Ñeàn Thöôïng. Laêng Vua 51 và gi vng t n!c. Vffly, chúng ta hãy c gng gi vng Tc l Gi= T Hùng Vng, và ôn li nhng chin thng chng xâm lng gi vng t n!c. Hành trình i thm Di tích n Hùng. Khu di tích lch s n Hùng bao g m bn n chính là n Hffi, n Trung, n Thfing và n Ging. T= di chân núi, du khách sj qua cfflng n, bc 255 b#c á lên n n Hffi, R i t= Dn Hffi lên n Trung, i tip lên n Thfing có 270 b#c á. Cng chung t= i i lên có tt c là 525 b#c á. Du khách thm ving các n này th+p hng khn bái và kt thúc tffii n Thfing trên Znh Ngha Lnh, ni có lng m vua Hùng th 6. Sau khi thm ving n Thfing xong, du khách sj tip tc cuc hành trình theo mt con 'ng khác fl phía sau núi, i t= trên xung 700 b#c á ti n Ging tffii di chân núi. Bên cffinh n Ging có Bo Tàng Vin. Cfflng n: fic xây d"ng vào nm Khi nh th 2 (1917), có bn ch Hán vit laø "Cao sn cnh hành" (Ý ngha là Lên núi cao nhìn xa rng). Còn có ng'i dch là "Cao sn cnh hffinh" (c ln nh núi cao), do ch trong bc hoành phi có th% c b<ng hai âm "hành" ho$c "hffinh" vi ngha khác nhau. n Hffi. Có vào th k> XVII-XVIII, fic làm hai lp theo ki%u ch nh. Tng truyn , sau khi kt hôn Lffic Long Quân ã a Âu C t= c Lng Xng(Thanh Th*y), v n núi Ngha Lnh, Âu c fl lffii sinh ra mt bc trm trng , sau nfl thành mt trm ng'i con trai. Khi các con khôn ln , Lffic Long Quân bàn vi Âu C chia các con i mfl mang b' cõi . 50 ng'i con theo cha i xuôi v phía bi%n, 49 ng'i con theo mU lên ngfic vùng núi, ng'i con c fl lffii ni ngôi cha truyn fic 18 'i u gi là Hùng Vng. Cng ng ng'i Vit hình thành, hai ting ng bào (cùng bc) vì th mà có. Nhà bia: Nhà bia n<m ngay cffinh n Hffi có kin trúc hình lc 222
2. Giffi vffing T'c l Gi| tff Hùng Vflng. Ñ eàn Gieán g p hía sa u n uùi Coån g Ñ eàn p hía tr öôùc n uùi. Gi= t Hùng Vng là m t l h i l!n tng nh! và t# lòng bit n công lao d+ng n!c và gi n!c c'a các vua Hùng, nhng v vua u tiên c'a dân t c. L h i %c din ra ti n Hùng núi Nghiã L&nh, Phú Th, vào ngày 10 tháng 3 âm lch .v!i nhng phong tc nh âm ung Le ( ánh trng ng) c'a dân t c Mflng, hành hng tng nim các vua Hùng, và kt thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lch v!i l r!c kiu và dâng hng trên n Th%ng. Phn h i có nhiu trò chi dân gian :c sc. ó là nhng cu c thi hát xoan (tc hát gh>o), m t hình thc dân ca :c bit c'a Phú Th, nhng cu c thi vfflt, thi kéo co, hay thi bi tr"i ngã ba sông Bch Hc, ni các vua Hùng luyn tfflp các oàn th'y binh luyn chin. Theo huyn thoi, Tiên là Trfli, Rng là t, Hùng Vng là Ngfli, kt thành Trfli t Ngfli hòa h%p, tc là Tam Tài, là o Ba, là Chân lý sáng ngfli c'a dân t c ta. Nhfl Chân lý sáng ngfli này , dân t c ta ã %c hnh phúc thành công yên vui. Ngi ra, gi vng t n!c, t tiên ta ã dùng Giá tr s 3: oàn kt là sc mnh chin thng xâm lng (c Trn Hng o), Giá tr s 4 là Mu trí ly yu thng mnh (Vua Quang trung), Giá tr s 6 là Hun úc Biu t%ng Tiên Rng, tài trí nh Tiên và sc mnh nh Rng chin thng xâm lng 52 221
PHẦN THỨ HAI. TÌM HIỂU TINH HOA VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT. Lì xì. Lì xì ngày Tt : ng'i ln th'ng t$ng trff em tin b& trong mt bao giy &, hay "h ng bao", gi là "lì xì" vi nhng l'i chúc m=ng chóng ln ngoan ngoãn, hc gi&i. Lì xì Xin chffi ngày T&t. Tín ng=ng T&t. M@i nm hoa ào nfl Lffii thy ông già By m"c tu giy & Bên ph ông ng'i qua (V ình Liên) u nm th'ng ng'i Vit thích xin mt vài ch nho t= ông , bà vit ch rt Up, % mang v chi trong nhng ngày Tt vi ý ngha tin tflng ch càng Up sj càng fic may m+n thành công nhiu hn. Vic xin ch u nm lâu nay ã có và ngày mt thnh hành, nó ang trfl thành phong tc Up c*a ng'i Vit Nam m@i xuân v Tt n.Tffii Hà Ni, vic này di n ra fl nhiu ni: trong nhà riêng c*a mt s thy có ting vn hay ch tt, trên 'ng ph ni có khong hè rng rãi và nhiu ng'i qua lffii. Ch@ có vff n tfing nht là trc sân Miu Vn, khong hè ph 'ng Bà Triu, offin giao c+t vi 'ng Trn Hng ffio... Xin ch là mt nét Up vn hóa cn phát huy. .ChZ mt ch treo trc m$t mà có ý ngha v ffio c và 'i sng i vi nhng con ng'i c theå sj giá tr hn nhiu nhng l'i nói sáo r@ng. Vffy chúng ta hãy gi vng Tc l Tt ta. 220
Min Trung và min Nam lffii hay dùng cành mai vàng ho$c cây mai vàng hn, màu vàng tfing trng cho s" cao thfing vinh hi%n cao sang, màu vàng còn tfing trng cho vua (th'i phong kin). Màu vàng thuc hành Thffl trong Ng hành, theo quan i%m ng'i Vit, Thffl n<m fl v trí trung tâm và màu vàng fic tfing trng cho s" phát tri%n nòi ging. Ngoài hai loffii hoa $c trng cho Tt là ào và mai, hu nh nhà nào cng có thêm nhng loffii hoa % th' cúng và hoa trang trí. Hoa th' cúng có th% nh hoa vffin th, cúc, lay n, hoa hu...; hoa % trang trí thì muôn màu s+c nh hoa h ng, hoa thu> tiên, hoa lan, hoa thfic dfic, hoa violet...Còn cây qut th'ng fic trang trí tffii phòng khách, cây qut vi lc xanh mn mfln, hoa tr+ng lm m, qu chín vàng m, tròn tra, sum suê tfing trng cho s" sinh sôi, thnh vfing, tràn y, viên mãn kt qu. Xut hành và hái lc ngày Tt : "Xut hành" là i ra kh&i nhà trong ngày u nm % i tìm cái may m+n cho mình và gia ình. Trc khi xut hành, ng'i ta phi chn ngày, gi' và các phng hng tt % mong g$p fic các quý thn, tài thn, hZ thn... Nu xut hành ra chùa hay n, sau khi l bái, ng'i Vit còn có tc bff ly mt "cành lc" % mang v nhà ly may, ly phc. ó là tc "hái lc". Cành lc là mt cành a nh& hay cành , cành si... là nhng loffii cây quanh nm ti tt và n[y lc. Tc hái lc fl các ni n, chùa ng ý xin hflng chút lc c*a Thn, Ph#t ban cho nhân nm mi. Cành lc th'ng em v c+m fl bàn th'. Khác vi min B+c, min Trung không có tc hái lc u nm nh' th mà cây ci trong các n chùa fl min Trung v?n gi nguyên lá xanh bic sut c mùa xuân. Chúc Tt: Sáng m ng Mt Tt còn gi là ngày Chính án, con cháu t hp fl nhà tc trflng % l Tffl Tiên và chúc tt ông bà, các b#c huynh trflng. Theo quan nim, c nm mi ti, m@i ng'i tng lên mt tuffl, bfli v#y ngày m ng Mt Tt là ngày con cháu "chúc th" ông bà và các b#c cao niên. 54 219
TINH HOA VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT Nói đến văn hóa là nói đến lãnh vực rất rộng lớn.Còn: Tinh hoa văn hóa dân tộc Việt Là điểm nổi bật nhất của tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần, với tư tưởng chủ đạo là triết lý Nhân Bản cho mọi lãnh vực hoạt động của văn hóa, do Cộng đồng các dân tộc Việt đã sáng tạo ra. Tinh hoa văn hóa gồm 3 điểm chủ yếu nổi bật : Điểm 1 Tinh hoa . Di truyền văn minh nguồn gốc dân tộc đất nước Việt Nam càng ngày càng phát hiện rực rỡ, qua những khám phá mới nhất khảo cổ về vùng Sundaland mới được phát hiện năm 1986, là vùng đất văn minh cổ xưa bị ngập chìm ở biển Đông, mà BắcViệt (a) thuộc vùng đất đó còn sót lại. Vùng đất văn minh bị ngập Bản đồ cây phả hệ chìm ở biển Đông. Nhân củng học phân tử. Rồi từ năm 1998, qua di truyền học và cây phả hệ nhân chủng học phân tử, dân tộc ta càng ngày càng được phát hiện là dân tộc lâu đời nhất vùng đất văn minh cổ xưa Đông Nam Á, tức là có di truyền văn minh lâu đời. Như thế, nhờ Điểm 1 Tinh hoa, dân tộc ta đã trở thành dân tộc thông minh tài trí và sáng tạo. Do đó, Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đã được thành công vẻ vang mau chóng trên khắp thế giới. 55 th*y chung, tu thân, hng thin. Th"c tâm cu th, yêu ng loffii, sâu n$ng ci ngu n.v.v. Cây nêu ngày Tt. Cây nêu là mt cây tre cao khong 5–6 mét. ngn th'ng treo nhiu th ( tùy theo t=ng iffi phng) nh vàng ma, bùa tr= tà, cành xng r ng, bu rfiu bn b<ng rm, hình cá chép b<ng giy (% táo quân dùng làm phng tin v tr'i), gii c' vi ty, iu (mu &), i khi ng'i ta còn cho treo l*ng l]ng nhng chic khánh nh& b<ng t nung, m@i khi gío thffli, nhng khánh t va chffim nhau tffio thành nhng ting kêu leng keng nghe rt vui tai... Ng'i ta tin r<ng nhng v#t treo fl cây nêu, cng thêm nhng ting ng c*a nhng khánh t, là % báo hiu cho ma qu> bit r<ng ni y là nhà có ch*, khng fic ti quy nhi u... Câu i Tt . trang hoàng nhà ca và % thflng Xuân, vi ý ngha fic may m+n thnh vfing. Nhng câu i ngày xa c vit bng ch Nho (mu en hay vàng) trên nh ng tm giy hay hng ào cho nên th'ng c g i chung là câu i . Ngày nay fic vit b<ng ting Vit và bán tffii các chfi Tt. Hoa Tt Câu i Tt Cây nêu Tt. Hoa Tt . Min B+c th'ng chn cành ào & % c+m trên bàn th' ho$c cây ào trang trí trong nhà, theo quan nim ào có quyn l"c tr= ma và mi xu xa, màu & cha "ng sinh khí mffinh, màu ào & th+m là l'i cu nguyn và chúc phúc u xuân. 218
Ông Táo v Tri. Theo tc l ngày Tt ta, Táo Quân là v thn bo v bp nc và lo cho gia ình lun n ng m và hffinh phúc. Nên hàng nm c vào ngày 23 tháng chffip Âm lch, Táo Quân c!i cá chép bay lên tr'i % trình báo Ngc Hòang v các gia ình. R i n êm Giao Th=a mi trfl v trn gian. Do ó, nhà nào cng mua cá chép làm ng"a cõng ông Táo lên tr'i, % nh' ng cu xin Ngc Hòang cho gia ình fic tt Up. R i các òan th% dân gian, vào ngày ó, cng cùng t dâng S Táo Quân nh' xin Ngc Hòang cho òan th% fic thu#n bu m xuôi gió. Tc cúng ông Táo liên quan ti câu chuyn v s" tích sau ây: Vfi ch ng Trng Cao, Th Nhi khng có con, bu n phin th'ng cãi nhau. Mt ln vì cáu gi#n, Trng Cao ánh vfi, Th Nhi tc gi#n b& i. Th Nhi g$p Phffim Lang và h thành vfi thành ch ng. Mãi thy vfi không trfl v, Trng Cao hi h#n b& nhà i tìm vfi. Ht tin n 'ng, Trng Cao phi xin n. Mt ngày kia, Trng Cao vào úng nhà Th Nhi xin n. Th Nhi nh#n ra ch ng c lin h#u ãi. ang lúc y Phffim Lang v. Sfi ch ng hi%u nhm Th Nhi lin du Trng Cao vào ng rm. Phffim Lang vô tình t ng rm % ly tro bón rung. Trng Cao cht cháy. Thng ng'i ch ng c, Th Nhi nhy vào ám la cht theo. Phffim Lang thy v#y, nhy vào cu cng b cht cháy. Ngc Hòang cm kích, cho ba ng'i làm Táo Quân. Tffl tiên ngày Tt .Ng'i Vit Nam có tc h<ng nm m@i khi Tt n lffii trfl v sum hp di mái m gia ình. Nhiu ng'i mun fic khn vái trc bàn th', thm lffii ngôi m hay nhà th' tffl tiên. Nhiu ng'i cng mun thm lffii ni h ã t=ng sinh sng vi gia ình trong th'i niên thiu. "V quê n Tt" ã trfl thành thành ng chZ cuc hành hng v ni ci ngu n.Trc bàn th' nghi l truyn thng, n m$c l phc chZnh t, c chZ nghiêm trang, dn lòng trong sffich hng tâm linh cúng lffiy, nguyn sng xng áng vi ''b trên''. S" tín ng!ng y ã góp phn tffio thêm gía tr nhân vn, ffio c truyn thng, bo t n và phát huy bn s+c dân tc. S" th' cúng tffl tiên mách bo con cháu gi gìn ffio lý, n np gia phong, sng tình ngha 217 Điểm 2 Tinh hoa . Những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt, được ghi trên trống dồng cổ Ngọc Lũ Việt Nam, mà tổ tiên ta đã sáng tạo dùng hướng dẫn dân tộc ta được hạnh phúc, thành công chiến thắng xâm lăng giữ vững đất nước, sáng tạo văn chương nghệ thuật kỳ tài. Do đó, dân tộc ta đã không bị đồng hóa sau hàng ngàn năm do Tầu đô hộ. Mặt trống Ngọc Lũ Việt Nam Thành trống Ngọc Lũ Việt Nam . Như thế, nhờ Điểm 2 Tinh hoa, Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại đã biết sống Hòa hợp thiên nhiên Nhân bản để đươc khỏe mạnh tốt lành. Trong gia đình, biết hòa hợp với mọi người, và dung hòa hai chiều đối nghịch, để giữ vững hạnh phúc gia đình. Biết sống theo biểu tượng Tiên Rồng, để có tài trí như Tiên và sức mạnh như Rồng, đem lại thành công chiến thắng. Điểm 3 Tinh hoa . Các Phong tục tập quán, các truyện cổ tích, các ca dao tục ngữ của ta, là nền tảng giáo dục văn hóa dân tộc Việt, mà tổ tiên ta đã sáng tạo ra các hình thức sình hoạt tập thể, dùng để phát huy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt. Như Tục lệ Tết Ta, được diễn tả qua giá trị Đạo Ba tức Trời Đất Người hòa hợp. Nghĩa là Ngày Tết: Trời tươi sáng, Đất nở hoa, Người vui tươi hạnh phúc, mà tổ tiên muốn dân tộc ta sống hòa hợp với nhau để cuộc đời đươc hạnh phúc tươi vui như mùa xuân , là cảnh Trời Đất Người hòa hôp. Đạo Ba là Tam Tài, là Chân lý sáng ngời của dân tộc ta, là triết lý Nhân Bản, là Hòa hợp Thiên nhiên Nhân bản, tức sống hợp với Tục lệ Tết Ta. Truyện cổ tích Thạch Sanh. Thiên nhiên, hợp với Bản thiện (là Nhân Bản), để dân tộc ta sống được khỏe mạnh tốt lành, đem lại hạnh phúc thành công yên vui. Nên ca dao ta đã có câu: Cố sao giữ trọn Đạo Ba. Sau dù có thác cũng là thơm danh. Và Ta muốn được thành công phài có Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa. Rồi tiếp đến, như Tục lệ Đám cưới trầu cau, Tục lệ thi áo dài v.v. đều hàm chứa ý nghĩa đó. Như thế, nhờ Điểm 3 Tinh hoa, Tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại vui Tết, vui ám cưới trầu cau, Thi hoa áo dài v.v. đều để phát huy những giá trị truyền thống văn hóa dân tộc Việt, đem lại hạnh phúc thành công yên vui.. 56
CHƯƠNG I. TÌM HIỂU DI TRUYỀN VĂN MINH NGUỒN GỐC DÂN TỘC ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM . 57 Nói xong Thn bin mt. Lang Liêu y l'i, ã làm theo và dâng lên Vua cha. Sau khi thy v#t lffi mfl ra n ngon, và hi%u fic ý ngha, Vua cha ã cho Lang Liêu nht, và truyn ngôi cho Lang Liêu. Cui nm y, Vua cha ã dùng bánh dy bánh chng % làm l v#t dâng cúng Tiên bày t& lòng hiu tho. T= dó, thiên hffi b+t chc làm bánh dy bánh chng % cúng tffl tiên vào dp Tt ta. Nh th, Tc l Tt ta có ý ngha là Sng hòa hfip vi thiên nhiên, hòa hfip vi tình thng yêu oàn kt, cùng nhau t#n hflng nhng ngày thn tiên bên nhau, trong cnh Tr'i t Ng'i hòa hfip, % dân tc ta fic hffinh phúc vui ti luôn mãi nh mùa xuân. V#y chúng ta hãy c g+ng gi vng Tc l Tt ta. Ngoài ra Tt Ta còn có nhiu mu sc fic bit nh : Chfi Tt. Chfi Tt có không khí khác h]n vi nhng phiên chfi th'ng ngày trong nm. Mua s+m chu[n b cho ba ngày Tt th'ng khng phi % “có cái n” mà ó lpa2 thói quen, là dy lên khng khí ngày l hi. Chfi Tt fic b trí fl nhng ni t rng, có th% chfi fic thành l#p ngay ni chfi th'ng ngày v?n di n ra chuyn bán mua. Nhng trong chfi Tt, gn nh tt c “món ngon v#t lffi” u fic bày bán. Khng khí Tt thm fim th#t s" vào nhng ngày này bfli cnh ng'i mua hàng n$ng tru gi&. Chfi Tt Tffl tiên ngày Tt. 216
ffio Ba tc Tr'i t Ng'i hòa hfip , là Sng hòa hfip vi thiên Nhiên (tc Trfli t), hòa hfip vi Nhân Bn ( tc Ngfli) , % bn thân fic kh&e mffinh tt lành, gia ình dfic hffinh phúc. quc gia fic thnh tr, th gii fic hòa bình. Tffl tiên ta ã ly ý tflng ffio Ba, và chn th'i tit mùa Xuân % tác hành Tr'i t Ng'i hòa hfip, tffio d"ng khuôn m?u cho cuc 'i dân tc ta fic sng hffinh phúc ti vui mãi nh mùa xuân, và fic gi là Tc l Tt ta.. Nh th, Tc l Tt ta có ý ngha là Sng hòa hfip thiên nhiên Nhân Bn, tc sng hòa hfip vi thiên nhiên , hòa hfip yêu thng oàn kt, % dân tc ta fic hffinh phúc vui ti luôn mãi nh mùa xuân. $fic bit, Tt ta còn có bánh dy bánh chng vi ý ngh8a rt cao ffip. Theo huyn thoffii, vua Hùng Vng th 6 sau khi phá gi$c Ân t nc thái bình, Vua mun truyn ngôi cho con. Nên ã hi các hoàng t lffii và nói, n cui nm hoàng t nào dâng l v#t quí giá hiu tho nht, Vua sj truyn ngôi cho. Các hoàng t vâng l'i ã ra i kim * các loffii cao lng m v và các v#t quí % dâng lên Vua cha. Riêng có Lang Liêu là hoàng t th 9, m> m!i qua fli, thân cô, ang lo lng thì Thn hin ra trong m ng và ch@ b"o ly go và nhân làm bánh dy tròn biu t%ng cho Trfli, và làm bánh chng vuông biu t%ng cho t, bao hàm n Trfli t nuôi dFng. Ngoài ra, Trfli t còn có ý ngh&a là Hòa h%p, là sng hòa h%p %c hnh phúc, >p lòng t tiên. Bánh chng Bánh dy 58 215
