CHỢT NHỚ 2 CÂU THƠ CỦA LÊ LỢI: “BIÊN PHÒNG HẢO VỊ TRÙ PHƯƠNG LƯỢC/ XÃ TẮC ƯNG TU KẾ CỬU AN” (LO VIỆC BIÊN PHÒNG CẦN CÓ PHƯƠNG LƯỢC TỐT/ GIỮ NỀN XÃ TẮC NÊN TÍNH KẾ DÀI LÂU). MỚI HAY TỪ XA XƯA, ÔNG CHA TA ĐÃ RẤT COI TRỌNG CÔNG VIỆC GÌN GIỮ BIÊN CƯƠNG.LƯƠNG GIA CÁT TƯỜNG Đoàn chụp ảnh lưu niệm với CB-CS Đồn biên phòngngoằn ngoèo uốn lượn liên tục ngoặt cua “cùi chỏ”, vừa lên đoạn dốc cao tim chưa kịp thót lên thì xe đã lao xuống dốc làm ruột gan chen nhau sà xuống. Một hành trình mang đến cho những ai mới lần đầu trải nghiệm thật nhiều cung bậc cảm xúc. Hai bên đường là màu xanh bạt ngàn của những cánh rừng hoang sơ và đa dạng sinh học, đẹp đến nao lòng. Đây là con đường chạy dọc theo biên giới hai nước Việt Nam và Campuchia. Có những đoạn biên giới rất gần, bạn chỉ cần lội qua dòng Đắk Huýt là sang tới đất Campuchia. Dọc theo lõi Vườn Quốc gia Bù Gia Mập là các đồn biên phòng có những cái tên rất dễ thương Đắk SỰ HY SINH THẦM LẶNG CỦA NGƯỜI LÍNH BIÊN PHÒNGTháng 4 trong bối cảnh cả nước đang hướng về ngày Đại lễ Kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP. Hồ Chí Minh phối hợp với Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 5 và Báo Công lý được sự hỗ trợ của Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Bình Phước đã tổ chức thành công chuyến “Về nguồn thăm lại chiến trường xưa” tại các đồn biên phòng thuộc huyện biên giới Bù Gia Mập. Xuất phát từ Trạm khách T67 ở TP.HCM, sau khi nuốt hơn 200km đường, đoàn xe đã đưa chúng tôi chạm tới cổng rừng. Trước mặt chúng tôi, bên kia cổng rừng là con đường đi xuyên qua vùng lõi rừng Vườn Quốc gia Bù Gia Mập. Con đường MỘT CHUYẾN VỀ NGUỒN
Bô, Đắk Nô, Đắk Ka, Đắk Ơ, Bù Gia Mập - nơi đóng quân của các đơn vị bộ đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biên giới và rừng - cũng là điểm đến trong kế hoạch “Về nguồn” lần này của đoàn chúng tôi. Chuyến đi được thực hiện do công lớn của nhà báo kiêm tay lái lụa Đan Hà làm người kết nối. Với mọi người là “về nguồn”, còn với Đan Hà là “về nhà”, chị chia sẻ. Để bảo vệ rừng và giữ gìn biên cương Tổ quốc, chiến sĩ các đồn biên phòng đóng quân trên địa bàn luôn phải đối mặt với những tác động khách quan của thời tiết, khí hậu và địa hình hiểm trở - một cuộcchiến không kém phần cam go ác liệt giữa thời bình. Thậm chí, mùa mưa có nước thì thiếu điện (vì không có mặt trời); mùa khô có điện thì thiếu nước. Còn với khách đến thăm như chúng tôi, mùa nào cũng có nguy cơ… “mất mạng” (vì ở đây chỉ có mạng Viettel). MỘT CHUYẾN VỀ NGUỒN THẮM THIẾT TÌNH QUÂN DÂNTrân trọng và biết ơn sự cống hiến và hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ biên phòng, các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp xem việc thăm viếng, ủy lạo chiến sĩ biên phòng là trách nhiệm, nghĩa vụ công dân.Với tinh thần đó, đoàn Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP. Hồ Chí Minh cùng với Ban liên lạc truyền thống Sư đoàn 5 và Báo Công lý trong chuyến về nguồn lần này đã đến thăm, tặng quà với tổng trị giá gần 300 triệu đồng, bao gồm tiền mặt và các vật dụng sinh hoạt như đèn năng lượng mặt trời, bộ loa karaoke, quạt điện và các nhu yếu phẩm. Đoàn cũng không quên mang theo tặng bộ đội 500 quyểnsách gồm nhiều thể loại - là món ăn tinh thần quý hiếm của anh em nơi đèo heo biên giới. Không chỉ tặng quà, chuyến về nguồn còn mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, là dịp để hai thế hệ chiến sĩ: Thế hệ chiến