TIẾT I. TÌM HIỂU KHÁM PHÁ MỚI NHẤT KHẢO CỔ VỀ DI TRUYỀN VĂN MINH DÂN TỘC VIỆT. A.TÌM HIỂU DI TRUYỀN VĂN MINH DÂN TỘC VIỆT, Qua Thiên Đàng ở phươug Đông Eden in the East Của BS Stephen Oppenheimer. Trước đây, giới trí thức Việt Nam, và ngay cả một phần lớn trong giới sử học Tây phương cũng từng quan niệm, hay nói đúng hơn là giả định, rằng các nền văn minh Đông Nam Á (kể cả của Việt Nam) chỉ là những chi nhánh của hai nền văn hóa lớn hơn: Trung Hoa và Ấn Độ. Giả định này đã được dùng như là một sử liệu, một thuyết đáng tin cậy để dạy học cho học sinh (trong đó có cả học sinh người Việt); và một cách vô tình, nó được lưu truyền hết thế hệ này sang thế hệ khác như là một sự thật ! Bởi vì qua nhiều năm, chẳng ai chất vấn lý thuyết này, nên một cách nghiễm nhiên, nó được xem là một “thuyết chính thống.”Mãi đến thập niên 60s thuộc thế kỷ 20, một số nhà khảo cổ học rất uy tín (phần lớn là Mỹ), dựa vào nhiều kết quả của một loạt nghiên cứu ở Việt Nam và Thái Lan, đã bắt đầu chất vấn sự chính xác và tính logic của thuyết chính thốngtrên đây Có thể nói họ là những “con cừu đen” trong giới tiền sử học, vì đã can đảm thách thức một quan điểm mà đại đa số đồng nghiệp đều mặc nhiên công nhận. Nhưng họ không phải là những người đơn độc. Gần đây, đã có một số nhà nghiên cứu từ Việt Nam, Thái Lan, và Nam Dương công bố 59 1 Giffi vffing T'c l T&t Ta. Tt ta là mt tc l cffl truyn cao quí nht c*a dân tc ta, % phát huy giá tr ffio Ba. Nó ã di n t mt khuôn m?u cuc sng hffinh phúc thành công c*a dân tc ta luôn lun fic ti Up mãi nh mùa xuân, mà tffl tiên ta ã sáng tffio % lffii. Tt Ta khác vi Tt Tu, vì có bánh dy bánh chng, và % di n t giá tr ffio Ba, nh trng ng cffl Vit Nam ã ghi . Nh chúng ta ã thy, vào nhng ngày Tt ta, mi ngfli u ha h%p vui ti, sng tràn y tình thng yêu oàn kt, tránh bt hòa, khng nhc n% nn, xóa b# hffln thù, tìm n nhau chúc tng nhau. V!i nhng nét m:t hân hoan, v!i nhng c ch@ thân mfflt vn vã, mfli nhau cùng n cùng ung, cùng vui chi tffln hng nhng ngày thn tiên bên nhau, trong c"nh Trfli t Ngfli hòa h%p. Tt có ngha là Tit, tc tit nhp hòa hfip gia Tr'i t Ng'i. Khi Tr'i t Ng'i tác hành hòa hfip. Tr'i ti sáng, t nfl hoa, Ng'i vui sng, tt Up. T= ó, Tr'i t Ng'i hòa hfip ã trfl thành 'ng li hng d?n con ng'i fic tt Up, nên mi gi là ffio Ba. (o là flng li, Ba là Trfli t Ngfli hòa h%p)…. Bfli th, ca dao ta mi có câu : C sao gi trn o Ba, Sau dù có thác c$ng là thm danh. 214
T I SAO PHI BO T~N CÁC PHONG TC TwP QUÁN VIT NAM. Phong tc t#p quán c*a dn tc ta là nhng np sng, nhng tc l, nhng thói quen c*a dân tc Vit, ã fic tffl tiên ta d"a vào nhng giá tr truyn thng vn hóa c*a dân tc ta, % hng d?n dân tc ta fic hffinh phúc thành cng yên vui. Các Phong tc t#p qun c*a dân tc ta chính là nn giáo dc vn hóa dân tc Vit Nam, Ta thy nhiu nht trong cac Phong tc t#p quán c*a dân tc ta là giá tr ffio Ba, là Chân lý sáng ng'i c*a dân tc ta. ffio Ba là Tr'i t Ng'i hòa hfip, là Tam Tài. ffio Ba là 'ng li Sng hòa hfip Thiên nhiên Nhân Bn, tc là sng hòa hfip vi thiên nhiên (làTr'i t), hòa hfip vi Nhân Bn (là tình Ng'i), tc tình thng yêu oàn kt, % bn thân dfic kh&e mffinh tt lành, gia ình fic hffinh phúc thành công, quc gia dfic thnh tr, th gii fic hòa bình. V#y chúng ta, nht là Tuffli Trff Vit Nam Hi Ngoffii, phi c g+ng bo t n các Phong tc t#p quán c*a dân tc ta, % gi vng fic Cng ng Ng'i Vit Hi Ngoffii trong tng lai . Sau ây chúng tôi xin trình bày mt s trong nhng Phong tc tffp quán c a dân tc ta ni bfft nht là : 1. Tc l Tt ta. 2. Tc l Gi' t Hùng V&ng. 3. Tc l $ám ci tru cau. 4. Tc l Mfic áo dài Vit Nam. 5. Tc l Thi hoa hffu áo dài Vit Nam. 213 nhiều dữ kiện khảo cổ học cho thấy rằng thuyết văn hóa Đông Nam Á xuất phát từ văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ không còn đứng vững nữa. Nhưng trong những nhà nghiên cứu chuyên môn này, chưa ai trình bày dữ kiện một cách có hệ thống và nghiên cứu một cách sâu xa bằng một nhà nghiên cứu “tài tử” là ông Stephen Oppenheimer trong cuốn sách "Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia" (tạm dịch là "Thiên đàng ở phương Đông: Lục địa chìm đắm của Đông Nam Á) . Trong tác phẩm này, qua những dữ kiện dồi dào được thu thập một cách công phu từ nhiều ngành nghiên cứu khác nhau, Oppenheimer trực tiếp thách thức cái thuyết chính thống, và làm thay đổi những quan niệm về thời tiền sử mà chúng ta từng hiểu và từng được dạy. Đặc biệt, cuốn sách đặt trọng tâm vào việc thẩm định lại các quan điểm về văn minh vào thời tiền sử ở Đông Nam Á, tác giả cho rằng: a. Trận đại hồng thủy tương tự như trong Kinh Thánh là có thật và xảy ra vào cuối thời đại Băng hà (Ice Age). b. Trận đại hồng thủy này xảy ra khoảng 8000 năm về trước làm chìm đắm lục địa Đông Nam Á, và làm cho dân chúng phải di tản đi các vùng đất khác để sống. Họ chính là những người gầy dựng nên nền văn hóa Tân Đồ Đá (Neolithic cultures) của Trung Quốc, Ấn Độ, Mesopotamia, Ai Cập và vùng đông Địa Trung hải, và do đó, họ là những người cha đẻ và vun đắp các nền văn minh vĩ đại ở phương Tây c. Những dân tộc thuộc quần đảo Polynesian không phải xuất phát từ Trung Quốc, nhưng có nguồn gốc từ Đông Nam Á. d. Người Trung Quốc không phải là người sáng chế ra kỹ thuật trồng lúa. Khoảng 9,000 đến 10,000 năm về trước, một số dân thuộc vùng Đông Nam Á đã là những nhà canh nông chuyên nghiệp đầu tiên của nhân loại (chứ không chỉ sống bằng nghề săn bắn), họ đã phát triển kỹ thuật trồng khoai và qua đó làm một cuộc cách mạng nông nghiệp. 60
Nói một cách khác cho rõ ràng hơn, qua công trình nghiên cứu này, Oppenheimer đề xuất một thuyết cho rằng Đông Nam Á là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Thuyết này thể hiện một thách thức rất lớn đến các tri thức về thời tiền sử đã và đang được lưu truyền trong giới khoa bảng. Và do đó, Oppenheimer đã, lần đầu tiên, đặt vùng Đông Nam Á vào vị trí xứng đáng của một vùng đất thường bị lãng quên bên cạnh hai nền văn minh lớn là Trung Hoa và Ấn Độ. Vùng đất giàu lịch sử nhưng bị lãng quên. Đông Nam Á là một trong những vùng đất với nhiều sắc dân và nhiều nền văn minh phong phú nhất và cổ nhất của nhân loại. Về mặt địa lý, có hai khu vực riêng biệt: một khu thuộc về đất liền và một khu thuộc về hải đảo. Khu vực đất liền thực ra gồm hai bán đảo: khu rộng lớn bao gồm Miến Điện (ngày nay gọi là Myanmar) thuộc hướng Đông Bắc, Thái Lan ở giữa, và Lào, Cam-bốt, và Việt Nam thuộc hướng Đông và Đông Nam; và khu nhỏ hơn bao gồm bán đảo Mã Lai, chạy dài từ Thái Lan xuống tận Miến Điện. Miến Điện có nhiều chùa chiền được kiến trúc một cách phi thường, nhiều lâu đài được chạm khắc rất tinh vi. Ở miền Bắc Thái Lan cũng còn lưu lại nhiều công trình kiến trúc vĩ đại mang đậm ảnh hưởng của Phật giáo. Vịnh Hạ Long thuộc phía bắc Việt Nam trồi lên những tác phẩm thiên nhiên như được chạm bằng đá vôi, mà có lẽ từng là một vùng lục địa khoảng mười ngàn năm trước đây. Cổ Loa, một huyện nhỏ của Việt Nam ngày nay, có lẽ là một trung tâm đô thị (hay một thành phố) đầu tiên của vùng Đông Nam Á, với niên biểu được ước đoán vào khoảng niên kỷ thứ ba trước Dương lịch. Những công trình kiến trúc ở Huế và Đà Nẵng cho thấy sự tương phản giữa hai nền văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ. Thành phố Huế, tuy lâu đời hơn, nhưng có nhiều công trình kiến trúc trẻ hơn, thành phố Đà Nẵng, nơi mà nhiều tháp Chàm còn lưu lại như những dấn ấn của văn minh Ấn Độ. Cam-bốt có đền Angkor Wat nối tiếng, và nhiều dấu vết của một nền văn minh sáng chói trước đây. Ai là người đã xây dựng những công trình này? Trong 212 61
CHNG III. TÌM HIU BO T~N CÁC PHONG TC TwP QUÁN CA TA. 211 Thiên Đàng ở Phương Đông, Oppenheimer chứng minh rằng chính những người dân địa phương đã xây dựng những công trình đồ sộ này. Ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ chỉ qua thương mại, chứ không phải qua xâm lăng. Với một lịch sử lâu đời và nhiều nền văn minh phong phú như thế, song Đông Nam Á lại không được các nhà sử học để ý đến như các vùng đất khác. Đây là một ví dụ về thành kiến của giới sử học Tây phương. Khoảng 200 năm trước đây, các nhà sử học khám phá rằng phần lớn hai họ ngôn ngữ Ấn và Âu (Indian và European) thuộc vào một họ ngôn ngữ mà ngày nay chúng ta gọi là nhóm Ấn-Âu (Indo-European language group). Khám phá này được đánh giá như là một thành quả vĩ đại của tri thức vào thời gian đó. Nhưng mỉa mai thay, trước đó vài năm, người ta đã phát hiện ra một nhóm ngôn ngữ khác, có tên là Austronesian, nhưng không đem lại một sự chú ý nào đáng kể trong giới khoa bảng Tây phương cả. Nhóm ngôn ngữ này hiện diện rất rộng, từ các vùng như Madagascar, Đài Loan ngày nay, Hawaii, và Tân Tây Lan, vượt Thái Bình Dương, đến tận Ấn Độ dương khá lâu, có thể trước khi Phật Thích Ca ra đời. Sách viết về nguồn gốc văn minh thế giới hoàn toàn không đề cập đến Đông Nam Á. Ngay cả khi đề cập đến khu vực này trong vài năm gần đây, các sách cũng chỉ viết một cách sơ sài vài hàng, với giọng văn thiếu nghiêm túc, nhưng lại tập trung vào hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, nhất là vào thời 2000 năm trước đây. Mãi đến thời gian gần đây, văn minh của Thời đại Đồng thiết Đông Sơn (Bronze Age), và các nền văn hóa trước đó (vào niên kỷ thứ nhất trước Dương lịch) của Việt Nam mới được công nhận như là văn minh nguyên thủy trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, số lượng nhà khảo cổ học trực tiếp gắn bó và chuyên môn nghiên cứu về các nền văn minh này vẫn còn rất ít, nếu không muốn nói là chỉ “đếm đầu ngón tay”. Trong khi đó, các trung tâm nghiên cứu thuộc các nước trong vùng như Việt Nam, Thái Lan, Nam Dương, v.v. thì lại bị hạn chế về chuyên môn, lẫn thiết bị và tài chính để làm có thể tiến hành những nghiên cứu loại tiền phong. 62
Khoảng trống lịch sử Có lẽ vì những lí do kể trên, ngành khảo cổ học, tuy với một bề ngoài mang vẻ chính xác cao, nhưng thực tế thì có khá nhiều khoảng trống. Khoảng trống lịch sử đáng chú ý nhất là quá trình tiến hóa sau thời kỳ nước biển bị dâng cao, và đặc biệt là vào thời kỳ Đồ Đá Mới, khoảng 8000 năm trước đây, nhất là sự lãng quên cho nền văn minh Đông Nam Á, vì thiếu dữ kiện. Thực vậy, ngoài Việt Nam và Thái Lan là hai nước có nghiên cứu khảo cổ tương đối trưởng thành và có khá nhiều dữ liệu gần đây, ở các nơi khác trong vùng, giới khảo cổ học chỉ mới bới đào phần trên mặt của thời đại Đá mới và Đồng thiết (Neolithic và Bronze Age). Cộng thêm vào đó là sự thiếu thốn các văn bản trong thời tiền sử thuộc vùng đất này cũng làm cho việc nghiên cứu thêm nhiều khó khăn. Nhưng dù sao đi nữa, so với các vùng khác trên thế giới, Đông Nam Á vẫn là một địa phương có nhiều thiếu sót về dữ kiện trong thời tiền sử. Trong "Thiên đàng ở phương Đông," Stephen Oppenheimer đặt một câu hỏi mà ai cũng phải suy nghĩ: người dân vùng duyên hải Đông Nam Á làm gì khi mực nước biển [10] dâng cao làm ngập xứ sở họ vào thời gần Thuộc kỷ pleitoxen? Câu trả lời của Oppenheimer dựa vào ba lý lẽ quan trọng: Thứ nhất, vào thời cao điểm của Thời đại Băng hà (khoảng 20.000 đến 18.000 năm trước đây), Đông Nam Á là một lục địa rộng gấp hai lần Ấn Độ ngày nay, và bao gồm cả phần đất mà người Tây phương thường gọi là bán đảo Đông Dương, Mã Lai và Nam Dương. Vào thời đó, Biển Nam (SouthChina sea), Vịnh Thái Lan và Biển Java là một vùng đất khô nối liền các khu vực của lục địa. Theo địa chất học, bán phần của vùng đất bị ngập chìm này được gọi là Thềm lục địa Sunda (tiếng Anh là Sundaland). Vùng đồng bằng của thềm lục địa này bị chìm đắm rộng lớn bằng Ấn Độ ngày nay. Sau Thời đại Băng hà, cuối cùng chỉ còn một số núi rải rác chung quanh quần đảo Mã Lai. Vùng biển nối giữa Hàn Quốc, Nhật Bản, và Đài Loan mà ngày nay ta gọi là Biển Đông (East China sea) từng là vùng đất liền. Một bằng chứng rất thuyết phục mới nhất (ba năm trước đây) là 63 KjT LUwN. K& ho)ch phát trin ng hng Tuffi trF Vit Nam hffli ngo)i, chú trfing nht là sng theo nn giáo d'c vn hóa dân tc Vit tuyt vi, t/c là sng phát huy nhffing giá tr# truyn thng vn hóa dân tc Vit, bfflo tn các phong t'c t(p quán c!a dân tc ta, các truyn cff tích huyn tho)i, các ca dao t'c ngffi, và hãnh din v ngun gc dân tc t nc Vit Nam, vi di truyn vn minh lâu i qua các thi )i vn hóa Sfln Vi, Hòa Bình, ông Sfln v.v. Sut chiu dài l#ch s" hfln bn ngàn nm vn hi&n, nh có nn giáo d'c vn hóa dân tc Vit tuyt vi, tff tiên ta ã hng dzn dân tc ta +c h)nh phúc thành công chi&n th;ng xâm lng, dù quân xâm lng to ln nh quân T-u, hay hùng m)nh nh quân Mông Cff c%ng phffli tan tành khi&p s+. B0i v(ý, dân tc ta mi không b# ng hóa sau hàng ngàn nm do T-u ô h. Phong t'c t(p quán c!a ta, là thành ph-n ch! y&u c!a nn giáo d'c vn hóa dân tc Vit tuyt vi. Trong lúc cha có chffi vi&t, Phong t'c t(p quán c!a ta, gm có T'c l T&t Ta, t'c l ám ci tr-u cau v.v. ã phát huy giá tr# )o Ba là Chân lý sang ngi c!a dân tc ta, hng dzn ân tc ta +c h)nh phúc thành công yên vui . V(y ngày nay, Tuffi trF Vit Nam Hffli Ngo)i hãy ni gót cha ông, ti&p t'c nêu cao chính ngh3a quc gia dân tc, và theo nn giáo d'c truyn thng vn hoá dân tc Vit tuyt vi, t)o s/c m)nh cho Tuffi trF Vit Nam, thng ti&n Cng ng Ngi Vit Hffli Ngo)i vffing m)nh. Và a t nc Vit Nam sm +c T< Do Dân Ch! gi-u m)nh, dân h)nh phúc m no. 210
Lý Ông Trfing (Qu(n Giao Ch$) (Hình 3) Cao ln sc mffinh phi th'ng. D!i thfli An Dng Vng, Tn Th'y Hoàng dem 50 vn binh ánh n!c ta ã b tht bi. (220 TCN). Vì quân Tu thy Lý Ông Trng cao l!n sc mnh phi thflng u s% hãi b# chy. Sau Vua An Dng Vng a Lý Ông Trng sang cng Tu %c yên. Vua Tn Th'y Hoàng rt mffing rF, ã dùng Lý Ông Trng d>p Hung nô. N!c Tu yên n, vua Tn Th'y Hoàng cho Lý Ông Trng v thm quê hng. Ri Ông b bnh cht quê nhà. 209 những công trình xây cất, tòa nhà được kiến trúc rất độc đáo vừa được khám phá dưới lòng biển thuộc Đài Loan. Thứ hai, Oppenheimer chứng minh rằng khoảng 9,000 đến 10,000 năm về trước, một số dân vùng Đông Nam Á đã là trở thành những nhà canh nông chuyên nghiệp, không chỉ là những người sống bằng nghề săn bắn ban sơ như giới khảo cổ học Tây phương mô tả. Ông trình bày dữ kiện liên quan đến trồng trọt khoai lang (khoai mỡ, yam) và khoai nước (taro) được tìm thấy ở Nam Dương, mà tuổi cỡ 15,000 đến 10,000 trước Dương lịch; kỹ thuật trồng lúa có sắp sỉ tuổi cũng được tìm thấy ở Mã Lai Á. Thứ ba, dựa vào dữ kiện và các yếu tố địa chất học, Oppenheimer cho rằng vào khoảng 8000 năm trước đây, mực nước biển tăng một cách đột ngột và gây ra một trận đại hồng thủy, và trận lụt vĩ đại này đã làm cho những nhà nông đầu tiên trên thế giới này phải di tản đi các vùng đất khác để mưu sinh. Tuyến đường di cư là theo hướng nam về Úc Đại Lợi, hướng đông đến Thái Bình Dương, và hướng tây đến ấn Độ Dương, và hướng bắc vào vùng đất liền Á châu. Trong quá trình di cư đến các vùng đất mới, họ đem theo ngôn ngữ, truyền thuyết, quan niệm tôn giáo, kinh nghiệm thiên văn, yêu thuật, và đẳng cấp xã hội đến vùng đất mới. Thực vậy, ngày nay, dấu vết của cuộc di dân trên vẫn còn ghi đậm trong các quần đảo Melanesia, Polynesia và Micronesia; dân chúng những nơi này nói tiếng thuộc hệ ngôn ngữ Austronesian có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Có lẽ người ta không ngạc nhiên khi thấy trong các dân tộc vùng Đông Nam Á, Trung Đông, Úc châu, và Mỹ châu đều có những câu truyện thần thoại về trận lụt vĩ đại này, và các câu truyện này có độ tương tự rất cao. Điều này chứng tỏ rằng các sắc dân này xuất phát từ một nền văn hóa nguyên thủy. Theo Oppenheimer, những người tỵ nạn này là những hạt giống cho những nền văn minh lớn khác mà sau này được phát triển ở Ấn Độ, Mesopotamia, Ai Cập, và Địa trung hải. 64
Ngoài phần nghiên cứu về thần thoại và truyền thuyết, Oppenheimer còn dùng một nguồn tài liệu đáng tin cậy nhất và mang tính khoa học và chính xác hơn là di truyền học. Các dữ kiện di truyền học chứng minh rằng các sắc dân trong quần đảo như Tân Guinea, Polynesia, Melanesia, v.v. có cấu trúc di truyền tố giống với các sắc dân thuộc vùng Đông Nam Á ngày nay. Gần đây, còn có một số nghiên cứu di truyền học cho thấy người Hán có nguồn gốc từ Đông Nam Á và có thể cả Bắc Á. Ông Oppenheimer viết, "Lý thuyết mà tôi trình bày trong cuốn sách này. lần đầu tiên, đặt Đông Nam Á vào trung tâm của các nguồn gốc văn hóa và văn minh. Tôi cho rằng nhiều người phải di tản khỏi vùng duyên hải của họ ở phương Đông vì lụt lội. Những người tỵ nạn này từ đó vun đấp những nền văn minh vĩ đại ở phương Tây." Một vùng đất văn minh tiến bộ Theo Oppenheimer, Atlantis của Đông Nam Á, tạm gọi là "Sundaland", bởi vì vùng này là một thềm lục địa Sunda, nơi từng là trung tâm hàng đầu về cuộc cách mạng thời đại đồ đá mới (Neolithic Revolution), bắt đầu phát triển kỹ thuật trồng trọt, dùng đá để nghiền hạt lúa, vào khoảng 24,000 ngàn năm trước đây, tức là trước cả Ai Cập và Palestine khoảng 10,000 năm. Một loạt khám phá khảo cổ gần đây đã đủ để xét lại thuyết cho rằng Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước đã khai hóa hay truyền bá văn minh cho các nước thuộc vùng Đông Nam Á. Thực vậy, khám phá về hạt lúa ở hang Sakai (miền Bắc Thái Lan) gần đây cho thấy cư dân ở đây đã biết trồng lúa rất xưa, có thể trước cả thời kỳ nước biển dâng cao vào khoảng 8000 năm về trước, ít nhất là từ thiên niên kỷ thứ 6 hay thứ 7 trước Dương lịch. Hệ thống nông nghiệp được tìm thấy ở Nam Dương có niên biểu lâu đời hơn cả thời đại mà những thành tựu được xem là "cách mạng" về trồng lúa ở Trung Quốc. Thực vậy, ở Nam Dương, kỹ thuật về trồng khoai lang và khoai nước được ước đoán có tuổi từ 15000 đến 10000 năm trước Dương lịch. Ở Việt Nam, 65 C. $in hình Giá trfl s 6. Xa kia, dân ta tài trí thông minh nh Nguy n Trãi , Nguy n Du., Nguy n BZnh Khiêm. Ho$c nh : Nguy^n Hin (Nam #nh) (Hình 1) Thông minh tài trí. Nm 12 tuffli #u trffing nguyên. S Tu qua thm, a bài th th tài. Các quan xem không ai hiu gì. Vua cho vfli ông t!i. Ông xem qua tr" lfli ngay. S Tu rt phc tài trí c'a ông. Hình 1 Hình 2 Hình 3 Lê Quý ôn. (Thái Bình) (Hình 2) Hc rng tài cao, Có trí nh siêu phàm. M t hôm,Ông xem qua quyn s ghi thiu thu ti nhà lý trng. Sau ó, nhà lý trng b cháy. Ông c cho vit li không sai m t ch. Ngoài ra dân ta còn nhiu ng'i thông minh tài trí. Riêng v ph n, Có bà oàn th i%m, bà H Xuân Hng v.v. là các danh nhân k tài. Còn v th% l"c, dân ta có sc kh&e phi th'ng. Nh : ông Lê Vn Khôi (Cao B<ng) con nuôi c*a T quân Lê Vn Duyt, tay không b+t cp d, làm s gi Xiêm thán phc. Ho$c nh : 208
SINH HO T CNG ~NG THÀNH CÔNG, (Hình 2) Cng nh' mi ng'i bit sng dung hòa ý kin i nghch ho$c khác bit. . GÍA TR S 6. Hun úc tinh thn tài trí nh Tiên và th l-c mnh m nh R%ng, !c hnh phúc thành công. A.Hình nh din t gía trfl s 5. Nhìn trng ng Ngc L I, chúng ta sj thy m$t trng có nhiu chim. Nên M$t trng fic tng trng cho Tiên. Còn thành trng có 6 thuyn r ng. Bfli th, Thành trng fic tfing trng cho R ng. ó di n t : Mfit trng ( T!ng trng Tiên) BIU TNG TIÊN R~NG. Ý ngh8a l : Hun úc tinh thn tài trí nh Tiên và th l-c mnh m nh R%ng, !c hnh phúc thành công. Thành trng (T!ng trng R%ng) B. Din gii Giá trfl s 6. T tiên ta ã chn Tiên Rng làm vfflt biu n!c ta, là hun úc tinh thn dân t c ta %c thông minh tài trí nh Tiên và th l+c có sc mnh nh Rng. Ri kt h%p phát huy nhng giá tr tuyt vfli c'a dân t c ta tffi lâu fli. Nên dân t c ta ã tr thành dân t c thông minh tài trí.Do ó, khi ra h"i ngoi, g:p a bàn thuffln l%i nh diu g:p gió, nhng ngfli Vit h"i ngoi ã thành công v/ vang mau chóng trên khp th gi!i. 207 khám phá ở Phùng Nguyên và bằng kỹ thuật định tuổi dùng Carbon-14 cho thấy tổ tiên ta từng trồng trọt ngũ cốc khoảng 5000 đến 6000 năm trước đây, tức là còn sớm hơn nhiều niên biểu của những thành tựu của người Trung Quốc. Ngoài ra, Nhà khảo cổ học rất uy tín gốc Mỹ, Giáo sư Wilhelm G. Solheim II, trong một loạt nghiên cứu từ 1965 đến 1968, cho thế giới thấy nền văn minh Hòa Bình là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15,000 năm trước dương lịch. Một Nhà khảo cổ học danh tiếng khác người Úc, Giáo sư Peter Bellwood, đã từng viết rằng quê hương nguyên thủy của cây lúa rất có thể là ở chung quanh vùng Đông Dương - Mã Lai - Miến Điện, vì ở đây khí hậu nhiệt đới là môi trường thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp. Trong Eden in the East, Oppenheimer cũng có kết luận tương tự: thay vào một mô hình cho rằng Trung Quốc là xứ sở nguyên thủy của kỹ thuật trồng lúa, chúng ta lại có một mô hình khác mà trong đó các dân tộc "man di" nói tiếng Nam Á ở Đông Dương dạy người Trung Quốc các kỹ thuật trồng lúa. Không những trong lĩnh vực nông nghiệp, mà ngay cả trong lĩnh vực kỹ nghệ chế biến, sản xuất, người Đông Nam Á, mà đặc biệt là người Việt Nam, đã phát triển kỹ thuật làm đồ đồng, đồ thiết và đồ gốm khá cao. Về các sản phẩm đồ đồng và thiết, người dân ở vào thời Phùng Nguyên đã từng sản xuất vũ khí, và mức độ sản xuất đã tăng vọt trong thời đại Đông Sơn. Thực vậy, vào thời Phùng Nguyên (tức là lúc thời kỳ khởi đầu của vua Hùng) tỷ lệ vũ khí tìm thấy trong các di vật dưới 1%; nhưng đến thời cuối vua Hùng, tỷ lệ này tăng lên khoảng 50 đến 63%. Nhiều khí giới khai quật gần đây ở Đông Sơn cho thấy cư dân ở đây là từng sản xuất nhiều vũ khí phức tạp (có chạm trổ tinh vi), có thể đánh xa và gây tổn thương hàng loạt cho đối phương. Người Trung Quốc vẫn cho rằng họ là người phát minh ra vũ khí dùng trong chiến trường. Đối chiếu với những khám phá ở Đông Sơn và Phùng Nguyên, xem ra thuyêt người Trung Quốc khám phá ra vũ khí đầu tiên không còn vững nữa! 66
Về đồ gốm, người Việt Nam đã sản xuất nhiều sản phẩm nghệ thuật công phu và thanh tú, và những sản phẩm này không những được bán trong khắp vùng Đông Nam Á, mà còn xuất khẩu qua tận xứ Melanesia. Thị trường xuất khẩu này đã hình thành trước sự ảnh hưởng của Ấn Độ. Các dụng cụ bằng đá tìm được ở Úc châu cũng từ Hòa Bình mà ra: tuổi của các đồ đá này được định là 14000 đến 20000 năm trước Dương lịch. Đồ gốm ở Nhật với tuổi khoảng 10000 năm trước dương lịch cũng xuất phát từ Hòa Bình. Giáo sư Solheim II nhấn mạnh rằng cả hai nền văn minh nổi tiếng của Trung Hoa là Lung Shan và Yang Sao đều xuất phát từ Hòa Bình. Như vậy, từ đồ gốm Phùng Nguyên đến trống đồng Đông sơn, tất cả đều chứng minh nền văn minh Việt Nam thời tiền sử đã đạt tới một trình độ cao trên thế giới. Quan trọng hơn là những phát triển này xảy ra trước thời văn minh Lung Shan và Yang Sao ở Trung Quốc. Trước, và đặc biệt là trong, thời kỳ nước biển dần dần dâng cao, người Sundaland di dân đến những vùng đất láng giềng: Trung Quốc, Ấn Độ, Mesopotamia, và vài hòn đảo từ Madagascar đến Phi Luật Tân, Tân Guinea, và sau này họ chiếm luôn vùng Polynesia cho đến Hawaii và Tân Tây Lan. Họ là những người thầy ở các vùng đất mới, dạy người địa phương những kỹ thuật trồng trọt và xây dựng. Người Hòa Bình còn truyền bá văn minh nông nghiệp đến nhiều nơi trên thế giới: Nhật, Đài Loan khoảng 4000 năm trước Dương lịch; Phi Luật Tân, Indonesia khoảng 3000 năm trước Dương lịch; Madagasca và Đông Phi châu khoảng 2000 năm trước Dương lịch. Bắc xuống Nam, hay Nam lên Bắc? Theo thuyết của Oppenheimer thì người Trung Quốc và Ấn Độ ngày nay có gốc gác từ Đông Nam Á, chứ không phải nguồn gốc của người Đông Nam Á là ở Trung Quốc hay Ấn Độ. Đây cũng là một đảo vòng xoay 180 độ về nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Mà, xem ra thuyết của Oppenheimer có nhiều "đồng minh." Một số học giả khác (như Madelaine Colani, J Hornell, 67 GÍA TR S 5. Dung hòa hai mfit i nghflch !c hnh phúc thành công. A. Hình nh din t gía trfl s 5. Nhìn m$t trng ng Ngc L I, chúng ta sj thy m$t trng fic phân bit làm ôi mt na chn mt na lff : Na chn g m có : àn chim 4 c$p, oàn múa 6 ng'i, Nóc nhà 2 chim. Na lff g m có : àn chim 3 c$p. oàn múa 7 ng'i. Nóc nhà 1 chim. ó di n t : S}NG V[I ÂM DNG. Mfit trng %ng Ý ngh8a l : Ngc L( I. Dung hòa hai mfit i nghflch !c hnh phúc thành công. B. Din gii Giá trfl s 5. Sng v!i Âm Dng ý ngh&a là mi s+ vic, s+ vfflt u có hai m:t i nghch nh Âm Dng. Do dó, bit dung hòa hai m:t i nghch sU tt >p. Còn ng%c li sU tai hi. Trong gia ình, ngoài xã h i, nu có tính tình hay ý kin trái ng%c nhau, hãy sng dung hòa sU tt >p, thành công. C. $in hình Giá trfl s 5. Hình 1 Hình 2 GIA ÌNH C H NH PHÚC. (Hình 1) Nh' mi ng'i bit sng dung hòa tính tình i nghch ho$c khác bit. Vfi ch ng sng chung th*y, hay con cái sng hiu , cng nh' bit dung hòa tính tình i nghch ho$c khác bit. 206
B. Din gii Giá trfl s 4. Xa kia, trong xã h i Vit Nam, ngfli ta rt chú trng b"o v nhng ngfli yu và %c gi là T" "n. Ri b;ng hành ng, ngfli ta ã cùng nhau i theo bên trái, và cài khuy áo dài bên trái (tc T" Nhfflm) v.v din t" ly yu thng mnh, ly nhu thng cng. Ý ngh&a là k/ mnh coi thflng i th' yu không phòng, và i th' nhm vào các nh%c im s h, và bt ngfl tn công chin thng. C. $in hình Giá trfl s 4. Hình 1 Hình 2 Hình 3 Tng Lý Th&ng Kit. (Hình 1). Mu l%c, làm bài th (Nam quc s&n hà), khích lòng quân s& tin tng hng hái chin u, ã ánh quân Tng thua th"m bi (1076). Bi th ó tr thnh B"n tuyn ngn c lfflp c'a ta. Vua Lê L!i. (Hình 2). Mu trí, chn rffing núi him tr, tìm s h ánh du kích lâu dài, quân gi:c hao mòn mt m#i. Sau 10 nm, vua ã chin thng 10 vn quân Minh git cht t!ng Liu Thng Chi Lng (1427), dành li c lfflp cho n!c ta. Vua QuangTrung. (Hình 3). Mu trí, l%i dng s h Quân Thanh ang say sa n Tt, Vua cho quân ta di chuyn thn tc ra Bc, và bt ngfl tn công vào ngày mng 3 Tt, Quân ta ánh tan 20 vn quân Thanh, t!ng Tu cht ti bfli. Trffln ng a (1789) ã chin thng oai hùng trong vòng 5 ngày, làm khip m quân Tu. 205 P. V. van Stein, Heine Geldern, Bernard Karlgren, N J Krom) cũng cho rằng làn sóng người từ Bắc Việt tràn xuống phía Nam và vào Ấn Độ trước khi vùng này bị giống dân Aryan xâm chiếm. Giáo sư Solheim II căn cứ trên những dữ kiện khảo cổ thì thấy rằng giống người Hoà Bình tràn lan xuống phía nam, lên hướng bắc, và sang hướng tây. Tại mỗi nơi, người Hòa Bình phối hợp với dân địa phương để tạo thành các chủng tộc mới của mỗi vùng. Mới đây thuyết Bắc-tiến còn có căn cứ khoa học vững vàng (dù lúc viết sách, ông Oppenheimer không biết đến), đó là: trong một bài báo khoa học quan trọng được công bố trên Tạp chí của Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa học Mỹ (một tạp chí khoa học rất uy tín trên thế giới) , một nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Texas (Mỹ) và Viện Nghiên cứu Di truyền học Trung Quốc cho thấy nguồn gốc của người Trung Hoa (và cả người Đông Á) rất có thể là do người từ Đông Nam Á di dân lên [11], chứ không phải ở Bắc di dân xuống Nam! Như vậy, cho rằng dân tộc Việt là xuát phát từ người Trung Quốc có thể là một ngộ nhận. Phải hiểu ngược lại thì mới đúng ! Một vài nhận xét Eden in the East là một tác phẩm độc đáo, được soạn thảo rất công phu và khoa học. Điều đáng chú ý là tác giả là một bác sĩ chuyên khoa về nhi đồng, không phải là một nhà khảo cổ học. Tuy nhiên, với khả năng và kiến thức khoa học của tác giả, ông đã tiếp nhận tri thức và xử lý thông tin từ nhiều nguồn như di truyền học, nhân chủng học, thần thoại, văn học dân gian, ngôn ngữ học, hải dương học, và khảo cổ học để cho ra đời một cuốn sách làm cho nhiều nhà nghiên cứu Đông Nam Á học và khảo cổ học phải bất ngờ. Thực vậy, Oppenheimer đã, không những trực tiếp chất vấn, mà còn thách đố, những thuyết mà giới chuyên môn, kể cả các học giả Việt Nam đề ra và chấp nhận như những "chân lý" thời tiền sử. Kể từ ngày xuất bản cuốn saùch cho đến nay (khoảng 3 năm), theo tôi biết, chưa một ai trong giới chuyên môn về Đông Nam Á học chất vấn tính khoa 68
học của thuyết mà Oppenheimer đề xuất. Thực ra, tất cả những bài điểm sách (khoảng 20 bài) mà tôi đọc qua không có một bài nào chất vấn cách làm việc hay khoa học tính của tác giả; tất cả đều ngợi khen một cách nồng nhiệt. Có người còn cho rằng đây là một quyển sách quan trọng vào bậc nhất trong ngành Đông Nam Á học! Đối với người viết bài này, một điểm yếu của quyển sách là những dữ kiện hay bằng chứng liên quan đến các câu chuyện thần thoại. Tác giả cố thuyết phục độc giả bằng cách trình bày mối tương quan giữa các nền văn hóa bằng những câu chuyện thần thoại có motif giống nhau, để từ đó chứng minh cho thuyết của ông (tức là văn minh nhân loại xuất phát từ Đông Nam Á). Tác giả thậm chí còn dùng thống kê học để thẩm định mối tương quan này! Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy những dữ kiện như thế có vẻ hời hợt, và thiếu tính thuyết phục cao. Đành rằng, nhiều nền văn hóa, và đặc biệt là những văn hóa thuộc vùng Á châu - Thái bình dương, có nhiều truyện thần thoại giống nhau, hay ít ra là song song nhau về lụt lội. Đây không phải là những sự ám chỉ tối tăm đến những sự kiện mang tính Freud trong tiềm thức nhưng là những sử kiện rõ rệt liên đới đến những thảm họa khi mực nước biển dâng cao sau thời đại Băng hà. Nhưng phương pháp xác định nguồn gốc của những câu chuyện thần thoại này là một vấn đề. Tuy nhiên, giữ cái điểm yếu đó trong khi đọc sách, tôi vẫn phải công nhận tác giả đã khảo cứu rất cẩn thận, tiếp thu và xử lý tài liệu rất chuyên môn. Thêm vào đó là lối hành văn trong sáng, và lý luận vững vàng, tác giả đã làm cho chúng ta phải suy nghĩ lại về nguồn gốc tổ tiên và văn minh của nhân loại ngày nay. Chúng ta cần nhiều tác phẩm loại này hơn nữa trong lĩnh vực khảo cổ học để cho thấy rằng tổ tiên chúng ta không chỉ sáng tạo ra địa cảnh (hay hải cảnh) mà chúng ta đang sống, nhưng địa cảnh và hải cảnh cũng tạo ra chúng ta. Tóm lại, nhiều khám phá khảo cổ học mới đây, và nhất là cuốn sách Eden in the East, đã nhanh chóng đưa vùng đất bị lãng quên của Đông Nam Á vào một nơi trang trọng của bản đồ thế 69 C. $in hình Giá trfl s 3. Hình 1 Hình 2 Hình 3 Hình 4 Hai Bà Trng. (Hình 1) Nhfl s+ oàn kt toàn dân, ã ánh ui Tô nh nhà ông Hán, dành li c lfflp cho n!c ta. (nm 40) Vua Ngô Quyn. (Hình 2) Nhfl quân dân oàn kt m t lòng, ã chin thng 20 vn quân Nam Hán, dành c lfflp cho n!c ta, v!i trffln Bch ;ng (938) /c Tr-n Hng )o (Hình 4) V!i s+ oàn kt cao qua H i ngh Diên Hng (Hình 3), ã chin thng 50 vn quân Mông C, trên sông Bch ;ng. (1288) GÍA TR S 4. Mu trí, Ly yu thng mnh, chin thng xâm lng. A. Hình nh din t gía trfl s 4. Nhìn m$t trng ng Ngc L I, chúng tasj thy tt c nhng oàn ng'i,nhng àn chim, thú u i theo hng ngfic kim ng h . ó di n t : I THEO BÊN TRÁI VÀ T NHwM. Ý ngh8a l : Mu trí, Ly yu thng mnh, $i theo bên trái chin thng xâm lng. và T nhffm. 204
Khi thy Mái cong nh nhà th' Phát Dim (Hình 1), hay Mái cong nh chùa Mt Ct (Hình 2), chúng ta hãy ngh n : S" Hòa hfip sj em lffii hffinh phúc gia ình. T= ó, mi ng'i trong gia ình hãy c g+ng sng Hòa hfip vi nhau % fic Mái m gia ình (Hình 3). GÍA TR S 3. $oàn kt là s#c mnh chin thng xâm lng. A. Hình nh din t gía trfl s 3. Nhìn trên thành trng ng Ngc L I, chúng ta sj thy có 6 chic thuyn r ng cong. ó di n t : THUY\N R~NG CONG. Thành trng %ng Ngc L( I Ý ngh8a l : $oàn kt là s#c mnh chin thng xâm lng. Thuyn r%ng cong. B. Din gii Giá trfl s 3 . Hình thuyn r%ng cong ch các chin s8. Thuyn r%ng ch[ s#c mnh i thuyn, nét cong là oàn kt, chin s8 bo v t nc. Ý ngh[a là oàn kt có s#c mnh nh R%ng, bo v t nc, chin thng xâm lng. S d8 dùng thuyn R%ng, t!ng trng cho dân tc ta có s#c mnh tài gi=i i thuyn nht $ông Nam Á. Do ó, vua Ngô Quyn và $#c Trn Hng $o ã phát huy giá trfl này dùng sông Bch $"ng chin thng quân Nam Hán và Mông C. 203 giới, và là cái nôi của văn minh nhân loại ngày nay. Và qua những khám phá này, chúng ta đã có dữ kiện để đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam, chất vấn những thuyết mà ta từng được dạy và từng tin như là những chân lý. Chúng ta có bằng chứng để phát biểu rằng trước khi tiếp xúc với người Hán từ phương bắc (Trung Quốc) đến, tổ tiên chúng ta đã tạo dựng nên một nền văn minh khá cao, nếu không muốn nói là cao nhất trong vùng Đông Nam Á. Đô thị cổ xưa nhất trong vùng là do tiền nhân của chúng ta xây dựng. Tổ tiên chúng ta là những nhà kỹ thuật giỏi, đã biết sản xuất vũ khí để đánh giặc, đã đúc được những trống đồng tinh xảo để truyền lại những ý tưởng và triết lý cho hậu duệ, và cũng có thể nói họ cũng là những nghệ sĩ tài ba, ham thích múa hát và thổi kèn. Tổ tiên chúng ta đã phát triển và ứng dụng kỹ thuật trồng lúa trước người Hán, hay là những người thầy dạy cho người Hán trồng lúa (chứ không phải ngược lại.) Và có thể tổ tiên chúng ta cũng chính là tổ tiên của người Trung Quốc ngày nay. Do đó, chúng ta có thể hãnh diện về di truyền văn minh của dân tộc Việt. Theo tài liệu : Nhân đọc “Eden in the East”: Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam. của GS.TS Nguyễn Văn Tuấn 70