đấu giành lại độc lập và thế hệ bảo vệ chủ quyền đất nước, có dịp giao lưu với nhau. Chuyến đi cũng giúp các tướng lĩnh, các cựu chiến binh ôn lại kỷ niệm một thời oanh liệt, hào hùng đặc biệt là với những người lính đã từng tham gia chiến đấu trên mảnh đất hoa lửa một thời này.Nếu như nhà báo Đan Hà rất vui và hạnh phúc vì được làm người kết nối thì Trung tướng, PGS.TS. Nguyễn Đức Hải, nguyên Viện trưởng Viện Quốc phòng - Bộ Quốc phòng cũng bồi hồi khi ôn lại những kỷ niệm thời còn chiến đấu tại chiến trường Bình Phước thời chống Mỹ. Với Đại tá, nhà báo Trần Thế Tuyển: Chuyến về nguồn lần này còn mang ý nghĩa đặc biệt nữa vì nó được tổ chức trước thềm kỷ niệm 50 năm ngày thống nhất đất nước. Sau những nghi thức lễ lạc long trọng nhưng ấm áp tình đồng đội, nghĩa quân dân, chúng tôi đã có một đêm giao lưu văn nghệ cây nhà lá vườn thật hoành tráng vui vẻ, cũng là sẵn tiện “test” mấy bộ loa karaoke vừa được trao tặng. Nói theo kiểu bọn trẻ bây giờ là: “Ba má sinh ra để làm ca sĩ mà định mệnh bắt các anh đi bộ đội biên phòng”. Từ cán bộ sĩ quan đến chiến sĩ người nào cũng hát hay không thua ca sĩ, khiến đoàn khách phải chật vật tuyển chọn kỹ lưỡng các giọng ca vốn dĩ là “nhân tài nằm trong lá ủ” mới tự tin đem ra “so găng” cùng bộ đội. Vui và cảm động nhất là dàn đồng ca tự phát cuối chương trình. Mọi người vừa lắc lư theo điệu nhạc vừa say sưa hát những ca khúc cách mạng hào hùng gắn liền với một thời tuổi trẻ của họ. Mới đầu nhảy múa còn ngay ngắn, giọng ca còn nồng nàn. Càng về sau mạnh ai nấy tựa vào nhau, quơ quào loạn xạ, hú hét um trời, nhạc đi đằng nhạc, lời đi đằng lời…Chia tay nhau trong một ngày tháng tư đầy nắng. Nắng rát bàn tay, nắng nung lưng áo nhưng trong lòng ai cũng thấy ấm áp, tin yêu, bịn rịn không muốn rời nhau. Chuyến đi để lại trong tôi một cảm xúc đặc biệt. Cảm xúc của những lần được đứng ở lằn biên Tổ quốc. Trước đây, khi đứng ở bên này An Giang ngó mút mắt qua cánh đồng cò bay thẳng cánh, biết rằng ở tận chân trời bên kia là đất nước Campuchia, tôi bùi ngùi nhớ lại toàn mấy “chuyện đao binh”, nghe cõi lòng se sắt. Còn cái bận đứng từ Đồn biên phòng Long Khốt (Long An) nhìn thấy rõ mấy cái nóc nhà lấp ló bên “hàng xóm”, tôi lại xúc động nghĩ về cái tình làng xóm tối lửa tắt đèn.Còn ở đây, đằng sau lưng cột mốc 62 (2) là đường biên giới Việt Nam - Campuchia nằm giữa con sông Đắk Huýt. Nhìn đàn cá lội qua lội lại giữa “hai làn nước”, bất giác tôi liên tưởng tới hai chữ tự do. Lần đầu tiên tôi cảm nhận hai chữ tự do như thể sờ nắm được, chứ không phải là những từ ngữ sáo rỗng nằm trên trang sách.Ra khỏi cửa rừng trời sầm sập đổ mưa. Mưa theo chúng tôi về tới tận Sài Gòn khi phố đã lên đèn. Tôi chợt nhớ 2 câu thơ của Lê Lợi: “Biên phòng hảo vị trù phương lược/ Xã tắc ưng tu kế cửu an (Lo việc biên phòng cần có phương lược tốt/ Giữ nền xã tắc nên tính kế dài lâu). Mới hay từ xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng công việc gìn giữ biên cương. rLINH KHÍ QUỐC GIA 95