B. TÌM HIỂU DI TRUYỀN VĂN MINH DÂN TỘC VIỆT, QUA CÁC THỜI ĐẠI VĂN HÓA VIỆT NAM. Thời đại đồ đá cũ. (có niên đại 2 triệu đến10 ngàn năm TCN) Văn hóa Sơn Vi Sơn Vi, Vĩnh Phú thuộc hậu kỳ thời đại đá cũ, có niên đại cách đây 11-18 nghìn năm, phân bố rất rộng trong các hang động và thềm sông cổ từ Lào Cai đến Nghệ An. Những nhóm cư dân nguyên thủy này sinh sống bằng hái lượm và săn bắt trong một hệ sinh thái miền nhiệt - ẩm với một thế giới động vật và thực vật phong phú, đa dạng. Cách ngày nay khoảng 11.000 năm đến 2.000 trước Công Nguyên các cư dân Việt cổ đã tụ cư đông đúc tại khu vực trung du Bắc Bộ Việt Nam phát triển sinh sôi bằng săn bắn hái lượm trên một vùng bán sơn địa dồi dào sản vật: muông thú, các loài chim, các sản vật động thực vật của các vùng sông nước lưu vực sông Hồng ngập nước và rút khô, theo các mùa trong năm. Thời đại đồ đá mới ((có niên đại 8 đến 3 ngàn năm TCN) Văn hóa Hòa Bình. Các di chỉ khảo cổ phát hiện ở các hang động Hòa Bình rất phong phú và khá dày đặc tạo thành thuật ngữ "Văn hóa Hòa Bình". Hòa Bình, một địa danh bên dòng sông Đà, là nơi đầu tiên các nhà khảo cổ học khám phá ra một nền văn hóa thuộc cuối thời đồ đá cũ đến thời đồ đá mới trên một vùng ảnh hưởng rộng lớn thuộc Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. 71 GÍA TRI S 2. Trong gia ình, mi ngi sng Hòa h!p, !c hnh phúc. A. Hình nh din t gía trfl s 2. Nhìn m$t trng ng Ngc L I, chúng ta sj thy có hai hình mái nhà cong i xng nhau gia m$t trng. Mt nhà trên nóc có mt chim #u. Còn nhà kia có hai chim #u . ó di n t : MÁI NHÀ CONG. Mfit trng Ngc L( I. Ý ngh8a l : Trong gia ình, mi ngi sng Hòa h!p, !c hnh phúc . Mái nhà cong. B. Din gii Giá trfl s 2 . Vì th a xa cha có ch vit, t tiên ta ã dùng hình t!ng Tròn ch[ Tri và Vuông ch[ $t. Tròn Vuông kt h!p vi nhau thành hình cong. T) ó hình cong ch[ s- hòa h!p, oàn kt. Do dó, Mái nhà b"ng tre c(ng phi c làm sao un cho cong. Ý ngh8a là mi ngi trong gia ình hãy sng hòa h!p !c Mái m gia dình. C. $in hình Giá trfl s 2. Hình 1. Hình 2 Hình 3. Nhà th Phát Dim Chùa Mt Ct Mái m gia ình. 202
B. Din gii Giá trfl s 1. Xa kia, T tiên ta ã chiêm nghim : Khi Trfli t Ngfli tác hành hòa h%p, Trfli ti sáng, t n hoa, Ngfli vui s!ng, tt >p. Tffi ó, Trfli t Ngfli hòa h%p ã tr thành flng li h!ng dZn con ngfli %c tt >p, nên ã gi là o Ba. (o là flng li, Ba là Trfli t Ngfli ha h%p). Vì vffly, ca dao ta m!i có câu : C sao gi trn o Ba, Sau dù có thác c$ng là thm danh. Nh th, o Ba là Tam Tài, là Chân lý sang ngfli c'a dân t c ta, là flng li sng theo Hòa h%p Thiên nhiên Nhân B"n, tc là sng hòa h%p v!i Trfli t, hòa h%p v!i tình Ngfli, là tình thng yêu oàn kt, b"n thân %c kh#e mnh tt lành, gia ình %c hnh phúc thành cng, quc gia %c thnh tr, th gi!i %c hòa bình. C. $in hình Giá trfl s 1. T tiên ta ã ly ý tng o Ba, và chn thfli tit mùa Xuân tác hành Trfli t Ngfli hòa h%p, to d+ng khuôn mZu cho cu c fli dân t c ta %c sng hnh phúc ti vui nh mùa xuân, và %c gi là Tc l Tt ta. Nh th, Tt có ngh&a là Tit,Tit c'a mùa xun, v!i Trfli t Ngfli hòa h%p. Tc l Tt ta. Vffy chng ta hãy gi vng Tc l Tt ta. 201 Đặc điểm Bắc Bộ Văn hóa Đông Sơn là một giai đoạn trong nền văn minh sông Hồng, kế thừa và phát triển từ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Phùng Nguyên, Văn hóa Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun. Văn hoá Đông Sơn có những nét độc đáo riêng đồng thời vẫn mang nhiều điểm đặc trưng của văn hoá vùng Đông Nam Á và nền văn minh lúa nước. Đây cũng là thời kỳ ra đời nhà nước phôi thai đầu tiên của Việt Nam dưới hình thức cộng đồng làng và siêu làng. Các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một nền văn hóa gồm nhiều di vật rất sớm. Các công cụ bằng đồng, bằng đồ gốm cùng với di chỉ những khu luyện đúc đồng thời xa xưa trên đất Việt cổ. Thời kỳ đầu của văn hóa Đông Sơn, các cư dân người Việt cổ phát triển và giao lưu trong phạm vi hạn chế do đặc điểm rừng rậm nhiệt đới, sản vật và thức ăn dồi dào nên chưa chịu ảnh hưởng nhiều của các nền văn hóa ngoài. Việc khai phá đồng bằng sông Hồng chưa đặt ra cấp thiết do dân cư chưa đông đúc và nhu cầu kiếm sống và sinh hoạt chưa ra khỏi vùng trung du Bắc Bộ. Chính yếu tố đó đã giúp người Việt hình thành một cộng đồng có tính thuần nhất, họ chính là tổ tiên của người Việt hiện đại. Cụm từ "Văn hóa Hòa Bình" được giới khảo cổ học chính thức công nhận từ ngày 30 tháng 1 năm 1932, do đề xuất của Madeleine Colani, sau khi đã được Đại hội các nhà Tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội thông qua. Khởi thủy, cụm từ này được dùng để nói đến nền văn hóa cuội được ghè đẽo trên khắp chu vi hòn cuội để tạo ra những dụng cụ từ thời đá cũ đến thời đá mới. 72
Qua thời gian, tất nhiên, cụm từ này đã được đề nghị mang những tên khác nhau và có những ý nghĩa cũng khác nhau. Lúc đầu, nó chỉ nói về nền văn hóa có khoảng không gian là miền Bắc Việt Nam, và khoảng thời gian không quá 5.000 năm trước đây. Nhưng khoảng không gian lẫn thời gian trên được nới rộng dần. T. M. Matthews có lẽ là người đầu tiên đã đem "Văn hóa Hòa Bình" vượt khỏi lãnh thổ Việt Nam đến các vùng Đông Nam Á, và rồi người ta nói đến Văn hóa Hòa Bình ở Miến Điện, Campuchia, Lào, Malaysia, Sumatra, Thái Lan, Ấn Độ, Tứ Xuyên ... Nhưng có lẽ không ai mở rộng ảnh hưởng của Văn hóa Hòa Bình bằng Gs. W. G. Solheim II. Về không gian, ông đã đưa Văn hóa Hòa Bình, phía Đông Bắc đến Philippines, Nhật Bản, phía Tây đến Thái Lan, phía Nam đến tận Úc và phía Bắc bao trùm cả hai nền văn hóa cổ của Trung Hoa là Văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao) và Văn hóa Long Sơn ( Longshan). Về thời gian, ông không định rõ, nhưng tuyên bố không ngạc nhiên nếu thấy việc thuần hóa cây lúa nước đã có tại Hòa Bình từ 15.000 năm trước Công Nguyên, và những dụng cụ đá mài có lưỡi bén tìm thấy ở Bắc Úc có tuổi khoảng 20.000 năm trước Công Nguyên đo bằng cacbon C14 có nguồn gốc từ nền Văn hóa Hòa Bình. Đấy là chưa kể đến dự phóng của ông về niên đại Hòa Bình lên đến 50.000 năm trước khi ông viết "Đông Nam Á và tiền sử học thế giới" đăng trong Viễn Cảnh Châu Á, tập XIII năm 1970. Riêng trong phạm vi nước Việt Nam ngày nay, Văn hóa Hòa Bình được khoa học khảo cổ phân chia thành ba thời kỳ: * Hòa Bình sớm, hay Tiền Hòa Bình, có niên đại tiêu biểu là di chỉ Thẩm Khuyên (32.100 ± 150 trước Công Nguyên), Mái Đá Điều, Mái Đá Ngầm (23.100 ± 300 TCN). * Hòa Bình giữa, hay Hòa Bình chính thống, tiêu biểu bởi di chỉ Xóm Trại (18.000 ± 150 TCN), Làng Vành (16.470 ± 80 TCN). * Hòa Bình muộn, tiêu biểu bằng di chỉ ở Thẩm Hoi (10.875 ± 175), Sũng Sàm (11.365 ± 80 BP, BLn - 1541/I). 73 (chc töùc laø 2). Nhaø phaûi 3 gian 2 xöa phaûi hình troøn loã vuoâng. Ngöôøi quaân töû phaûi ñoäi noùn troøn ñi giaày ñaàu vuoâng. Caùc baø ñi haøi cong. Maùi nhaø cong, thuyeàn roàng cong v.v. Taát caû nhöõng hình töôïng và huyeàn soá dieãn taû, ñeàu coù yù nghóa laø soáng hoøa hôïp ñem laïi toát ñeïp, hoaëc soáng theo Ñaïo Ba ñeå ñöôïc han ï h phuùc thaønh coâng yeân vui. NHNG GIA TR TRUY\N TH}NG VN HÓA DÂN TC VIT NAM. GIA TR S 1. Hoa h!p Thiên nhiên Nhân Bn $ !c hnh phúc thành công yên vui. A. Hình nh din t gía trfl s 1. Nhìn m:t trng ng Ngc L$ I, chúng ta sU thy gia là hình m:t trfli có nhiu tia sáng (Trfli). Ri ra phía ngoài là vòng nhng oàn ngfli nh"y múa (Ngfli). K tip là n vòng nhng àn gà, hu nai ang i nh n nhp. Tip theo là nhng àn chim m# dài ang bay, xen kU là chim m# ngn ang ng (t). Mfit trng %ng Ngc L( I. $ó din t gi trfl s 1: TRI ZT NGI HA HP Ý ngh8a là : Sng theo Hòa h!p Thiên nhiên Nhân Bn, $ !c kh=e mnh tt lành, $em li hnh phúc thành công yên vui. 200
TÌM HIU PHÁT HUY NHNG GIÁ TR TRUYEÀN THOÁNG V N HOÙA DAÂN TOÄC VI T QUA TROÁNG ÑOÀNG COÅ VIEÄT NAM. Suoát chieàu daøi lòch söû hôn boán ngaøn naêm vaên hieán, toå tieân ta ñaõ dùng nh ng giaù trò tuyeät vôøi, töùc giaù trò truyeàn thoáng cuûa daân toäc ta, ñöôïc ghi treân troáng ñoàng coå Vieät Nam, ñeå höôùng daãn daân toäc ta ñöôïc haïnh phuùc thaønh coâng chieán thaéng xaâm laêng, duø quaân xaâm laêng to lôùn nhö quaân Taàu, hay huøng maïnh nhö quaân Moâng Coå cuõng phaûi tan taønh khieáp sôï. Nhôø ñoù, daân toäc ta môùi khoâng bò ñoàng hoùa sau haøng ngaøn naêm do Taàu ñoâ hoä. Nhöõng gía trò truyeàn thoáng tuyeät vôøi ñoù , ñaõ ñöôïc caùc trieát gia, vaø caùc nhaø khaûo coå nghieân cöùu gii mã ý ngh8a các hình t!ng (tròn vuông, cong), các huyn s (2,3) !c din t trong huyn tho i ca dao, ho fic trên hoa vn các trng %ng c Vit Nam, do t tiên ta ã li, vì Troáng ñoàng Ngoïc Luõ I xa ch a có ch vit. Roài ñoái chieáu vôùi nhöõng thaønh quaû lòch söû, vaên chöông vaø ñôøi soáng cuûa daân toäc ta, nhöõng giaù trò truyeàn thoáng vn hóa dân tc Vit ã !c ghi li, vaø !c ph bin. Töø ñoù , ta thaáy raát nhieàu hình töôïng Troøn vuoâng, cong, vaø huyeàn soá 2, 3 trong i sng daân tc ta. Nhö Teát ta phaûi coù 3 ngaøy. Maëc aùo daøi treân 2 khuy döôùi 3 nuùt. Ñaùm cöôùi phaûi coù traàu, cau, voâi.(soá 3). Caùc ñoà cuùng nhö lö, töôùc, giaû phaûi coù 2 tai 3 chaân. Ñoà taùng xöa coù boä 3 caùi chaïc chaùi. Xöa kia vua ñi xe phaûi mui troøn, thuøng vuoâng. Ñoàng tieàn 199 Văn hóa Bắc Sơn Văn hóa Bắc Sơn là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau nền văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay từ một vạn đến tám ngàn năm. Bắc Sơn là đặt theo tên huyện Bắc Sơn, nơi phát hiện đầu tiên những di vật của nền văn hóa này. Không gian của văn hóa Bắc Sơn là các miền đất thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An..ngày nay. Tính đến năm 1997, đã có 51 điểm văn hóa Bắc Sơn được tìm thấy và khai quật. Trong số đó, có 8 địa điểm tìm thấy di cốt người. Trên lưu vực sông Hồng, các nhà khảo cổ học đã xác lập chắc chắn được một phổ hệ gồm 3 giai đoạn trước Văn hóa Đông Sơn và sau Văn hóa Hòa Bình diễn ra trong thiên niên kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên: * Giai đoạn Văn hóa Phùng Nguyên thuộc sơ kỳ đồng thau. * Giai đoạn Văn hóa Đồng Đậu thuộc trung kỳ đồng thau. * Giai đoạn Văn hóa Gò Mun thuộc hậu kỳ đồng thau. Thời đại đồ đồng đá. Văn hóa Phùng Nguyên Di chỉ đá muộn Phùng Nguyên Việc phát hiện ra di chỉ ở Phùng Nguyên thuộc về các nhà khảo cổ học Việt Nam (năm 1959). Giai đoạn này các nhà khảo cổ học chưa tìm thấy nhiều các hiện vật bằng đồng. Di vật ở lớp 74
Văn hóa Phùng Nguyên chủ yếu là các công cụ đá mài sắc sảo, có vai và đặc biệt khá nhiều đồ trang sức bằng đá. Có thể liệt kê số di vật tìm thấy ở các lần khai quật di chỉ Phùng Nguyên là: 1.138 rìu, 59 đục, 3 giáo, 2 mũi nhọn, 7 mũi tên, 1 cưa, 189 bàn mài; 540 vòng tay, 8 khuyên tai, 34 hạt chuỗi, 3 đồ trang sức và hàng chục vạn mảnh đồ gốm 1. Theo đánh giá của giới khoa học, cư dân Phùng Nguyên là những người đã định cư ổn định và sống theo từng cụm dân cư làng xã chặt chẽ và đã thực sự có những khu vực sản xuất thủ công, mỹ nghệ. Văn hóa Phùng Nguyên đã phát triển liên tục vào khoảng thiên niên kỷ thứ 2 trước Công Nguyên tức cách đây khoảng từ 3.000 đến 4.000 năm. Những kết quả phân tích phóng xạ đồng vị C14 của carbon đã xác định là những truyền thuyết về kỷ Hồng Bàng khoảng 4000 năm xưa là có cơ sở.. Thời đại đồ đồng Văn hóa Đồng Đậu Giai đoạn Đồng Đậu, căn cứ vào di chỉ khảo cổ Đồng Đậu Vĩnh Phúc phát hiện năm 1964 có niên đại là 3070 ± 100 năm cách ngày nay (nửa sau thiên niên kỷ II trước công nguyên). Hiện vật đồ đồng sớm nhất châu Á của người Việt Cổ Văn hóa Gò Mun Giai đoạn Văn hóa Gò Mun căn cứ vào di chỉ Gò Mun thuộc Phú Thọ, phát hiện năm 1961 tồn tại vào nửa đầu thiên niên kỷ I trước công nguyên, có niên đại C14 là: 3045 ± 120 năm cách năm 1950[3] thuộc văn hóa Gò Mun. Đặc điểm của giai đoạn này là kỹ thuật luyện kim khá phát triển, công cụ bằng đồng thau chiếm ưu thế (52%). 198 75
CHNG II TÌM HIU PHÁT HUY NHNG GIÁ TR TRUYEÀN THOÁNG VN HOÙA DAÂN TOÄC VIT QUA TROÁNG ÑOÀNG COÅ VIEÄT NAM. 197 Thời đại đồ sắt Văn hóa Đông Sơn Giai đoạn Đông Sơn căn cứ vào hiện vật thuộc di chỉ Đông Sơn Thanh Hóa có niên đại sớm là 2820 ± 120 năm[. Ngoài ra còn nhiều di chỉ thuộc giai đoạn văn hóa Đông Sơn có niên đại kế tiếp nhau như Việt Khuê, Làng Vạc, Châu Can đã được phát hiện. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ sự phát triển rực rỡ của đồ đồng đạt đến mức hoàn hảo cả về mặt kỹ thuật và mỹ thuật sang sơ kỳ đồ sắt. Giai đoạn cuối của văn hóa Đông Sơn kéo dài đến vài ba thế kỷ sau Công nguyên. Từ những trống đồng và những hiện vật phát hiện được ở Đông Sơn, các nhà khảo cổ nhận định rằng: nền Văn hóa Đông Sơn là sự phát triển liên tục và kế thừa từ Văn hóa Phùng Nguyên , Cư dân Đông Sơn phát minh ra luyện kim, đúc đồng, phát hiện được những khuôn đúc đồng và xỉ đồng r ồi tiến lên nghề luyện sắt. Với kỹ thuật luyện đồng, cư dân Đông Sơn đã tạo nên bước ngoặc, loại trừ hẳn đồ đá. Trong một số di tích thời Hùng Vương như Tiên Hội, Đường Mây, Gò Chiền Vậy, Đồng Mõm, Vinh Quang tìm thấy các di vật bằng sắt. Miền Bắc Việt Nam từ nghìn xưa vốn có nhiều mỏ kim loại như các mỏ vàng, bạc, đồng, chì, sắt .. Các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên Tuyên Quang Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa.. có hàng chục mỏ đồng. Những mỏ này thường nhỏ, nông và lộ thiên, thuận tiện cho cách khai thác giản đơn. Đó là điều kiện đầu tiên để có thể phát triển một nền văn hóa đồ đồng rực rỡ. Bước đầu hợp kim đồng chủ yếu dùng để chế tạo các đồ nghề, đòi hỏi có tính năng kỹ thuật sắc bén, bền chắc. Sau đó hợp kim đồng chuyển mạnh vào lĩnh vực đồ dùng hằng ngày: các loại thạp, thố, trống đồng đòi hỏi sản xuất 76
nhi ều. Những đồ v ật này l ại c ần phải trang trí đẹp, ph ức t ạp và như vậy c ần h ợp kim có tính năng dễ đúc để d ễ trong khi đúc. Do đó mà cư dân Đông Sơn sử dụng hợp kim đồng, thi ếc,chì. 1- Công ngh ệ luyện kim và đúc đồng tiến trình như sau: Th ời Hùng Vương thì th ấy trong thành ph ầ n hợp kim đồng, t ỷ lệ đồng và thi ế c gi ảm xu ống và t ỷ l ệ chì tăng lên. M ặt khác, h ợp kim m ới v ới 3 thành ph ần chính có nhiệt độ nóng ch ảy thấp hơn, do đó giảm b ớt những khó khăn trong việc n ấu và đúc, và như vậy, cư dân Đông Sơn lúc đó đã biết đến điểm nóng ch ảy th ấp. Điều n ữa, ở giai đoạn Đông Sơn, thành phần c ủa các kim lo ại trong h ợp kim đồng - thi ếc - chì (hoặc đồng - chì - k ẽm) lại thay đổi theo chức năng của t ừng loại đồ ngh ề , đồ dùng hay vũ khí. 2. Hai nhà nước Văn Lang và Âu L ạc thuộc Văn hóa Đông Sơn th ời k ỳ công ngh ệ Luyên hợp kim đồng phát tri ển. Các nhà kh ảo c ổ phát hiện lưỡi cày và các di tích trâu bò c ủa ngh ề nông lúa nước và các ngôi m ộ cùng nhì ều di tích trong m ỗi m ộ thời nước Văn Lang, rồi các mũi tên đồng ở thành C ổ Loa nước Âu Lạc . Địa điểm C ổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng đánh cá và thủ công nghi ệp. và s ống b ằng nông nghi ệp chuy ên v ề kỹ thu ật trồng lúa nước, Trải qua 85 năm nghiên c ứu, các nhà kh ảo c ổ xác nh ậ n s ự th ống nh ất gi ữa người L ạc Vi ệt và người Âu Vi ệt trong nước Âu L ạc. S ự th ống nhất được th ể hi ện rõ nhất là sưu tập đồ đồng Đông Sơn. V ề t ổ ch ức Xã h ội, s ự phát tri ển m ạnh m ẽ c ủa n ền kinh t ế , s ự phân công lao động xã h ội gi ữa nông nghi ệ p và th ủ công nghi ệp , s ự trao đổi s ản ph ẩm và các nguyên li ệu giữa các địa phương ngày càng mở rộng dưới th ời Hùng Vương và An 77 thành tổ tiên của người Việt hiện nay. Viết “Lời cáo chung cho thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt” tác giả Hà Văn Thùy đưa ra những chứng cứ xác đáng chứng mình rằng 2000 năm trước khi Câu Tiễn ra đời, người Việt đã có mã di truyền như hôm nay! Cố nhiên, Sở Hùng Cừ và Câu Tiễn chỉ là con cháu 2000 năm sau của Vua Hùng! Một vấn đề đang gây tranh cãi của lịch sử nước ta là vai trò của Triệu Đà. Từ nhiều nguồn tư liệu, tác giả nhiệt thành ủng hộ quan điểm cho rằng Triệu Vũ đế là ông vua đầu tiên sáng lập nước Việt Nam. Khi cuốn tiểu thuyết Tôtem Sói gây sóng gió trên văn đàn, tác giả nhanh nhạy phản bác ảo tưởng phát xít của tác giả này và khẳng định: “Để cứu thế gian trong tình trạng chuông treo chỉ mành hôm nay, không có cách nào khác là trở về với văn hóa phương Đông cội nguồn. Có nghĩa là phải đưa thế giới trở lại sự cân bằng giữa Âm và Dương trên nền tảng Đất Mẹ, của quẻ Khôn nhu thuận, cưu mang, nuôi nấng.” Đọc trong sách ta còn gặp những phát hiện bất ngờ: thành Cổ Loa không hề có hình xoăn ốc; hòn đá có hình người cụt đầu đang thờ ở am Mỵ Châu cần được vứt bỏ vì nó không đúng với sự kiện lịch sử và xuyên tạc văn hóa Việt… Năm 2007 với cuốn “Tìm Lại Cội Nguồn Văn Hóa Việt”, tác giả đưa ra những ý tưởng rất mới mẻ về cội nguồn sinh học và văn hóa của Việt tộc. HÀNH TRÌNH TÌM LẠI CỘI NGUỒN , cuốn sách thứ hai , là sự khẳng định mạnh mẽ những đề xuất trước đó và nâng cao độ tin cậy khoa học. Cuốn sách này có sinh mệnh riêng, buộc người ta phải nói tới nó. Và từ đây nhiều cuốn sử phải được viết lại. HÀNH TRÌNH TIM VỀ CỘI NGUỒN Nhà xuất bản Văn Học, tháng 8 năm 2008. Từ Vũ Orsay 196