Cả nước vừa hân hoan mừng Đại lễ 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và chuẩn bị kỷ niệm 80 năm lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Khói lửa binh đao đã tắt, cuộc chiến thật sự đã lùi xa, nhưng nỗi đau mất mát do chiến tranh vẫn mãi không thôi.Đến ngày 27/7 năm nay vẫn còn gần 200 ngàn liệt sĩ chưa tìm được hài cốt, gần 300 ngàn liệt sĩ đã tìm được hài cốt nhưng vẫn chưa xác định được danh tính. Vậy là có gần 50 vạn gia đình Việt Nam TRÌNH TỰ KHAKỷ vậtCHIẾN TRƯỜNGkhông biết người thân của mình đang nằm ở đâu trên các chiến trường Việt - Lào - Campuchia. Khác với những người lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa khi ra trận có tấm thẻ inox trên cổ tay để nhận biết danh tính khi tử trận, người lính Giải phóng quân khi xung trận chỉ mang theo súng đạn, lương khô, bi-đông nước, dao găm, xẻng để đào hầm và tấm võng. Tất cả những gì liên quan đến gia tài ít ỏi của người lính như quân tư trang, sổ tay ghi chép, hình ảnh thư từ của người thân… đều để lại ở cứ ba-lô (hay còn gọi là hậu cứ). Bài ca “Bên cánh võng” nghe thơ mộng là vậy, đâu ai biết khi bị thương tấm võng đó là cáng thương để đồng đội khiêng về, còn khi hy sinh tấm võng thành quan tài đưa người liệt sĩ đi vào lòng đất. Chỉ khi hy sinh tại Trạm Quân y vì vết thương quá nặng hay vì cơn sốt rét ác tính thì may ra mới có lọ Penicilin kèm theo mẩu giấy ghi tên tuổi, quê quán, ngày mất chôn theo người lính.
Cuộc chiến đã qua khốc liệt vô cùng, nhưng dòng chữ ghi trên “Giấy báo tử” mai táng tại Nghĩa trang mặt trận hay tại Nghĩa trang đơn vị chỉ là ghi vậy thôi, làm gì có Nghĩa trang Mặt trận, làm gì có Nghĩa trang của đơn vị, càng không thể có tấm bia ghi tên liệt sĩ cắm trên mộ… Danh sách liệt sĩ và sơ đồ mai táng nằm trong ba-lô người sĩ quan quân lực Trung đoàn, chỉ 1 quả pháo hay 1 trái bom rơi trúng hầm người sĩ quan ấy thôi là tất cả đi vào lòng đất. Tìm được hài cốt đã khó, tìm được rồi cũng đâu biết quê quán, người thân của liệt sĩ để xác định ADN, để trả lại tên cho liệt sĩ?Trong những kênh tìm kiếm hài cốt và thông tin liệt sĩ, có một kênh từ những cựu binh Hoa Kỳ, họ thu được chiến lợi phẩm trong các cuộc tập kích vào hậu cứ của Quân giải phóng, vào các Trạm Quân y, các Trạm khách trên đường Trường Sơn hay sau các trận đánh mà quân ta buộc phải rút lui, không lấy được thương binh và liệt sĩ. Trong các chiến lợi phẩm đó bao giờ cũng có quân tư trang của người lính… Đó là 1 cuốn sổ tay để ghi chép, có khi là những dòng Nhật ký, có khi là để chép những bài hát, những bài thơ hay, có khi là những dòng lưu bút của bạn bè… Cũng không thiếu những lá thư, những tấm ảnh của người thân… Nhật ký của Anh hùng liệt sĩ - bác sĩ Đặng Thùy Trâm là một ví dụ trong số đó.Thư viện Nguyễn Văn Hưởng tại Hà Nội đã bằng nhiều cách sưu tầm và trưng bày những kỷ vật của bộ đội ta do cựu binh Mỹ lấy được từ các chiến trường ở Việt Nam và mang về Mỹ. Được sự đồng ý của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, nguyên UV BCH TW Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an, Tổng biên tập Tạp chí Phương Đông thuộc Viện Nghiên cứu phát triển Phương Đông, tiếp theo các số Đặc san Linh khí Quốc gia trước đây, Đặc san Linh khí Quốc gia số đặc biệt nhân ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7/2025 và kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ TP.HCM tiếp tục đăng tải hình ảnh và kỷ vật của Quân giải phóng miền Nam do Thư viện Nguyễn Văn Hưởng cung cấp. Hy vọng qua những hình ảnh và kỷ vật này, các gia đình liệt sĩ nhận biết được kỷ vật của thân nhân mình, các CCB tìm lại được hình ảnh của đồng đội và có khi là của chính mình. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. rTP. Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2025Một số kỷ vật chiến trườngLINH KHÍ QUỐC GIA 97
HỘI HỖ TRỢ GIA ĐÌNH LIỆT SĨ TP.HCMChúc mừng 5 năm