“động trời” trên. Trong câu chuyện này có chi tiết: sau nạn lụt lớn, con người được cây kê cuối cùng còn sót lại cứu sống. Đại hồng thủy xảy ra 7500 năm trước. Như vậy chí ít thì cây kê đã nuôi sống người Đông Nam Á 500 năm, trước khi chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều ra đời. Vào thập niên 70 thế kỷ XX, những phát kiến của triết gia Kim Định về Văn Hóa của tộc Việt trở thành niềm đam mê của học sinh, sinh viên miền Nam. Nhưng rồi do những ý tưởng quá táo bạo của ông không được chứng minh bằng chứng từ khoa học, bị một số nhà khoa bảng chống đối, đã bị chìm đi. Nay, trong sách của mình, Hà Văn Thùy đã Xác lập cơ sở khoa học cho học thuyết Kim Định bằng những chứng cứ không thể phủ nhận. Viết lại lịch sử hình thành kinh Dịch là bài viết sâu sắc, công phu và thuyết phục. Từ sự tham khảo nhiều nguồn tài liệu về cuốn kinh vĩ đại này, kết hợp với những tri thức mới về văn hóa Việt, tác giả khẳng định: kinh Dịch là sáng tạo của cộng đồng Việt từ sông Hồng, sông Mã tới Hoàng Hà, Trường Giang. Trong khi khẳng định nguồn cội Việt, tác giả cũng công bằng cảm ơn người anh em Hán tộc đã phát triển kinh Dịch tới trình độ hiện nay. Tuy nhiên, tác giả cũng nêu ý tưởng đáng suy nghĩ: Bản kinh hiện có mắc những hạn chế là không dựa trên Bát quái chuẩn đồng thời dựa trên vị trí địa lý của người Trung Hoa nên không hoàn toàn phù hợp cho người Việt. Vì vậy, người Việt cần làm ra bản Dịch mới phù hơp với mình. Tác giả đưa ra đề xuất đáng lưu ý: do kinh Dịch là sáng tạo của tổ tiên, có ý nghĩa văn hóa nhân sinh, vũ trụ lớn như vậy, nên cần cho học sinh tiếp xúc với Dịch ngay từ bậc phổ thông… Bên cạnh phần nghiên cứu, tác giả dành nửa cuốn sách đối thoại với học giả trong và ngoài nước. Dựa trên những phát hiện khảo cổ, cổ nhân học đầu thế kỷ trước và cổ thư Trung Hoa, học giả người Pháp L. Aurousseau cho rằng, vào khoảng năm 330 TCN, nước Sở diệt nước Việt, người Việt của Câu Tiễn chạy xuống Việt Nam, trở 195 Dương Vương đã tạo điều ki ện thu ận l ợi cho việc tăng thêm ngu ồn c ủa c ải xã h ội. Ch ế độ tư h ữu tài sản ra đời và ngày càng phát tri ển theo s ự phát tri ển kinh t ế xã hội, đồng thời cũng dẫn đến m ột chuy ển bi ến xã h ội quan tr ọng là xã h ội phân hóa thành k ẻ giàu, người nghèo. 3- Văn hóa Đông Sơn có các điểm chính ph ải nh ấn m ạnh: Kỹ thuật đúc đồng mà đỉnh cao là các trống đồng Đông Sơn.Kỹ thu ật v ề quân s ự mà đỉnh cao là thành C ổ Loa (thành, mũi tên đồng và n ỏ). S ự t ổ ch ức cộng đồng hoàn chỉnh theo phương thức xã thôn t ự trị mà đỉnh cao là s ự thành lập nhà nước Văn Lang rồi Âu L ạc. D ựa vào nh ững nghiên c ứu , thì trên cơ sở văn hóa Đông Sơn, nhà nước Văn Lang c ủa các Vua Hùng là nhà nước văn minh đầu tiên của người Vi ệt, và n ối tiếp là nhà nước , Âu L ạ c c ủa , An Dương Vương, trước khi bị ảnh hưởng c ủa nền văn minh Hán, Người Vi ệt có truy ền th ống coi tr ọng m ồ m ả c ủa t ổ tiên, yêu ca hát, l ễ h ội, nh ảy múa . Văn hóa Sa Huỳnh Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa được xác định ở vào khoảng năm 1000 TCN đến cuối thế kỷ thứ 2, tên gọi Sa Huỳnh là một địa danh thuộc huyện Đức Phổ phía nam tỉnh Quảng Ngãi. Nền văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba cái nôi cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam, cùng với Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Óc Eo tạo thành tam giác văn hóa của Việt Nam. Văn hóa Óc Eo Văn hóa Óc Eo là tên gọi do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đề nghị đặt cho một địa điểm nằm ở huyện Thoại Sơn phía nam tỉnh An Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Nơi này có thể đã từng tồn tại một hải cảng sầm uất của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7. 78
Thời đại hàng hải cổ xưa. Những thành tích hàng hải của dân tộc ta. Vũ Hữu San 1 - Trong những thành tích hiển hách của tiền nhân. Ngày nay, trong những buổi lễ lạc, đa số các vị được lên diễn đàn để nói thì hầu hết đều ca tụng những chiến công hiển hách của của tiền nhân. Tuy vậy, qua hàng trăm, ngàn bài diễn văn người ta chưa thấy hoạt động hàng hải của tổ tiên được nhắc nhở tới. Trong những công trình dựng Nước, mở Nước, giữ Nước trên vùng đất nước quê hương mà sông biển bao trùm khắp nơi, sự hy sinh vì nghĩa vụ với "thân xác tử sĩ chìm theo sóng nước" nhiều hơn số người "da ngựa bọc thây". Cũng ít ai từng nhắc tới công lao người chiến binh suốt những năm tháng dài đấu sức với ba đào, thi gan cùng sương gió ngoài khơi để bảo vệ hải biên, giữ gìn an ninh cho hệ thống đường thủy, hay khuyếch trương hải thương mong cho nước giàu, dân mạnh... Và tuyệt nhiên, chưa bao giờ có ai nhắc nhở tới thành tích hiển hách mà chúng tôi xin kể sau đây: những chuyến đi xuyên dương nhiều ngàn năm trước của tiền nhân Việt tộc. 79 qua những hòn đá, những mảnh xương hóa thạch thì nay, từ những giọt máu của người đang sống, khoa học đi ngược thời gian, tìm lại tổ tiên con người hàng trăm nghìn năm trước sinh ra ở đâu, theo hành trình nào tới ta hôm nay? Từ đó tác giả định ra phương pháp luận mới: dùng dữ liệu di truyền học làm kim chỉ nam và cũng là cây gậy thần gõ vào những hòn đá, những mảnh xương, những tử ngữ, những huyền thoại để buộc chúng khai ra thân phận thực của mình! (Phương pháp luận mới nghiên cứu tiền sử người Việt) Áp dụng phương pháp luận đó giải mã truyền thuyết Hùng Vương, tác giả cho rằng, khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ đánh chiếm đất của người Bách Việt ở phía nam Hoàng Hà, Lạc Long Quân đã dẫn đoàn người Việt di tản trở lại Rào Rum, Ngàn Hống dựng nước Văn Lang. Gen Mongoloid phương Nam trong đoàn di tản hòa huyết với đồng bào tại chỗ sinh ra tổ tiên người Việt hiện đại là thế hệ Vua Hùng. Ý tưởng này phù hợp với những kết luận khảo cố học từ di chỉ Mán Bạc, Ninh Bình cùng nhiều tài liệu khác. (Truyền thuyết Hùng Vương dưới ánh sáng mới của khoa học) Về tổ tiên người Trung Hoa, tác giả cho biết: người Hán tự nhận mình là Viêm Hoàng tử tôn nhưng thực sự ai là Viêm, ai là Hoàng, qua “nhị thập tứ sử”, họ chưa phân định được. Theo tác giả, khoảng 2600 năm TCN, khi xâm lăng Bách Việt, người Mông Cổ phương Bắc hòa huyết với người Bách Việt chủng Australoid sinh ra chủng Mongoloid phương Nam. Đó chính là người Hoa Hạ, tổ tiên người Trung Hoa hiện đại. Và kết luận: tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể có trên đất Trung Hoa từ 2600 năm TCN về trước là sản phẩm của Việt tộc. (Khai sinh người Hán và sự hình thành nước Tàu) Trong khi giới khoa học khẳng định cây kê là sáng tạo của chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều thì tác giả cho rằng, ngay cây kê cũng do người Việt từ Đông Nam Á đưa lên. Dựa vào con đường thiên di lên phía Bắc của người Việt cổ, dựa vào truyền thuyết Ngôi sao bầu trời bú sữa con heo của thổ dân Đài Loan và đồng bào Bana ở Tây Nguyên, tác giả đưa ra ý tưởng 194
HÀNH TRÌNH TÌM LẠI CỘI NGUỒN. CỦA HÀ VĂN THÙY. Do Từ Vũ giới thiệu. Điều làm tôi ngạc nhiên trước tiên, là trong vòng hai năm, nhà văn Hà Văn Thùy cho ra hai cuốn sách cùng một đề tài. Liệu có gì mới hay chỉ là sự lặp lại mình? Tôi tự hỏi. Nhưng rồi cuốn sách nói với tôi, đó là công trình nghiên cứu độc đáo. Thật không ngờ, người viết những trang văn trữ tình đằm thắm trong tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ lại là tác giả của những khảo cứu khoa học nghiêm túc. Trước hết, như một nhà khoa học thực thụ, Hà Văn Thùy xác định phương pháp luận cho nghiên cứu của mình. Ông biện giải: trong quá khứ, các khoa khảo cổ học, cổ nhân chủng và ngôn ngữ học từng là công cụ hữu hiệu để khám phá thời tiền sử. Nhưng ở những vấn đề mấu chốt nhất như nguồn gốc loài người, quá trình hình thành các cộng đồng dân cư… các khoa học này đành bất lực. Đến thập niên cuối của thế kỷ trước, di truyền học phân tử được áp dụng vào lĩnh vực này. Khoa học đi theo hành trình khác: nếu trước đây, truy tìm vết tích con người 193 2 – Thương mại và văn hoá Trong khi sinh hoạt với sông biển, người Việt cổ đã tạo dựng được nhiều thành tích, những truyền thống hàng hải lâu đời của dân tộc vẫn còn tồn tại đến ngày nay, cho dù hầu hết thành tích của tiền nhân đã bị thời gian chôn vùi vào quên lãng. Thật thế, ảnh hưởng của các nền văn minh cổ thời Hoà Bình, Đông Sơn rất bao la, vết tích các nền văn minh này đi lên Đài Loan, Nhật Bản, Tây Bá Lợi Á; qua Phi Luật Tân, vùng Đa Đảo; xuống Nam Dương, Úc Châu và sang tận Mã Đảo, Phi Châu. Công việc chuyển vận hải thương đã lôi kéo theo sự truyền bá văn hoá trên các bờ biển và hải đảo xa vắng mà đôi chân con người không thể tới được bằng đường bộ. 3 – Người Việt và biển cả Sau đây người viết xin trình bày khả năng hàng hải của dân ta qua những lời phê bình của người Tây phương. Nhiều lời khen ngợi dân Việt đi biển được dẫn lại trong sách của Jean Chesneaux, cuốn "Contribution à l'histoire de la nation Vietnamienne", bản dịch Anh ngữ: "The Vietnamese Nation - Contribution to a History" *.Nhà hàng hải George Windsor Earl viết trong sổ nhật ký của ông trên đường dẫn lộ một chiếc thương thuyền đến Singapore vào đầu thế kỷ thứ 18 như sau: "... Bão táp thật dữ dội ngoài biển khơi, thiếu chút nữa thì thương thuyền của chúng tôi bị gẫy đổ cả cột buồm. Thời tiết đã tiếp tục xấu như thế trong nhiều ngày. Vậy mà khi đang thận trọng dẫn tàu vào eo biển, chúng tôi chợt nhận ra 6 chiếc thuyền nhỏ của người Việt Nam đang giương hết mọi cánh buồm tiến thẳng tới trước. Tôi nghĩ (lời Thuyền trưởng George Windsor Earl): Mấy người Việt đó đang lèo lái những con thuyền bé nhỏ mà cách thức vận chuyển để vượt sóng lượn gió thật là tài tình. Tài ba của họ không thua kém bất cứ một thủy thủ đoàn hạng nhất nào của toàn khu vực Âu Châu. Đoàn thuyền bé tí teo đó không có một 80
chiếc nào vượt quá 50 tấn, vậy mà những người đi biển này có thể đè bẹp cả sóng gió Biển Đông vào giữa mùa bão tố. Đã qua 20 năm rồi, rất ít thương thuyền nào của công ty chúng tôi dám thử hải hành trong giữa mùa biển động như vậy..." Ông còn viết thêm nhiều câu rất cảm động, thí dụ như: "Thật thú vị nếu được quen biết với những người Việt Nam này. Tính tình họ năng động, ngôn từ lại hoạt bát như dân Pháp. Khi đến buôn bán ở Singapore, họ đã phải khéo léo trong sự cạnh tranh. Hoàn cảnh sinh hoạt của họ thật sự khó khăn vì chính sách bế môn tỏa cảng của triều đình Việt Nam. Họ rất can đảm khi xuất dương. Thuyền họ lại không trang bị vũ khí và như thế có thể là miếng mồi ngon cho bọn hải tặc". Những câu khen ngợi đó có thể nói là không tiếc lời. Sự suy tôn về nghề nghiệp, đề cao về nhân cách cùng khâm phục lòng can đảm như vậy rất hiếm hoi trong giới hành thủy. * Bác sĩ Crawfurd đươc chính phủ Anh đề cử làm đại sứ tại hai kinh đô Bangkok và Huế năm 1822. Tuy bị thất bại trong công tác thành lập một thương cảng tại Việt Nam, ông vẫn giữ những cảm tính sâu đậm với giới hành thủy Việt Nam. Bác sĩ Crawfurd có nhận xét về khả năng hàng hải của dân ta trong mục báo cáo số 145 như sau: "... Nếu như người Việt Nam được phép tự do viễn dương thì người ta không thể tìm đâu ra được một sắc dân nào nữa ở Á Đông mà lại có đầy đủ những đức tính để trở thành các nhà hàng hải siêu đẳng như vậy... Tính họ không những cương quyết, năng hoạt động, tôn trọng hạn kỳ, mà lại luôn luôn vui vẻ chiều lòng khách hàng... Ghe tàu của họ được các nhà chuyên môn xét đoán và mô tả như là những loại thuyền tốt nhất trong khu vực Đông Nam Á, kiến trúc rất chắc chắn, đủ sức hải hành ngay cả những khi thời tiết xấu nhất." Thêm vào các nhân chứng (người Anh) này, hai người Pháp (Chaigneau và Vannier) đã làm quan trong triều đình Việt Nam và cũng đã từng làm hạm trưởng các chiến hạm loại trang bị 16 súng đại bác với thủy thủ đoàn hoàn toàn Việt Nam, bảo đảm rằng họ là những thủy thủ can đảm và thật lành nghề.: 81 Ông Tạ Đức nói rằng, ý tưởng thiên di-truyền bá là ông nhận được từ Đào Duy Anh và Bình Nguyên Lộc. Ta có thể thấy, vào thập niên 1970, do hạn chế về tư liệu khoa học, đề xuất của các vị trên là những giả thuyết có tính tìm tòi. Nhưng nay, sau thập niên đầu của thế kỷ XXI, khoa học nhân loại đã đi những bước dài. Không chỉ cổ nhân chủng học mà cả di truyền học đều xác nhận, dân cư trên đất Việt Nam hình thành sớm và liên tục từ Sơn Vi, Hòa Bình tới Bắc Sơn, Phùng Nguyên… Do vậy, thuyết của Đào Duy Anh và Bình Nguyên Lộc không còn đất đứng. Kéo dài thêm sai lầm của những người đi trước, sách của ông Tạ Đức không chỉ trái ngược với thực tế lịch sử mà còn đẩy khoa học nhân văn Việt Nam thụt lùi một nửa thế kỷ! Không những thế, do phủ định nguồn gốc bản địa của con người và văn hóa Việt, nó gây hoang mang, làm nản lòng những ai đang gom nhặt chắt chiu từng mảnh vụn của quá khứ, khôi phục gia tài lịch sử chân thực của dân tộc. ( ChúngTa.com 31-07-2014 ) Sách tham khảo: Tạ Đức, NXB Tri thức, 2013 1. Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB DH&THCN, 1983. 2. S.W. Ballinger&et al. Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992, N.130 ps.139-45). 3. Hà Văn Thùy. Tìm cội nguồn qua di truyền học. NXB Văn học, 2011 4. Stephen Oppenheimer. Địa đàng ở phương đông. Lục địa Đông Nam Á bị chìm. NXB Lao Động, 2004. 5. J.Y. Chu & et al. Genetic Relationship of Population in China www.pnas.org/content/95/20/11763 192
Đông. Trước khi bị biển nhấn chìm, nó đã kịp tạo ra dân cư cùng nền văn hóa nông nghiệp tiên tiến của nhân loại. Đặc biệt là vào năm 1998, nhóm công tác do Giáo sư gốc Hoa J.Y. Chu của Đại học Texas lãnh đạo, sau nhiều năm thực hiện Dự án Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc (Genetic Relationship of Population in China) (5) với số tiền 1.000.000 USD do Quỹ phát triển khoa học tự nhiên Trung Quốc tài trợ, đã công bố: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện đầu tiên ở châu Phi, khoảng 160 tới 200.000 năm trước. - 70.000 năm trước, người tiền sử theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam. Tại đây, họ hòa huyết, tăng nhân số để 50.000 năm trước di cư ra các đảo Đông Nam Á, tới Ấn Độ. Khoảng 40.000 năm trước, khi khí hậu phía Bắc tốt hơn, người từ Việt Nam đi lên khai phá vùng đất nay là Trung Quốc và 30.000 năm cách nay vượt eo Bering, chinh phục châu Mỹ…” Nhiều tờ báo của người Việt tại Hoa Kỷ hồ hởi loan tin này. Từ năm 2001 học giả người Việt ở Úc tiếp thu và phổ biến trên tạp chí Tư Tưởng. Tiếp đó, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện, khẳng định tiến trình lịch sử chân thực của phương Đông với chiều hướng: Con người xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam rồi đem văn hóa đá mới, văn hóa nông nghiệp lan tỏa ra châu Á và thế giới. Thiết tưởng, trong hoàn cảnh một đất nước trải hơn ngàn năm nô lệ, rồi những cuộc chiến tranh liên miên, sách sử vốn đã hiếm lại bị cướp phá, thiêu hủy và xuyên tạc thì những thông tin quý giá trên phải được người trí thức nhiệt tâm đón nhận, biến thành ngọn đuốc dẫn đường đưa dân tộc đi tới. Thật khó hiểu là vì sao các nhà khoa bảng trong nước dường như không biết đến chuyển biến động trời này của trí tuệ nhân loại, để vẫn tự cầm tù trong những quan niệm vừa thực dân vừa ngu dân của quá khứ?! 191 * Thuyền trưởng White là một trong những nhà hàng hải Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1820. Ông có dịp thăm viếng thủy xưởng sau này là Hải quân Công xưởng Sài Gòn, cho biết người Việt Nam là những nhà kiến trúc tàu bè có khả năng kỹ thuật cao nhất, hoàn tất công tác thật chính xác. John White còn xem xét các ván gỗ đóng thuyền, Ông rất ngạc nhiên là những hải xưởng Việt Nam thời đó lại có đầy đủ vật liệu cho việc kiến trúc đến cả loại tàu lớn nhất như Frigate (tức loại chiến hạm chủ lực của Hải quân Hoa kỳ sử dụng vào đầu thế kỷ 19). Ông tận mắt nhìn thấy một tấm gỗ dài rộng tới 120 ft x 4 ft . Vì khổ này lớn quá, gỗ lại rất tốt; vị Thuyền trưởng Mỹ suy ra rằng rừng Việt Nam sản xuất được những loại cây gỗ dùng đóng tàu thuyền rất tốt. 4 - Hải sử và Bách khoa Chính sử của nước ta ghi lại được một số hoạt động hàng hải lẻ tẻ, nhưng tiếc rằng phần viễn duyên rất ít tài liệu và đặc biệt các hoạt động xuyên dương của dân ta chưa bao giờ được đề cập đến. Những người ngoại quốc, khi muốn tìm hiểu về truyền thống hàng hải của người Việt trong cổ thời, đã gặp nhiều khó khăn. Cho đến hậu bán thế kỷ 20 này mới có một người Việt Nam đầu tiên viết một cuốn sử nhỏ bằng ngoại ngữ với mấy đoạn đề cập sơ sài đến các hoạt động hải thương của dân ta ở Nam Hải trong thời Bắc thuộc. Đó là ông Lê Thanh Khôi với cuốn "Le Vietnam, Histoire et Civilisation", xuất-bản năm 1955 ở Paris, France. Vậy mà ông còn bị một tác giả khác cũng người Việt Nam phê bình là nói quá đáng. Không phải chỉ người nước ngoài không biết đến nền cổ hàng hải Việt mà có cả những người Việt cũng khiếm khuyết những kiến thức tương tự như vậy ! Muốn đi tìm những thành tích của cổ nhân, chúng ta cần cố công tìm thêm tài liệu qua sách vở quốc tế. May mắn thay, 82
trong cộng đồng nhân loại không thiếu những học giả quan tâm nghiên cứu tới những vấn đề hệ trọng này. Bách khoa từ điển The New Encyclopaedia Britanica xuất bản những năm gần đây, về từ mục Dongson Culture ghi như sau: "Đông Sơn không những chỉ riêng là văn minh đồ đồng mà cũng có đồ sắt nữa. Người Đông Sơn là dân đi biển, có thể đã hải hành và thương mại khắp vùng Đông Nam Á Châu". Trống đồng Đông Sơn tìm được khắp khu vực Đông Nam Á. Chứng tích quan trọng của nền văn hoá Đông Sơn ghi nhận trên các trống đồng cũng cho ta nhìn thấy một phần nào khía cạnh truyền thống hàng hải của cổ nhân. Quang cảnh được trình bày rất phong phú trên hầu hết các cổ vật là sự sinh hoạt trên thuyền. Có người chuẩn bị tác chiến, có người như nhảy múa cùng bầy chim, đặc biệt lại có người giã gạo. Chắc đây là những chuyến đi xa, kéo dài hàng tháng đến những vùng đất xa lạ nên họ vừa đi vừa chuẩn bị thức ăn.83 Nhưng đáng tiếc là những tiếng nói sáng suốt này không được các học giả Viện Viễn Đông Bác Cổ lắng nghe. Họ vẫn lái học thuật Việt Nam theo đường cũ. Vào thập niên 1970, từ những khai quật khảo cổ ở Thái Lan, Giáo sư Đại học Hawaii W. Solheim II trong bài báo gây chấn động Ánh sáng mới soi vào vùng bị quên lãng (New light on Forgotten Past. National Geographic, Vol. 139, No. 3, 3. 1971) đã viết: "Tôi cho rằng khi chúng ta nghiên cứu lại nhiều cứ liệu ở lục địa Ðông Nam Á, chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện ra rằng việc thuần dưỡng cây trồng đầu tiên trên thế giới đã được dân cư Hòa Bình (Việt Nam) thực hiện trong khoảng 10.000 năm TCN..." "Rằng văn hóa Hòa Bình là văn hóa bản địa không hề chịu ảnh hưởng của bên ngoài, đưa tới văn hóa Bắc Sơn." "Rằng miền Bắc và miền Trung lục địa Ðông Nam Á có những nền văn hóa tiến bộ mà trong đó đã có sự phát triển của dụng cụ đá mài nhẵn đầu tiên của châu Á, nếu không nói là đầu tiên của thế giới và gốm đã được phát minh..." "Rằng không chỉ là sự thuần hóa thực vật đầu tiên như ông Sauer đã gợi ý và chứng minh mà thôi, mà còn đi xa hơn, nơi đây đã cung cấp tư tưởng về nông nghiệp cho phương Tây. Và sau này một số cây đã được truyền đến Ấn Ðộ và châu Phi..." Hơn 20 năm sau là công trình Địa đàng ở phương Đông của S. Oppenheimer, Giáo sư Đại học Oxford nước Anh (4). Bằng nhiều cứ liệu xác thực cùng óc tượng tượng siêu việt, ông trình bày một cách thuyết phục rằng, thềm Biển Đông từng là lục địa, là vườn ươm dân cư cùng văn hóa phương 190
- Bài học được rút ra: Suốt thế kỷ XX, học thuật Việt Nam ngột ngạt vì quan niệm “Hoa tâm” cho rằng, Trung Quốc là trung tâm của châu Á. Từ đây con người cùng văn minh Hoa Hạ tỏa ra khai hóa các dân tộc man di. Tuy nhiên, trong màn đêm tăm tối đó vẫn ló ra vài tia sáng. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, học giả người Pháp H. Frey, trong cuốn L'Annamite, mère des langues; communauté d'origine des races celtiques, sémitiques, soudanaises et de l'Indo-Chine (Tiếng Việt, mẹ của các ngữ; cộng đồng có nguồn gốc của các chủng tộc Celtic, Do Thái, Sudan và Đông Dương - Paris, 1892, 248p) cho rằng tiếng Việt Nam là mẹ của các tiếng nói phương Đông. Vào tháng Giêng năm 1932, Hội nghị khoa học về Tiền sử Viễn Đông họp ở Hà Nội, đưa ra nhận định: "Văn hóa Hòa Bình là trung tâm phát minh nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp cùng chăn nuôi gia súc đầu tiên trên thế giới. Trung tâm nông nghiệp Hòa Bình có trước vùng Lưỡng Hà 3000 năm." (Encyclopédia d’Archeologie). Năm 1952, học giả Hoa Kỳ C. Sauer trong cuốn Cội nguồn nông nghiệp và sự phát tán (Agricultural Origins and Dispersals) khẳng định: "Ðúng là nông nghiệp đã tiến triển qua hai giai đoạn mà giai đoạn đầu là văn hóa Hòa Bình. Lúa nước đã được trồng cùng lúc với khoai sọ." “Tôi đã chứng minh Ðông Nam Á là cái nôi của nền nông nghiệp cổ nhất. Và tôi cũng chứng minh rằng văn hóa nông nghiệp có nguồn gốc gắn liền với đánh cá bằng lưới ở xứ này. Tôi cũng chứng minh rằng những động vật gia súc xưa nhất bắt nguồn từ Ðông Nam Á, và đây là trung tâm quan trọng của thế giới về kỹ thuật trồng trọt và thuần dưỡng cây trồng bằng cách tái sinh sản thực vật…" 189 5 - Hải trình Địa Trung Hải / Đông Dương Trong sách "The Junks & Sampans of the Yangtze", G. R. G. Worcester đã viết về hải lộ thông thương từ Âu Châu qua Ả Rập, Ấn Độ đến vịnh Bắc Việt, cho rằng Hà Nội đúng là trạm hải hành cuối cùng giữa Tây phương và Đông Á trong cổ thời. Worcester hình dung một "hải trình tơ lụa" như sau: "...có thể đã có những ảnh hưởng qua giao tiếp đường biển rất sớm sủa với dân Địa Trung Hải, vì người ta tin rằng những thương gia Phoenicia trên hải trình tìm kiếm "đường tơ lụa", đã tới Đông Dương vào năm 650 TTL". Vào thời đó, nước Văn Lang của chúng ta đang lúc thịnh thời và do các vua Hùng (2879- 258.TTL) trị vì. (TTL : trước Tây lịch ~ BC) Những hải trình tơ lụa giữa Địa Trung Hải và Đông Á mà trạm chót là Cattigara. (Vẽ theo "Exploring Our Country", Stuart Hamer, Follett, Ahlschwede, Gross, Sacramento 1956: 25.) Hán sử chép rằng vua Vũ Đế tạo lập một đường biển tới Ấn Độ và vào năm 140 TTL, chuyến hàng gồm có vàng và tơ lụa được đem tới một thành phố gần Madras. Phương tiện chuyên chở cho đường hàng hải này do người Việt (mà người Trung Hoa thường gọi là Nam Man) phụ trách. 84
Con đường tơ lụa ( Silk Road in Greco Roman times ) Chúng ta đọc được hai ý kiến chính xác sau đây: Lin Yu, viết trong nguyệt san "T'ien Hsia Monthly", cho ý kiến rằng lúc xưa người Man đi tàu biển. Cho đến cuối triều đại Lưu Tống (Nam triều, năm 420-479), có thể người Trung Hoa mới bắt đầu đóng tàu thuyền cho việc hải thương. Friedrich Hirth và W. W. Rockhill, tác giả của nhiều sách và bài khảo cứu về hàng hải Á Châu, quả quyết rằng vào đầu công nguyên, không thể có một tàu thuyền nào của Trung Hoa hoạt động trong Ấn Độ Dương, mặc dù người Trung Hoa thường quá giang theo tàu thuyền của dân Nam Man. “Hải trình” tơ lụa với hải cảng Cattigara. Silk Road (maritime trade route) 85 Việt Nam và miền Nam Dương Tử. Từ đầu Công Nguyên, dân cư đồng bằng sông Hồng tiếp xúc nhiều hơn với văn hóa phía Bắc nên đạt được những tiến bộ nhất định. Do chữ Nho du nhập nên ngôn ngữ đơn âm hóa mạnh. Ở thời điểm nào đó (nhiều học giả cho là khoảng thế kỷ IX-X) người miền xuôi và kẻ mạn ngược tách thành hai nhóm, được gọi là người Việt, người Mường. Đó chỉ là sự phân chia theo ngôn ngữ và tập tính sinh hoạt, còn mã di truyền là một! Việc dùng danh xưng “người Việt” cho dân cư đồng bằng sông Hồng là không thỏa đáng. Chính xác phải gọi là người Kinh, còn Việt là danh xưng chung của cộng đồng tộc Việt xuất hiện từ khi văn hóa đá mới Hòa Bình sáng tạo chiếc rìu (việt). 4. Kết luận & bài học Từ phân tích trên, có thể nhận định: Người Phùng Nguyên mang mã di truyền Australoid, là dân cư bản địa, hậu duệ của người Hòa Bình, Bắc Sơn, không phải từ phương Bắc di cư xuống, cũng không phải là người Mường. - Người Đông Sơn hình thành do số lượng nhỏ người Việt chủng Mongoloid phương Nam từ phương Bắc di cư xuống, hòa huyết với người Phùng Nguyên. Đó là tổ tiên chung của người Việt hiện đại. - Văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa bản địa. Văn hóa Đông Sơn được phát triển từ văn hóa Phùng Nguyên, cũng là văn hóa bản địa, mang đậm bản sắc của văn hóa Việt. - Quan niệm “coi người Việt và người Mường xưa là một, đều là cư dân bản địa” của giới học giả Việt Nam là hoàn toàn chính xác. 188
Như vậy, có số lượng hạn chế người Việt từ phương Bắc xuống, hòa huyết với người Phùng Nguyên bản địa, sinh ra người Đông Sơn, tổ tiên dân cư Việt Nam hiện nay: người Việt, người Mường, các tộc ít người phía Bắc, người Chăm, các tộc người Tây Nguyên. Ở đây cần nói rõ, “người Việt từ Trung Quốc” cũng chính là hậu duệ của những người từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục từ 40.000 năm trước. (3) 3. Sự phân hóa Việt – Mường. Từ cuối thời Đông Sơn, hầu hết dân cư Việt Nam là người Việt thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Chăm và các tộc thiểu số Tây Nguyên sống ở miền Trung và Tây Nguyên. Trong khi đó, số đông sống từ Thanh Nghệ ra Bắc 187 6 – Hải cảng Cattigara trên bản đồ Ptolemy Sau cuộc viễn chinh của Alexandre Đại đế (336-323 TTL) sang Ấn-Độ, nhiều giao tiếp đã xảy ra giữa Á-Âu, người Hy Lạp biết thêm nhiều sinh hoạt của người Á Châu. Eratosthene (275-195 TTL) viết sách Geographia, Ptolemy (90 AD -168 AD) phát triển môn địa lý, viết sách và hình dung ra một bản đồ thế giới mà tận cùng về phía Đông Đông Nam là bán đảo Vàng Chersonese và hải cảng Kattigara (kinh độ 117 độ Đông, vĩ độ 8 độ Nam – Kinh tuyến gốc lấy từ đảo Ferro Islands of the Blest - quần đảo Canary.) Nhiều người cho rằng bán đảo Vàng là Đông Dương và Kattigara (hay Cattigara) chỉ Kẻ Chợ (Kesho), Long Biên (Lugin) hay Hà Nội ngày nay. Bản đồ Ptolemy Vị trí hải cảng Cattigara trên bản đồ Ptolemy. 86
Nói riêng về từ ngữ hàng hải, ta có thể hiểu theo như nghĩa người Bắc Âu thường dùng: Kati là tàu thuyền, Gata là hải đạo. Như vậy chữ Kattigara nghĩa là chỗ hải cảng tàu thuyền hải hành tới. Ông Bình Nguyên Lộc không thỏa mãn với vị trí ước đoán cho rằng Kattigara nằm trong vùng Kẻ Chợ Hà Nội, mà nghĩ rằng Kattigara có thể là thành phố ghe thuyền. Ông suy ra tên Kattigara chính là địa danh của thương cảng Hòn Gai như ta vẫn gọi ngày nay. Tác giả sách "Ancient India as Described by Ptolemy" là J. W. McGrindle, nơi trang 9, ghi chú : "Trung Hoa trong gần 1,000 năm đã được biết như là quốc gia nằm trong nội địa Á Châu (inner Asia)". Tại trang 26, ông viết: "... với lý thuyết rằng Kattigara, điểm xa nhất về phía Đông tới được bằng đường biển, phải nằm gần hay trên cùng kinh tuyến với nước Trung Hoa, điểm xa nhất đi đến được qua đất liền". Từ trước thời Bắc thuộc, lưu vực sông Hồng, sông Mã đã là những trung tâm hàng hải cùng thương mại phồn thịnh, hàng hoá đi khắp nơi và có liên lạc thường xuyên với Tây phương. Mối giao thương này chắc chắn sâu đậm đến mức độ tất cả những bản đồ thế giới do Tây phương ấn hành suốt 13 thế kỷ sau đó, đều cố ghi địa danh Kattigara. 7 - Đường biển đi Đông Nam Á và đi Tây Bá Lợi Á Người Tây phương thường nói "cứ có thuyền là đi biển được". Người Việt đóng được thuyền; mà thuyền người Việt lại thật tốt. Việc hải thương của dân Việt trong thời thượng cổ cùng các dân cư khác nằm quanh vùng Biển Đông rất phồn thịnh. Trước Tây lịch 6, 7 thế kỷ, chiến thuyền Lạc Việt thời Hùng Vương đã có hai sàn, những cây nỏ thần được thiết trí ở trên, người chèo và lái ở dưới. Nhiều kiểu thuyền trang bị đầy dủ cả bánh lái phía đuôi, mái chèo lái bên cạnh, cây xiếm cố định ... Hình ảnh được ghi khắc trên nhiều chiếc trống đồng tìm thấy tại lưu vực các sông Mã, sông Hồng. 87 TCN, có 30 di hài người Mongoloid và Australoid được chân chung. Đó là chỉ dấu cho thấy hai chủng này đã từng chung sống hòa bình. Khảo cổ học xác nhận, ở Việt Nam, việc chuyển hóa từ Australoid sang Mongoloid cho tới 2000 năm TCN thì hoàn tất. Điều này nằm trong quá trình Mongoloid hóa dân cư Đông Nam Á, một sự kiện nhân chủng lớn điễn ra trên toàn bộ Đông Nam Á từ khoảng năm 2500 tới 2000 TCN. Phát hiện của Ballinger cũng chứng tỏ số người từ phía Bắc xuống không nhiều nên độ đa dạng di truyền thấp của họ không làm giảm đáng kể độ đa dạng di truyền của khối dân cư Việt đông đảo! Vào Thời Đồ Đá, trên đất Việt Nam không chỉ có người Indonesian mà chủng đông thứ hai là Melanesian. Khi tiếp xúc với người Mongoloid phương Nam, người Melanesian cũng nhận được một lượng gen Mongoloid nhất định. Tuy nhiên, do tỷ lệ máu Mongoloid của họ thấp (so với Indonesian) nên sau quá trình hòa huyết, họ trở thành nhóm loại hình Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam, một nhánh của tộc Việt, như nhân chủng học xác nhận. Đó là người Chăm, người Êđê, Bana cùng nhiều tộc thiểu số cư trú trên dải Trường Sơn. Số phận hai chủng Vedoid và Negritoid, những người da đen mang đậm dấu vết tổ tiên châu Phi ra sao? Họ là cộng đồng thiểu số, tồn tại lâu dài trên đất Việt. Nhưng tới một lúc nào đó, họ di cư ra các đảo Đông Nam Á hoặc lai giống với người Mongoloid phương Nam để hòa tan trong cộng đồng dân tộc Việt. Vết tích của họ là những bức tượng người phụ nữ châu Phi mà nhiều học giả không giải thích được xuất xứ. 186
a. Về khả năng nhập cư. Nhập cư là việc người từ nơi nào đó tới cưỡng chiếm địa bàn sinh sống của dân cư bản địa, tiêu diệt hay trục xuất họ đi nơi khác. Với quy mô lớn tới mức thay thế cả khối dân cư Việt đông đảo thời Phùng Nguyên thì chỉ có thể là cuộc xâm lăng tầm cỡ nhà nước. Sử sách hay truyền thuyết không hề nói tới việc này. Khảo sát di truyền học, chúng tôi cũng không thấy có sự kiện như vậy. Trong một nghiên cứu về nguồn gốc dân cư Đông Nam Á, S. W. Ballinger khám phá: “Người Việt Nam có đa dạng di truyền cao nhất trong các dân cư châu Á.” (2) Một khi người Việt Nam có đa dạng di truyền cao nhất trong dân cư châu Á thì khả năng một tập đoàn lớn người từ Trung Quốc tới chiếm đất Việt Nam, diệt chủng hay trục xuất người Phùng Nguyên rồi giữ vị trí độc tôn là không thể xảy ra! Nếu có chuyện này, thì người Việt Nam đương nhiên phải có chỉ số đa dạng di truyền thấp hơn cha ông, có nghĩa là thấp hơn người Trung Quốc. Tư liệu di truyền học đã bác bỏ, chứng tỏ khả năng nhập cư lớn dẫn đến thay thế là không có! b. Về khả năng chuyển hóa. Trong bốn chủng người Việt cổ xuất hiện ban đầu thì chủng Indonesian, sau này được gọi là Lạc Việt, chiếm đa số. Theo định luật di truyền học, thì tuy vẫn thuộc loại hình Australoid nhưng người Indonesian có tỷ lệ máu Mongoloid cao hơn cả. Vì vậy, khi người Mongoloid phương Nam tới hòa huyết với họ, thì như giọt nước làm tràn ly, chỉ cần bổ sung lượng nhỏ gen Mongoloid, lớp con lai đã trở thành Mongoloid phương Nam. Rồi lớp con cháu họ hòa huyết tiếp với dân bản địa, gây phản ứng dây chuyền, tăng nhanh nhân số người Mongoloid phương Nam. Chứng cứ tiêu biểu cho sự kiện này là di chỉ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình 2000 năm 185 Một số chiến thuyền Đông Sơn. Trong cuốn sách "America en la Prehistoria Mundial" (Mỹ Châu trong Thế giới Tiền sử), Dick Edgar Ibarra Grasso đưa ra quan niệm là không thể có sự cô lập ở Mỹ Châu. Sách gồm 6 chương thì có tới hai chương chú tâm bàn luận đến ảnh hưởng Đông Nam Á trên đất Mỹ Châu. Chương I bàn tới các lien hệ văn hoá xuyên dương mà Đông Sơn là một nguồn chính. Đến chương IV, Grasso đưa ra hai giả thuyết về: (1) Những thương nhân Cattigara đã mang kỹ thuật luyện kim, nhất là đồng và vàng, tới Nam Mỹ. (2) Có nhiều di dân đến Tân thế giới bằng cách dùng hải lộ xuyên Thái Bình Dương. Đã có nhiều nhà nghiên cứu viết tiếng Tây Ban Nha phát biểu cùng ý kiến với Grasso. Học giả Pedro Bosch Gimpera cho rằng nền văn minh Đông Sơn đã mang lại những hiểu biết về kỹ thuật luyện kim cho vùng Chavin ở Peru. Edwin Doran nổi tiếng nhờ đã khám phá ra nhiều hiểu biết mới lạ về khả năng vượt đại dương của bè và ghe nhỏ. Ông và Stephen Jett đồng ý với nhau là liên lạc giao tiếp xảy ra trước nhất giữa Á và Mỹ Châu có thể qua phương tiện là những chiếc bè chạy buồm có gắn cây xiếm như thường thấy ở trung phần Việt Nam và Đài Loan. 88
Hình trên:. Thuyền Đông Sơn, ngoài 2 mái chèo để lái ra (1), còn có 2 trang cụ như cây xiếm dùng chống giạt (2). Cột buồm nằm ở nửa phần thuyền phía trước (3). Hình dưới:đen đặm .Ghe Nang ở trung phần Việt Nam với giả thuyết về sự phát triển bánh lái và cây xiếm từ những trang cụ đã có từ cổ thời. Robert Von Heine Geldern trong suốt một phần tư thế kỷ kể từ 1939, đã viết rất nhiều về giao tiếp Á Mỹ. Ông liệt kê thành hệ thống những điểm tương đồng, lưu tâm khá nhiều đến nền văn minh Đông Sơn, ông cho rằng những dân đi biển ở Đông Á tới Mỹ Châu trước hết. Kuno Knobl, một phóng viên Đức làm cho đài truyền hình Úc, sau khi thấy "chùm dây buộc nút" (knotted cords - kết thằng) trong viện Bảo tàng ở Huế giống y hệt loại Quipu của Peru, nhìn nhận ra rằng đã có sự giao tiếp trực tiếp giữa hai nơi. Để chứng minh niềm tin của mình là đứng đắn, Knobl đứng ra quyên góp tiền bạc, đóng thuyền buồm theo kiểu cổ thời Đế quốc Nam Việt với thủy thủ đoàn 8 người từ Hồng Kông đi Mỹ Châu. Con hà (teredo), một loại sâu gỗ thân mềm, đục thủng ván gỗ làm hư hỏng vỏ thuyền trước khi tới bờ biển Mỹ Châu, phải nhờ thương thuyền cứu giúp. Sách viết bằng Đức ngữ, nhan đề "Thái Cực", bản dịch Anh ngữ: Tai Ki, Journey to the Point of No Return.nghiên cứu về một Thái Bình Dương hoà bình và một tờ báo định kỳ, xuất bản mỗi ba tháng. Sẽ có một chuyến hải hành hoà bình tưởng niệm những lần Nu Sun vượt Thái Bình Dương. 89 dân cư Việt Nam gồm duy nhất loại hình Australoid. Nhưng sang Thời đại Kim Khí, người Mongoloid xuất hiện và trở nên chủ thể của đất này. Người Australoid dần biến mất, không hiểu do nhập cư hay do đồng hóa.” Sau 30 năm nhìn lại, trong sự đối chiếu với tư liệu di truyền học mới nhất, chúng tôi nhận thấy, đó là nhận định hoàn toàn xác đáng và là thành tựu cao nhất mà phương pháp đo sọ cổ điển có được. Chứng cứ thu được từ di cốt tổ tiên và từ ADN lấy từ dòng máu người Việt Nam hiện đại hoàn toàn khẳng định: người Phùng Nguyên là người Australoid bản địa. Như vậy, ý tưởng cho rằng người Mường là do người Mon, Man, Mân Việt từ Nam Trường Giang xuống, tạo nên vào thời Phùng Nguyên là không có cơ sở! Thực tế đã diễn ra lịch sử trái ngược: chính người Việt từ 40.000 năm trước đi lên Trung Quốc, để lại hậu duệ là người Man, Môn, Mân Việt. 2. Người Việt là ai? Đoạn trích ở trên có một ý quan trọng: “Nhưng sang Thời đại Kim Khí, người Mongoloid xuất hiện và trở nên chủ thể của đất này.” Điều này có nghĩa là, vào cuối thời Phùng Nguyên, người da vàng Mongoloid xuất hiện, thay thế dân da đen Australoid! Một câu hỏi: Họ từ đâu tới? Tài liệu khảo cổ học và di truyền học cho thấy, đúng như khảo cứu của Tạ Đức, họ là người Việt từ phương Bắc xuống. Câu hỏi tiếp: do nhập cư hay do đồng hóa mà mã di truyền của họ trở thành chủ thể trên đất Việt? 184
Nhưng trong khi phản bác quan niệm phổ biến của giới học giả và dân chúng Việt Nam “coi người Việt và người Mường xưa là một, đều là cư dân bản địa và chỉ tách ra từ thế kỷ 9 – 10,” tác giả khẳng định: “Người Việt và người Mường từ xưa đến nay luôn là hai tộc người khác nhau và đều là sự tổng hòa các nhóm di dân từ phương Bắc. Người Mường vốn là người Mon, Man hay Mân Việt, là di dân đường biển, đến trước, chủ nhân của các văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun. Người Việt vốn là người Lava hay Lạc Việt, đến sau, là chủ nhân chính của văn hóa Đông Sơn.” (Lời cuối sách) Cùng với nhận định này là việc chứng minh văn hóa Phùng Nguyên cũng như Đông Sơn được đưa từ phía Bắc xuống! Thử xem điều này có đúng? 1. Về người Mường. Muốn biết nguồn gốc của chủng người nào ở nước ta hiện nay, việc trước tiên là phải hiểu về con người từng sống trên đất Việt mà cứ liệu quan trọng nhất là di cốt người cổ. Suốt thế kỷ trước, nhiều nhận định đã được đưa ra. Nhưng vào thập niên 1970, nhận ra phần nhiều tài liệu đó không chính xác, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa của Đại học Tổng hợp Hà Nội đã khảo sát lại sưu tập 70 sọ cổ từ Thời Đồ Đá tới Thời Kim Khí, được phát hiện ở Việt Nam. Trong tác phẩm Nhân chủng học Đông Nam Á (1) ông viết: “Thoạt kỳ thủy, hai đại chủng Australoid và Mongoloid có mặt trên đất nước ta. Họ lai giống với nhau và con cháu họ lai giống tiếp, cho ra bốn chủng Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, đều thuộc nhóm loại hình Australoid.” Và “ Suốt Thời Đồ Đá, 183 Cuộc đi này sẽ dùng tàu thuyền kiểu Á Đông, khởi hành từ Đông Dương qua Nhật, Tây Bá Lợi Á, Gia Nã Đại, Hoa Kỳ, Mễ Tây Cơ, El Salvador, Guatemala, Nicaragua và trở lại, qua ngả Polynesia.Thompson viết sách "Nu Sun, Asian American Voyages 500 B.C", tin tưởng rằng người Á Đông, lãnh đạo bởi những nhân vật huyền thoại như Đô Đốc Nu Sun, đã hải hành tới Guatemala và Honduras khởi sự từ năm 500 TTL, thiết lập một thuộc địa thương mại giữa dân bộ lạc Maya, họ sống thật hoà hợp và giúp phát triển nền văn minh ở Tân thế giới. Công trình biên khảo của tác giả rất công phu, đặc biệt cung cấp nhiều hình vẽ chi tiết, trải dài khắp cả cuốn sách, chứng minh hung hồn sự thật hiển nhiên về giao tiếp Á Mỹ. Truyền thống hàng hải Cổ Việt, văn minh Đông Sơn được đề cập đến rất nhiều. Theo Thompson, con đường hàng hải Á Mỹ mà cổ nhân sử dụng trên Thái Bình Dương là theo chiều kim đồng hồ, với dòng nước và gió mùa rất thuận lợi cho các tàu thuyền buôn bán qua lại suốt thời gian dài nhiều ngàn năm. Vì than phục học thuyết xuyên dương của Joseph Needham, Tim Severin đã quyết tâm minh chứng rằng người Á châu đã tới Tân thế giới nhiều ngàn năm trước đây. Nhà văn Ái Nhĩ Lan này rất ưa thích việc khảo cứu hàng hải. Tim Severin vượt biển Thái Bình Dương từ Hồng Kông bằng bè Sầm Sơn. Sầm Sơn, nơi chiếc bè được đóng. 90
Chiếc bè của Severin được đóng tại Sầm Sơn (Thanh Hoá, Việt Nam) gồm có 220 cây luồng buộc lại với nhau bằng những giây leo trong rừng dài tới 46km, đặc biệt không dùng đến một chiếc đinh nào bằng kim loại. Thủy thủ đoàn gồm có 5 người, trong đó có một người Việt Nam, đã lái chiếc bè này bằng cách điều chỉnh độ nông sâu của 10 chiếc xiếm. Họ đã hải hành qua 5,500 hải lý, tức là gần hết hải trình xuyên Thái Bình Dương 6,500 hải lý thì chiếc bè bị bể. Bè của Tim Severin 8 - Những hải lộ thời Hậu Băng Đá. Thủy vận là yếu tố thiết yếu cho nền văn minh nhân loại. Âu Á xem ra khó gặp gỡ nhau, nếu không nhờ những cánh buồm no gió. Và nếu không có bánh lái gắn vào đuôi tàu thuyền, Mỹ Châu có thể vẫn còn là lục địa xa lạ đối với nhân loại sinh sống tại Cựu lục địa. 91 Một kiến giải sai về nguồn gốc dân tộc. Thứ năm 31/07/2014 Phản biện cuốn sách "Nguồn gốc người Việt - Mường", Tạ Đức, NXB Tri thức, 2013. Bước sang thế kỉ 21, khoa học đã đi được những bước dài,nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện, khẳng định tiến trình lịch sử chân thực của phương Đông với chiều hướng: Con người xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam rồi đem văn hóa đá mới, văn hóa nông nghiệp lan tỏa ra châu Á và thế giới. Thật khó hiểu là vì sao các nhà khoa bảng trong nước dường như không biết đến chuyển biến động trời này của trí tuệ nhân loại, để vẫn tự cầm tù trong những quan niệm vừa thực dân vừa ngu dân của quá khứ?! Kéo dài thêm sai lầm của những người đi trước, sách của ông Tạ Đức không chỉ trái ngược với thực tế lịch sử mà còn đẩy khoa học nhân văn Việt Nam thụt lùi một nửa thế kỷ! Không những thế, do phủ định nguồn gốc bản địa của con người và văn hóa Việt, nó gây hoang mang, làm nản lòng những ai đang gom nhặt chắt chiu từng mảnh vụn của quá khứ, khôi phục gia tài lịch sử chân thực của dân tộc. 850 trang sách khổ to: Nguồn gốc người Việt - người Mường* là kết quả mười năm làm việc của ông Tạ Đức. Thật đáng nể phục về khối tư liệu đồ sộ được đưa vào sách. Khác nhiều đồng nghiệp, tác giả chấp nhận An Dương Vương là người Thục. Những trang viết đòi lại vị trí chính thống của nhà Triệu trong sử Việt thật xác đáng và thuyết phục. 182
TÓM LẠI . Qua các bài trinh bày nêu trên, chúng tôi có thể kết luận như sau : 1. Việt Nam đã có mội di truyền văn minh rực rỡ cổ xưa, với hơn bốn ngàn năm văn hiến, và đã trở thành một dân tộc thông minh sáng tạo. Nên khi ra hải ngoại gặp địa bàn thuận lợi, các người Việt đã thành công vẻ vang mau chóng trên khắp thế giới, đến nay trong thời gian gần 40 năm. 2. Nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã xuất hiện lâu đời ở Bắc Việt. Là một dân tộc thông minh sáng tạo, có một truyền thống oai hung chống giặc xâm lăng, có nền văn hóa dân tộc tinh hoa, với văn chương nghệ thuật kỳ tài, đã đem lại đời sống hạnh phúc thành công yên vui cho dân tộc Việt. Nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã được chứng minh do di truyền học. Tuy nhiên, trên sử liệu chưa được công bố, còn chờ kiểm chúng kiện toàn. Nhưng dù sao, những thành quả về di truyền văn minh và nguồn gốc của dân tộc dất nước Việt Nam đã được ghi nhận như trên. Vậy, dân tộc Việt Nam thật được hãnh diện về di truyền văn minh rực rỡ của nguồn gốc dân tôc đất nước Việt Nam. 181 Tuy vậy còn có nhiều khía cạnh quan trọng hơn nữa về việc chuyển vận trên biển, đặc biệt ngay trong buổi bình minh của văn minh nhân loại. Năm 1944, R. Buckminster Fuller cho ra mắt một tập tài liệu nhan đề 'Fluid Geography' căn cứ vào những quan sát và kinh nghiệm của nhiều năm lái thuyền buồm. Fuller tuyên bố đã khám phá ra những hải lộ con người từng sử dụng hàng chục ngàn năm trước. Những kết quả nghiên cứu này xem như rất lạ vào thời đó và vẫn còn được coi là mới đến hôm nay. Bản đồ Thế Giới từ 25,000 BC đến 5000 BC (Genographic project) Vào cuối thời Băng Đá, nước biển dâng lên, đồng bằng Sunda bị ngập lụt, theo Meacham, dân cư những vùng thấp chạy lên những vùng đất cao hơn. Dân Việt theo các dòng Hồng Hà (sông Hồng), Tây Giang, Dương Tử lập nghiệp tại vùng Đông Á. Theo Buckminster Fuller, làn sóng di dân cũng đã dùng thuyền bè đi xa tới các đảo Thái Bình Dương, phía Tây qua tận Phi Châu. Tóm tắt các hải lộ di dân của Fuller như sau: 92
- Thế hệ đầu tiên của người đi biển Đông Nam Á, dùng bè thả trôi từ Biển Đông theo những dòng hải lưu đi dọc bờ biển đến những nơi thuận tiện trong vùng. - Thế hệ thứ hai biết dùng buồm vuông loại căn bản chạy xuôi theo mùa gió Tây Nam vào mùa Hạ và Đông Bắc vào mùa Đông, đến bờ biển Trung Hoa và các đảo Nhật Bản. Thế hệ sau nữa, khi biết dùng buồm chạy vát có khả năng đi ngược chiều gió để hải hành đi khắp nơi. Trong giai đoạn này, các loại thuyền hai thân hay có thân phụ outriggers ra đời. Người Đông Nam Á mở ra những hải lộ đi các nơi trên hai đại dương Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trên Ấn Độ Dương, người Đông Nam Á đã đi hết con đường cho đến tận biển Ba Tư và Địa Trung Hải. Thuyết Buckminster Fuller về hải lộ phân tán dân cư: Khi nước biển dâng cao, từ Biển Đông di dân đi ra khắp nơi theo các giai đoạn phát triển của thuyền bè, buồm, xiếm... Hỗ trợ cho thuyết này là thuyết của Paul Rivet .Nhà ngôn ngữ học này có lẽ là học giả kiên trì nhất trong việc cố gắng thuyết phục mọi người tin tưởng nơi chứng cớ ngôn ngữ khi muốn đi tìm sự thực về mối giao tiếp giữa Cựu và Tân thế giới. 93 4. Bằng chứng phân tử và di truyền học cho thấy, người Việt có sự đa dạng di truyền lớn nhất trong số cư dân Đông Nam Á và Đông Á, chứng tỏ họ thuộc về nhóm cư dân lâu đời nhất trên vùng đất rộng lớn này. 5. Không có bằng chứng nhân chủng học phân tử cho giả thuyết người Việt có nguồn gốc từ những người thiên di phương Bắc thời văn hóa Đông Sơn. Có lẽ sự hòa huyết giữa người bản địa và người thiên di chỉ xẩy ra rõ rệt từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất. 6. Trong lúc chờ đợi bằng chứng nhân chủng học phân tử về sự thiên di của người Bách Việt Hoa Nam, cần xem xét sự tương đồng về văn hóa vật thể và phi vật thể giữa Hoa Nam và Việt Nam thời văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn chủ yếu trên các khía cạnh giao lưu và tiếp biến văn hóa. Tài liệu tham khảo: 1. Wells S, Available online at: genographic/nationalgeographic.com/About; Retrieved on June 1rst, 2014 2. Hà Văn Tấn (1998), Theo dấu các văn hóa cổ, NXB Xã hội, trang 335-401 3. Nguồn gốc các dân tộc Việt Nam, Trên trang mạng: vi.wikipedia.org/wiki/Nguồn_gốc_các_ dân_ tộc_Việt_Nam; Truy cập ngày 01/06/2014 4. Tạ Đức (2013), Nguồn gốc người Việt - người Mường, NXB Tri thức, trang 13 5. Tạ Đức (2013), sđd, trang 394 6. Hà Văn Tấn (1998), sđd, trang 753-765 7. Trần Trọng Kim (2003), Việt Nam sử lược, NXB Đà Nẵng, trang 30 180
Hình 3:Bản đồ các làn sóng Nam tiến của người Hoa Kết luận: 1. Ngược với quan niệm truyền thống về nguồn gốc phương Bắc, đại chủng Mongoloid hoàn chỉnh chỉ xuất hiện khoảng 10.000 trước tại cực nam Hoa Nam và Đông Nam Á. Các bằng chứng di truyền học và kiểu răng cũng cho thấy, chủng Mongoloid phương Bắc có nguồn gốc từ chủng Mongoloid phương Nam. 2. Không phải lưu vực Dương Tử là nơi phát tích nông nghiệp, mà cực nam Hoa Nam (lưu vực Tây Giang, Quảng Tây) mới là nơi thuần hóa lúa nước đầu tiên trên thế giới, cũng khoảng 10.000 năm trước. 3. Sự thiên di của những người nông dân trồng lúa nước từ Nam lên Bắc phù hợp với sự lan tỏa các dấu gien tại Trung Quốc, như các nhà khoa học tại Đại học Fudan, Thượng Hải, trong Dự án bản đồ gien của Hội địa lý quốc gia Mỹ 2005 - 2010, và Tổ chức bộ gien người HUGO 2009, đã chứng tỏ179 Trong những công trình nghiên cứu của Rivet, người ta lưu tâm tới một khám phá hoàn toàn mới lạ về tầm quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và hàng hải. Sau khi minh chứng rằng có nhiều giống dân đã "khám phá" Mỹ Châu trước Kha luân Bố, Rivet căn cứ vào phương pháp từ nguyên ngữ học để đưa ra thuyết sau đây: "Từ trung tâm vùng Đông Nam Á, một thứ ngôn ngữ được truyền bá đi bằng đường hàng hải đến khắp nơi như Nhật Bản, Tasmania, Địa trung Hải, Phi Châu và Mỹ Châu". Cuốn sách này lấy những từ ngữ Sumérien làm mốc rồi tìm một chuỗi danh từ tương đương của các thứ tiếng Melanesian, Polynesian, Indonesian, Munda, Mon-Khmer (Việt Nam), Australian, Tasmanian và Ainu để so sánh và đi đến kết luận rằng Đông Nam Á chính là nơi xuất xứ những chuỗi từ ngữ đó. 9- Nhớ về các chuyến vạn lý xuyên dương Chúng ta đồng ý với học giả Buckminster Fuller trong câu phát biểu có tính chất triết lý của Ông như sau: những dân tộc Đông Nam Á đứng biệt lập với những giống dân khác vì họ được thiên nhiên ban phát cho cái bản năng của dân nước, dân thuyền. Họ đã từng nắm được chân lý về sự kết hợp nhẹ nhàng trong các kiến trúc (principle of lightweight structural tensioning) áp dụng vào đời sống. Nền văn học dân tộc, theo đúng nghiã phải phản ảnh các sinh hoạt của dân tộc ấy. Tuy vậy văn học nước ta đã có một khoảng trống quá lớn về Hàng hải. Ngày xưa, nền văn hoá "Nước" tiên tiến đã khởi sự tại vùng quê hương chúng ta, cho đến nay, sinh hoạt sông biển vẫn tiếp tục quan trọng biết nhường nào. Vũ Hữu San Doremon360 94
C. TÌM HIỂU DI TRUYỀN VĂN MINH DÂN TỘC VIỆT QUA NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI NHẤT VỀ KHẢO CỔ. VÙNG ĐẤT BỊ NGẬP CHÌM Ở BIỂN ĐÔNG. (tức Vùng Sundaland trong khoanh tròn) Kim tự tháp Yonaguni (a) địa danh Đơng Sơn Tượng khổng lồ đang làm dở dang VÙNG SUNDALAND ở đảo Phục Sinh. Vào năm 1986, Kihachiro Aratake một dive tour operation người Nhật, đã phát hiện ra kim tự tháp nằm dưới vùng biển Yonaguni (thuộc quần đảo Okinawa Nhật, gần Đài Loan), nên được gọi là kim tự tháp Yonaguni. Kim tự tháp loại bậc thang Kim tự tháp Ai Cập trước thời Kheops. thời Kheops Từ đó, các nhà khảo cổ đã khám phá ra vùng đất bị ngập chìm ở biển Đông, ngang Đông Sơn, Thanh Hóa Việt Nam, do trận Đại hồng thủy xảy ra cách nay khoảng 10 ngàn năm, đã có những chứng tích một thành phố của dân tộc văn minh rực rỡ cổ xưa, điển hình là kim tự tháp Yonaguni loại bậc thang cổ nhất, và một số công trình khác như tượng khổng lồ giống tượng ở đảo Phục sinh, đang làm dở dang, được phát hiện dưới biển gần Đài Loan. 95 lan tỏa đó (hình 2). Có sự đa dạng di truyền lớn nhất trong các cư dân Đông Nam Á và Đông Á, người Việt chính là những cư dân đầu tiên đặt chân tới vùng phát tích đại chủng Mongoloid này. Giả thuyết này cho thấy, quan niệm người Việt bắt nguồn từ người Bách Việt phía nam Dương Tử có lẽ sai sự thật. Theo quan niệm đó thì người Việt không thể có sự đa dạng di truyền lớn hơn so với người Hoa Nam ven biển và người Hoa Nam tại Trường Sa, như các nghiên cứu của Đại học Emory, Mỹ, và Viện nhân chủng học tiến hóa Max Planck, Đức, đã chứng tỏ. Cần nhấn mạnh rằng, quá trình Nam tiến chỉ xẩy ra mạnh mẽ sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc năm 221 trước CN, đặc biệt sau khi nhà Hán thay thế nhà Tần. Các nhà khoa học Đại học Fudan cũng nhận thấy ba làn sóng chính trong các thời kỳ 265 - 316, 618 - 907 và 1127 - 1279 CN, do chiến tranh và nạn đói (hình 3)30. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa thấy bằng chứng nhân chủng học phân tử ủng hộ sự thiên di của các tộc người ngữ hệ Nam Á từ ven biển Hoa Nam xuống Việt Nam 4.000 năm trước, cũng như từ giữa Hoa Nam xuống Việt Nam 2.700 năm trước, như Tạ Đức giả thuyết. Trong lúc chưa có bằng chứng phân tử và di truyền về các dòng thiên di như vậy, có lẽ nên xem xét sự tương đồng về văn hóa vật thể và phi vật thể giữa Hoa Nam và Việt Nam thời văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn chủ yếu trên các khía cạnh giao lưu và tiếp biến văn hóa. Sự đa dạng di truyền của người Việt lớn hơn của người Hoa Nam và Hoa Bắc, bao gồm cả các tộc ít người, cũng cho thấy, sự hòa huyết giữa người phương Bắc và người Việt chỉ góp một phần nhỏ vào vốn gien người Việt hiện đại và có lẽ chỉ xẩy ra từ thời Bắc thuộc lần thứ nhất, sau khi An Dương Vương mất nước năm 179 trước CN. Theo cách nói của Trần Trọng Kim thì sau khi lập nước Nam Việt, Triệu Đà đã “đem văn minh nước Tàu sang truyền bá ở phương Nam, cho nên từ đó về sau người nước mình đều nhiễm cái văn minh ấy”31. 178
Và như vậy theo nhà ngôn ngữ mà tài năng được đánh giá là dị thường, tiếng Việt có thể là một trong những ngôn ngữ cổ nhất phía Đông lục địa Á - Âu, khi còn giữ được những vang vọng mơ hồ của tiếng nói chung của cả loài người từ 50.000 năm trước? 9. Giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt: Từ những bằng chứng về nhân chủng học phân tử, về nguồn gốc đại chủng Mongoloid và về nơi thuần hóa lúa nước đầu tiên, cũng như giả thuyết Greenberg về tiếng vọng của ngôn ngữ nguyên thủy, xin đưa ra một giả thuyết mới về nguồn gốc người Việt như sau. Khoảng 45.000 năm trước, người hiện đại với nước da đen nguyên thủy đã tới Việt Nam theo làn sóng thiên di thứ nhất; họ góp khoảng 20% vào vốn gien người Việt hiện tại. Khoảng 30.000 năm trước, những người thiên di thuộc làn sóng thứ hai men theo rặng Himalaya để tới Bắc Việt Nam và nhiều nơi khác tại Đông Nam Á, cũng như Vân Nam và Quảng Tây (nơi xuất hiện người hiện đại đầu tiên tại Trung Quốc). Họ có phần đóng góp khoảng 80% trong vốn gien người Việt hiện nay. Qua quá trình tiến hóa lâu dài khoảng 35.000 - 20.000 năm, màu da và hình thái của họ dần biến đổi để trở thành người nguyên Mongoloid (Proto-Mongoloid). Có lẽ người Việt cổ tại Cao Bằng và Lạng Sơn không phải là những người thuần hóa lúa nước đầu tiên khoảng 10.000 năm trước, nhưng do cùng nằm trong lưu vực Tây Giang, nên họ học được rất nhanh kỹ thuật tiên tiến đó. Và cùng cộng đồng Mongoloid mới hình thành trong một khu vực trải rộng từ cực nam Hoa Nam tới Đông Nam Á, người Việt cổ cũng có thể góp phần vào làn sóng Bắc tiến của các cư dân nông nghiệp, hình thành nên cộng đồng Đông Á ngày càng đông đúc. Các dòng gien đi từ Hoa Nam lên Hoa Bắc bắt đầu từ 10.000 năm trước (khám phá của các nhà khoa học tại Đại học Fudan Thượng Hải trong Dự án bản đồ gien của Hội địa lý quốc gia Mỹ) là bằng chứng xác thực của sự 177 Bác sĩ Stephen Oppenheimer người Anh tác giả quyển “Thiên đường ở phương Đông” gọi vùng đất này thuộc Đông Nam Á là vùng Sundaland (gồm có Bắc Việt, châu thổ sông Dương Tử, và một phần thềm lục địa biển Đông). Rồi Bác sĩ Stephen Oppenheimerđã nghiên cứu kỹ khảocổ : Về Thời đại Băng hà vùng Đơng Nam A. Cách nay khoảng 25 ngàn năm, trái đất bị băng gia. Vào giữa Kỷ Băng Hà, khoảng 12 ngàn năm, các vùng dưới đường xích đạo mới được phat triển, và vùng Đông Nam A là nơi phát triển mạnh nhất. Rồi vào cuối Kỷ Băng hà, cách nay khoảng 10 ngàn năm, một trận Đại hồng thủy xảy ra đã làm ngập lụt vùng Sundaland. Về những chứng tích khảo cổ. Qua những thành quả khảo cổ của Bà Madelaine Coloni người Pháp về văn hóa Hòa Bình, và qua các cuộc khảo cứu khai quật một số điạ điểm ở vùng Đông Nam Á từ 1965 đến 1966 của đoàn thám hiểm Đại Học Hawaii kết hợp với Thái Lan, do giáo sư Tiến sĩ Willhelm G. Solheim II thuộc Đại Học Hawaii hướng dẫn đã xác nhận : - Những người dân thuộc nền văn hóa Hòa Bình là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ (lúa nước) ở vùng Đông Nam Á sớm nhất khoảng 15000 BC, - Đồ đá thuộc nền Hòa Bình khoảng 20000 BC, - Văn hóa Long Sao (Lungshan) và Hòang Sao (Yanshao) của Trung Hoa đều thoát thai từ văn hóa Hòa Bình. Và trong quyển Agricultural Origins and Dispersals Mỹ C.O. Sauer viết : "Tôi đã chứng minh Ðông-Nam-A là cái nôi của nền nông nghiệp xưa nhất.” 96
Rồi với chứng tích kim tự tháp Yonaguni, và các bằng chứng nêu trên, Bác sĩ Stephen Oppenheimer đã cho rằng : Đông Nam Á (gồm có Miến Điện, Thái Lan, Lào. Căm Bốt, Việt Nam, và bán đảo Mã Lai) chính là cái nôi của nền văn minh nhân loại ngày nay. (Vấn đề này, hiện đang còn nhiều tranh cãi.) Qua sự trình bày nêu trên, dân Việt cổ là người Đông Nam Á cổ, đã sống ở vùng Sundaland thuộc Đông Nam Á. Khi vùng đất bị ngập lụt, dân Việt cổ một phần di cư ra đường biển (tứcLạc Long Quân đưa con xuống biển), và một phần di cư lên vùng Bắc Việt ( tức bà Âu Cơ đưa con lên núi). Rồi từ vùng núi, dân Việt cổ đã mở mang phát triển lên phương Bắc, và hợp thành Bách Việt. Sau bị Hán đánh phải chạy tản mác về phương Nam. Một số bộ lạc là Âu Việt và Lạc Việt đã trở về phương Nam và lập ra nước Việt Nam ngày nay. Như thế, Dân Việt Nam đã có di truyền văn minh cổ xưa rực rỡ lâu đời, đã trở thành dân tộc thông minh tài trí. Nên khi ra hải ngoại, gặp môi trường thuận lợi như diều gặp gió, những người Việt hải ngoại đã thành công vẻ vang mau trên khắp thế giới. Vậy, chúng ta hãy hãnh diện về di truyền văn minh rực rỡ cổ xưa của dân tộc và đất nước Việt Nam. 97 được thời điểm các ngôn ngữ Ấn - Âu bắt đầu chia tách khỏi ngôn ngữ nguyên thủy khoảng 8.700 năm trước, phù hợp với giả thuyết của Diamond và Bellwood về sự thiên di của những người nông dân đầu tiên tại vùng Lưỡi liềm phì nhiêu29. Với giới hạn xác định tuổi của ngôn ngữ không quá 10.000 năm trước, liệu các nhà ngữ học có thể khôi phục được tiếng nói của những người thiên di đầu tiên rời khỏi châu Phi hay không? Trong khi đa số giới nghiên cứu xem đó là điều bất khả thi thì Greenberg không nghĩ như vậy. Chính sự tồn tại của danh sách Swadesh cho thấy, một số từ có thể ít thay đổi hơn các từ khác. Theo nhà sinh học tiến hóa Pagel, trong tiếng Anh, các từ như mới, lưỡi, ở đâu, cái gì có thể có thời gian bán hủy (thời gian thay đổi một nửa) lớn hơn 13.000 năm. Bảy từ - tôi, chúng ta, ai, hai, ba, bốn, năm - còn ít thay đổi hơn nữa. Từ một có thời gian bán hủy 21.000 năm. Điều đó có nghĩa, nó có khả năng 22% không thay đổi sau 50.000 năm! Trong một bài giảng năm 1977, Greenberg cho rằng, ông tìm thấy một từ có thể là tiếng vọng của tiếng mẹ đẻ ban đầu từ 50.000 năm trước của cả loài người. Đó là nhóm các từ đồng âm dựa trên tập các ý tưởng một/ngón tay/chỉ và được dẫn xuất từ gốc *tik (dấu * ứng với tiền tố). Greenberg nói rằng, ông tìm thấy các đồng âm của *tik ít nhất trong một ngôn ngữ của mọi ngữ hệ trong cách phân loại của ông. Chẳng hạn trong siêu ngữ hệ Á - Âu (theo phân loại của Greenberg), các từ kiểu *tik trải từ digital trong tiếng Anh và daktulos trong tiếng Hy Lạp cho tới tiqik trong tiếng Eskimo. Chúng đều có nghĩa là “ngón trỏ”. Trong ngữ hệ Nile - Sahara, nhiều ngôn ngữ có cấu trúc t-k để chỉ từ “một”. Trong các ngôn ngữ Amerind của thổ dân châu Mỹ, cũng có nhiều từ cấu trúc kiểu “tik” để chỉ “ngón tay” hay “một mình”. Vậy trong ngữ hệ Nam Á có cấu trúc nguyên thủy đó hay không? Câu trả lời là có: tiếng Khmer có từ “tai” để chỉ “bàn tay”; còn trong tiếng Việt thì đó chính là “tay”! 176
chân họ là những nông dân nói tiếng Tày - Thái, như tiếng Lào và tiếng Thái. Làn sóng thứ ba là những người nói tiếng Hán - Tạng. Thứ tư là những người thuộc ngữ hệ phương Nam, tới Đài Loan 5.000 năm trước. Họ dong thuyền tới vùng Đa Đảo, và cuối cùng đặt chân tới New Zealand vào năm 1.200 CN. Tuy sai về vị trí địa lý (lưu vực Tây Giang chứ không phải lưu vực Dương Tử), nhưng trực giác đã cho phép Diamond và Bellwood đưa ra trình tự các làn sóng lan tỏa ngôn ngữ hoàn toàn phù hợp với những phát hiện về nhân chủng học phân tử và về nơi thuần hóa lúa nước gần mười năm sau. 8. Tiếng Việt lưu giữ được tiếng vọng của ngôn ngữ nguyên thủy 50.000 năm trước? Như đã trình bày, gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau. Với hệ gien, khoa học có thể xác định được tuổi của các dấu gien (nhờ các “đồng hồ phân tử”, là thời gian trung bình để xuất hiện một đột biến gien được di truyền cho thế hệ sau), do đó xác định được các con đường thiên di theo địa lý và theo thời gian. Tuy nhiên, giới ngữ học thiếu các phương pháp hữu hiệu để xác định tuổi của một ngôn ngữ. Một tiếp cận là đánh giá tốc độ thay đổi trong một ngữ hệ bằng cách phân tích sự tương tự trong từ vựng của hai ngôn ngữ, chẳng hạn đánh giá phần trăm các từ đồng âm mà hai nguôn ngữ cùng có (các từ đồng âm có chung một gốc, chẳng hạn apple (quả táo) trong tiếng Anh đồng âm với Apfel trong tiếng Đức, nhưng không đồng âm với pomme trong tiếng Pháp). Để so sánh, các nhà ngữ học dùng danh sách Swadesd, tên nhà khoa học phát minh ra phương pháp. Danh sách này bao gồm 100 từ ít chịu tác động của những biến động ngôn ngữ, như các từ về con số hay bộ phận cơ thể. Khi so sánh hai ngôn ngữ với nhau, nhà ngữ học xem xét tỷ lệ đồng âm của các từ trong danh sách, tỷ lệ đồng âm càng thấp thì hai ngôn ngữ càng xa cách nhau về mặt thời gian. Chẳng hạn tỷ lệ 5% tương ứng với thời gian chia tách 10.000 năm trước; trong khi tỷ lệ 86% tương ứng với chỉ 500 năm. Dùng phương pháp này, giới ngữ học tính 175 Sau đây một vài hình ảnh về kim tự tháp Yonaguni. (Hình 1) (Hình 2) 98
Hiện tại người ta vẫn đang nghiên cứu về nền văn minh này. Mình tự hỏi, liệu có mối liên hệ gì giữa những công trình này và văn minh của các dân tộc Đông Nam Á cổ trên thềm Nanhailand, trong đó có người Việt cổ. Một số địa chỉ web thông tin về đề tài này : http://members.toast.net/rjspina/Japan's%20Underwater http://www.morien-institute.org/yonaguni.html Một số ký tự khắc trên đá tại Yonaguni (Hình 3) 99 bảo vệ. Do các nhóm săn bắt - hái lượm có quy mô không thể quá vài trăm cá thể, nên việc kiểm soát nhân số là vấn đề cốt tử. Và ngôn ngữ là phương tiện hữu hiệu cho phép phát hiện một kẻ không mời khi người đó vừa mở miệng. Đó là lý do có rất nhiều ngữ giọng khác nhau, cho phép phân biệt thậm chí các nhóm người nói cùng một ngôn ngữ. (Sự đồng tiến hóa của gien và ngôn ngữ cũng cho thấy, kết luận của Tạ Đức về tiếng Việt - Mường chung không đi kèm với người Việt - Mường chung có lẽ không đúng sự thật). Điều đó dẫn tới các vùng ngôn ngữ lan tỏa và các vùng khảm ngôn ngữ. Nước Mỹ rộng lớn chỉ nói một ngôn ngữ; còn New Guinea, diện tích nhỏ hơn nhiều, nhưng có tới 1.200 ngôn ngữ. Các nhà ngữ học gọi vùng đủ rộng chủ yếu chỉ nói một ngôn ngữ là vùng lan tỏa; còn vùng phân chia thành nhiều vùng nhỏ, mỗi vùng đều có ngôn ngữ riêng, là vùng khảm. Các yếu tố biến vùng lan tỏa thành vùng khảm và ngược lại cũng chính là các yếu tố sắp xếp lịch sử và văn hóa. Khi vùng lan tỏa vỡ vụn thành vùng khảm, điều gì thúc đẩy vùng khảm biến đổi ngược lại? Có ba khả năng là thảm họa tự nhiên, sự xuất hiện của nông nghiệp và chiến tranh. Liên quan với nguồn gốc người Việt, hãy xem xét ảnh hưởng của cuộc cách mạng nông nghiệp lên sự tiến hóa ngôn ngữ. Các nhà khảo cổ Renfrew, Đại học Cambridge, Bellwood, Đại học quốc gia Úc tại Canberra, và nhà địa sinh học Diamond (tác giả bộ ba cuốn sách nổi tiếng Loài tinh tinh thứ ba; Súng, thép và vi trùng; và Sụp đổ; chúng đều đã được dịch ra tiếng Việt) cho rằng, từ các trung tâm phát tích nông nghiệp, những người nông dân sẽ lan tỏa ra xung quanh, mang theo ngôn ngữ của họ, do đó làm xuất hiện các vùng ngôn ngữ lan tỏa28. Chẳng hạn vùng Lưỡi liềm phì nhiêu Cận Đông là nơi phát sinh ít nhất hai đại ngữ hệ, hệ Ấn - Âu và hệ Á - Phi. Và vùng thuần hóa lúa nước đầu tiên phía Đông lục địa Á - Âu cũng là nơi lan tỏa không ít hơn bốn ngữ hệ. Đầu tiên, những người nói tiếng Nam Á, bao gồm 150 ngôn ngữ, như tiếng Việt và tiếng Khmer, lan tỏa khắp Đông Nam Á (và có thể một phần Hoa Nam). Theo 174
chính thống, nhưng lại hoàn toàn phù hợp với khám phá năm 2012 về nguồn gốc mới của lúa nước thuần hóa. Tuy những nghiên cứu phân tử và di truyền về người Việt còn tương đối ít, nhưng cũng có thể kết luận sơ bộ rằng, người Việt có nguồn gốc từ những người cổ đã cư ngụ lâu đời tại Việt Nam và họ thuộc nhóm những người đầu tiên thiên di tới Đông Nam Á. Và chỉ những nghiên cứu sau này mới có thể vẽ được bức tranh hoàn chỉnh hơn về nguồn gốc thực sự của người Việt. 7. Gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau: Chỉ đứng sau các bằng chứng di truyền học, ngôn ngữ có vai trò thiết yếu trong việc phân loại các tộc người và theo dõi sự tiến hóa của các nhóm cư dân gần gũi nhau về mặt nhân chủng. Điều đó đã được khẳng định sau các công trình của nhà ngữ học tài năng dị thường Josep H. Greenberg (vốn được đào tạo về nhân chủng học xã hội) và nhà di truyền học tiền phong CavalliSforza, cùng tại Đại học Stanford. Trước khi mất năm 2001 ở độ tuổi 86, Greenberg đã phân loại các ngôn ngữ trên toàn thế giới thành 14 ngữ hệ chính, ngoại trừ các ngôn ngữ Đông Nam Á (khi đồng nghiệp tới thăm trên giường bệnh, ông nói trong nước mắt rằng, điều đó khiến cho công trình ngôn ngữ thế giới của ông không thể hoàn thành25). Ông cũng đưa ra siêu ngữ hệ Á - Âu, cho phép tìm sự liên quan giữa các ngôn ngữ rất xa nhau, chẳng hạn tiếng Anh và tiếng Nhật. Các nhà ngôn ngữ không ủng hộ ông cho đến khi Cavalli-Sforza chứng tỏ rằng, các ngữ hệ chính của Greenberg hoàn toàn phù hợp với phân loại các chủng tộc trong nhân chủng học phân tử26 và với các bằng chứng khảo cổ27. Theo Cavalli-Sforza, gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau. Tại sao gien và ngôn ngữ tiến hóa cùng nhau? Theo nhà tâm lý học tiến hóa Dunbar, Đại học Liverpool, ngoài chức năng thực hiện và chuyển tải tư duy và truyền thông kinh điển, ngôn ngữ còn nhiều chức năng khác như chức năng kết nối các cá nhân trong một nhóm xã hội ngày càng lớn, chức năng giới tính (hấp dẫn bạn tình bằng giọng nói ấm áp, truyền cảm) hay chức năng 173 Quả thật nó làm chúng ta liên tưởng đến các hình khắc trên Bãi đá cổ Sapa dù nó rõ hơn (có lẽ vì được gìn giữ dưới biển hàng ngàn năm nay, không bị hư mòn bởi gió và ... con người ) Những phát hiện mới nhất về Kim Tự Tháp ngay thềm lục dịa Đông Nam Á - và Kim tự tháp Ai Cập (Có trước thời Keop) với Kim tự tháp châu Mỹ cho thấy chúng cùng một cội nguồn văn minh. Người ta sẽ phải thừa nhận một nền văn minh huyền vĩ đã từng tồn tại trên địa cầu . Và cuối cùng , người ta phải đi tìm dấu tích còn lại của những gía trị của nến văn minh đó. Họ sẽ phải quay về tìm ở nến văn minh Việt để nhân loại tiếp tục đi tới. Chỉ có nền văn minh Lạc Việt mới có thể làm sáng tỏ được những giá trị tuyệt vời của nên văn minh đã mất. Vì nền văn minh Lạc Việt chính là hậu duệ đích thực còn sót lại của nền văn minh Atlantis huyền vĩ. (Hình 4) 100